Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Thái Nguyên

Nghiên cứu - Trao đổi 15:05 | 13/02/2026
Các doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng có những đặc điểm hoạt động mang tính đặc thù, tác động trực tiếp đến việc tổ chức và vận hành kế toán quản trị. Những đặc điểm này ảnh hưởng đến việc ghi nhận, phân tích doanh thu, chi phí và đánh giá kết quả kinh doanh. Vì vậy, việc xem xét mức độ tác động của các đặc điểm kinh doanh đến kế toán quản trị tại các doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.

TS. Thái Thị Thái Nguyên, TS. Vũ Thị Quỳnh Chi

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

Email: Nguyentueba@gmail.com

Tóm tắt

Doanh nghiệp vật liệu xây dựng giữ vai trò quan trọng trong cung ứng đầu vào cho ngành xây dựng và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đặc thù hoạt động và biến động thị trường khiến công tác kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trở nên phức tạp. Nghiên cứu được thực hiện trước khi diễn ra việc sáp nhập đơn vị hành chính, thời điểm TP. Thái Nguyên vẫn là đơn vị hành chính độc lập, nhằm phân tích tác động của đặc điểm kinh doanh vật liệu xây dựng đến tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp trên địa bàn.

Từ khóa: Vật liệu xây dựng, kinh doanh, kế toán quản trị, doanh nghiệp.

Summary

The construction materials firm plays an important role in supplying inputs to the construction sector and driving economic growth. However, the unique characteristics of its operations and market fluctuations make the management accounting of revenues, costs, and business performance complex. The study was conducted before the administrative unit merger, when Thai Nguyen City was still an independent administrative unit, with the aim of analyzing the impact of the characteristics of the construction materials business on the organization of management accounting.

Keywords: Construction materials, business, management accounting, enterprises

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở và công trình công nghiệp không ngừng gia tăng, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của ngành kinh doanh vật liệu xây dựng (VLXD). Các doanh nghiệp VLXD không chỉ giữ vai trò cung ứng đầu vào thiết yếu cho hoạt động xây dựng mà còn góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực này với hàng hóa đa dạng, khối lượng lớn, chi phí lưu kho và vận chuyển cao cùng với sự biến động mạnh của giá cả thị trường nên công tác kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh (KQKD) gặp nhiều thách thức. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh VLXD đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và KQKD tại các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn Thái Nguyên là cần thiết, nhằm hỗ trợ các DN nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát chi phí và tối ưu hóa lợi nhuận.

ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬT LIỆU XÂY DỰNG

Kết quả khảo sát 183 DN kinh doanh VLXD trên địa bàn TP. Thái Nguyên trước khi diễn ra việc sáp nhập đơn vị hành chính cho thấy một số đặc điểm cơ bản như sau:

Về loại hình DN, các DN được khảo sát chủ yếu hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) với số lượng: 142 DN/183 DN, chiếm tỷ trọng lớn nhất với 77,6% tổng số DN. Tiếp theo là công ty cổ phần với số lượng: 30 DN/183 DN, chiếm 16,4%, và DN tư nhân với số lượng: 11 DN/183 DN chiếm tỷ lệ thấp nhất với 6%. Cơ cấu này cho thấy loại hình công ty TNHH chiếm ưu thế rõ rệt trong lĩnh vực kinh doanh VLXD trên địa bàn TP. Thái Nguyên, phản ánh xu hướng lựa chọn mô hình pháp lý có tính linh hoạt, phù hợp với quy mô vốn và năng lực quản lý của các DN địa phương.

Xét về quy mô lao động, phần lớn các DN kinh doanh VLXD thuộc nhóm DN siêu nhỏ. Cụ thể, có 156/183 DN, tương đương 85,2%, sử dụng dưới 10 lao động. Số DN có quy mô nhỏ (từ 10 đến dưới 100 lao động) chỉ chiếm 14,8%, tương ứng với 27 DN. Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh VLXD tại TP. Thái Nguyên trước đây chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, quy mô hạn chế, mức độ chuyên môn hóa và khả năng mở rộng sản xuất - kinh doanh còn tương đối khiêm tốn.

Đặc điểm về sản phẩm và hàng hóa kinh doanh

Trong các DN kinh doanh VLXD, hàng hóa chủ yếu gồm các sản phẩm có khối lượng lớn, cồng kềnh và giá trị cao như xi măng, sắt thép… nên đòi hỏi yêu cầu đặc thù trong tổ chức kinh doanh. Đặc điểm này làm tăng nhu cầu kho bãi, vận chuyển và nhân lực bốc xếp, kéo theo chi phí lưu kho và logistics cao. Bên cạnh đó, nhiều loại VLXD dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết, nếu bảo quản không tốt sẽ gây hao hụt, giảm chất lượng và tổn thất kinh tế. Nhu cầu VLXD lại phụ thuộc vào tiến độ các công trình khiến DN khó linh hoạt khi thị trường biến động, làm tăng rủi ro tồn kho. Do giá trị giao dịch lớn, DN phải quản lý chặt chẽ số lượng, chất lượng và giá trị hàng hóa - những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác kế toán hàng tồn kho (HTK) và hiệu quả sử dụng vốn.

Bảng 1: Tình hình hàng tồn kho/tài sản của DN kinh doanh VLXD

Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Thái Nguyên

Nguồn: BCTC năm 2023 của các DN trên địa bàn TP. Thái Nguyên và tổng hợp của tác giả

Số liệu kế toán của 10 DN kinh doanh VLXD tại TP. Thái Nguyên có giá trị HTK đầu, cuối năm 2023 và tổng tài sản (TTS) tương ứng cao nhất cho thấy, HTK chiếm tỷ trọng lớn trong TTS, nhiều DN vượt 50%. Giá trị HTK cuối năm dao động từ 16,8 đến 67,6 tỷ đồng, phản ánh nhu cầu dự trữ lớn để đáp ứng tiến độ thi công và mức độ chiếm dụng vốn lưu động cao. Biến động HTK giữa đầu và cuối năm cho thấy khác biệt trong chiến lược dự trữ và quản trị tồn kho. Điều này thể hiện rõ đặc thù của ngành VLXD với hàng hóa giá trị lớn, khó bảo quản và phụ thuộc vào thị trường xây dựng.

Đặc điểm về thị trường tiêu thụ và khách hàng

Thị trường VLXD tại TP. Thái Nguyên mang tính trung gian, phụ thuộc vào chu kỳ đầu tư và tiến độ công trình. Hoạt động bán hàng chủ yếu qua hợp đồng lớn, giao hàng nhiều đợt, nên doanh thu chịu ảnh hưởng bởi quản lý hợp đồng, logistics và tiến độ thi công. Các yếu tố như chậm tiến độ hay gián đoạn vốn dễ gây tồn kho và giảm hiệu quả kinh doanh. Khách hàng chủ yếu là nhà thầu, chủ đầu tư với hình thức bán chịu phổ biến, thanh toán chậm theo tiến độ dự án, khiến công nợ kéo dài và rủi ro tài chính cao, đặc biệt ở DN nhỏ và vừa.

Bảng 2: Tình hình Doanh thu/Nợ phải thu khách hàng của DN kinh doanh VLXD

Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Thái Nguyên

Nguồn: BCTC năm 2023 của các DN trên địa bàn TP. Thái Nguyên và tổng hợp của tác giả

10 doanh nghiệp kinh doanh VLXD có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2023 cao nhất trên địa bàn được lựa chọn để phân tích cùng với số liệu công nợ phải thu khách hàng tương ứng. Số liệu doanh thu dao động từ khoảng 62,5 tỷ đồng đến 1.397,5 tỷ đồng, trong khi nợ phải thu cuối kỳ tương ứng nằm trong khoảng 2,26 tỷ đồng đến 213,13 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ phải thu trên doanh thu có sự chênh lệch lớn giữa các DN, từ mức rất thấp khoảng 2% đến mức rất cao trên 80%, cho thấy hình thức bán chịu và thanh toán theo tiến độ công trình là phổ biến trong ngành. Thực trạng này phản ánh thời gian thu hồi công nợ kéo dài và rủi ro tín dụng khách hàng hiện hữu, qua đó khẳng định hoạt động tiêu thụ VLXD không chỉ phụ thuộc vào quy mô doanh thu mà còn gắn chặt với quản lý hợp đồng và kiểm soát công nợ, có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền và hiệu quả tài chính của DN.

Đặc điểm về vốn kinh doanh và cơ cấu tài sản

Trong cơ cấu tài sản của DN, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, chủ yếu là HTK và các khoản phải thu. Do đặc thù thị trường mang tính mùa vụ và phụ thuộc tiến độ dự án, DN phải duy trì lượng tồn kho lớn để đảm bảo cung ứng, song điều này làm tăng chi phí tài chính, lưu kho và rủi ro giảm giá khi thị trường biến động.

Bảng 3: Tình hình số vòng quay HTK và số ngày tồn kho bình quân của DN kinh doanh VLXD

Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Thái Nguyên

Nguồn: BCTC năm 2023 của các DN trên địa bàn TP. Thái Nguyên và tổng hợp của tác giả

Từ số liệu HTK bình quân cao nhất của 10 DN kinh doanh VLXD trên địa bàn TP Thái Nguyên năm 2023 và Bảng 3 cho thấy: Số ngày tồn kho bình quân giữa các DN VLXD chênh lệch rất lớn, từ mức rất thấp (≈5 ngày) đến rất cao (trên 400-900 ngày). Điều này phản ánh sự khác biệt rõ rệt trong hiệu quả quản lý tồn kho và mức độ ứ đọng vốn lưu động, là cơ sở quan trọng để phân tích tác động đến khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời của DN.

Đặc điểm về giá cả và rủi ro thị trường

Giá cả và rủi ro thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của DN VLXD tại TP. Thái Nguyên. Do biến động mạnh của giá nguyên liệu, năng lượng và vận chuyển, các mặt hàng như thép, xi măng, cát, đá thường khó dự báo, làm tăng rủi ro giảm giá tồn kho và ảnh hưởng đến lợi nhuận. Việc duy trì tồn kho lớn để đáp ứng nhu cầu xây dựng càng làm tác động này rõ hơn, thể hiện qua biến động giá vốn, dự phòng giảm giá và biên lợi nhuận gộp.

Bảng 4: Tỷ lệ giá vốn hàng bán/doanh thu bán hàng của DN kinh doanh VLXD trên địa bàn TPTN

Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Thái Nguyên

Nguồn: BCTC năm 2023 của các DN trên địa bàn TP. Thái Nguyên và tổng hợp của tác giả

Tỷ lệ giá vốn hàng bán/doanh thu của 10 DN VLXD tại TP. Thái Nguyên duy trì ở mức rất cao, từ 92,5% đến gần 100%, cho thấy biên lợi nhuận gộp thấp và cạnh tranh gay gắt. Nguyên nhân là do giá đầu vào, chi phí vận chuyển và năng lượng biến động mạnh, trong khi giá bán khó điều chỉnh. Chênh lệch giữa các DN phản ánh khác biệt về quy mô, thời điểm nhập hàng và quản trị tồn kho. Điều này cho thấy rủi ro thị trường cao, đòi hỏi nâng cao năng lực quản trị chi phí và HTK.

Đặc điểm về chi phí và hiệu quả kinh doanh

Tại các DN VLXD ở TP. Thái Nguyên, chi phí mua hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất do hàng hóa có giá trị cao và phụ thuộc vào nguồn cung từ nhà sản xuất. Chi phí vận chuyển, bốc xếp và lưu kho cũng cao vì hàng hóa cồng kềnh và cần kho bãi lớn, trong khi chi phí nhân công trực tiếp thấp. Cạnh tranh gay gắt và giá bán khó điều chỉnh khiến biên lợi nhuận gộp thấp, nên hiệu quả kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào khả năng kiểm soát chi phí, quản trị vốn lưu động và tối ưu hóa logistics, tồn kho và nhà cung cấp.

Bảng 5: Tỷ lệ Chi phí quản lý kinh doanh/doanh thu bán hàng của DN kinh doanh VLXD

Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng đến kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Thái Nguyên

Nguồn: BCTC năm 2023 của các DN trên địa bàn TP. Thái Nguyên và tổng hợp của tác giả

Tỷ lệ chi phí quản lý kinh doanh trên doanh thu bán hàng của các DN VLXD dao động trong khoảng từ 0,06% đến 4,06%, phản ánh sự khác biệt đáng kể về quy mô hoạt động, mức độ tổ chức bộ máy quản lý và hiệu quả kiểm soát chi phí. Các DN có doanh thu lớn thường duy trì tỷ lệ chi phí quản lý kinh doanh/Doanh thu ở mức thấp, cho thấy lợi thế kinh tế theo quy mô trong quản lý. Ngược lại, một số DN có quy mô vừa và nhỏ ghi nhận tỷ lệ chi phí quản lý cao hơn, làm gia tăng áp lực lên hiệu quả kinh doanh trong điều kiện biên lợi nhuận ngành VLXD vốn thấp.

ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

Các DN kinh doanh VLXD có những đặc điểm hoạt động mang tính đặc thù, tác động trực tiếp đến việc tổ chức và vận hành kế toán quản trị (KTQT). Những đặc điểm này ảnh hưởng đến việc ghi nhận, phân tích doanh thu, chi phí và đánh giá KQKD. Vì vậy, việc xem xét mức độ tác động của các đặc điểm kinh doanh đến KTQT tại các DN VLXD trên địa bàn TP. Thái Nguyên là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.

Thứ nhất, sản phẩm VLXD có đặc tính cồng kềnh, khối lượng lớn, chủng loại đa dạng và dễ hao hụt, đặt ra yêu cầu cao đối với quản trị hàng hóa và giá vốn. KTQT cần theo dõi chi tiết doanh thu, giá vốn và lãi gộp theo từng nhóm vật liệu, kho và tuyến giao hàng. Giá vốn phải được xác định trên cơ sở phân bổ hợp lý các chi phí vận chuyển, bốc xếp, hao hụt và lưu kho.

Thứ hai, khách hàng chủ yếu là nhà thầu, DN bất động sản và hộ xây dựng, thường mua khối lượng lớn và thanh toán chậm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quản trị doanh thu và công nợ phải thu. KTQT cần phân tích doanh thu theo khách hàng, hợp đồng, thời hạn thanh toán và kiểm soát vòng quay khoản phải thu nhằm hạn chế rủi ro nợ xấu.

Thứ ba, DN VLXD có tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao, trong đó HTK và phải thu chiếm phần lớn tổng tài sản. Quản trị vốn lưu động trở thành trọng tâm của KTQT. Việc phân tích tồn kho, vòng quay HTK và nhu cầu vốn lưu động giúp đánh giá tác động đến dòng tiền và KQKD.

Thứ tư, giá VLXD biến động mạnh theo chi phí đầu vào và chu kỳ thị trường xây dựng, trong khi khả năng điều chỉnh giá bán bị hạn chế do cạnh tranh. Điều này làm gia tăng rủi ro biên lợi nhuận. KTQT cần phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn và đánh giá tác động của biến động giá đến lợi nhuận dự kiến.

Thứ năm, giá vốn hàng bán và chi phí logistics chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, trong khi chi phí nhân công trực tiếp thấp. Với biên lợi nhuận thấp, hiệu quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào khả năng kiểm soát chi phí. KTQT cần phân tích chi phí theo chức năng, hành vi và đối tượng chịu chi phí để hỗ trợ ra quyết định tiết giảm chi phí.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn TP. Thái Nguyên còn là đơn vị hành chính độc lập, do đó các kết quả phản ánh sát thực điều kiện hoạt động của doanh nghiệp VLXD tại thời điểm trước sáp nhập. Hiện nay, sau khi đơn vị hành chính này đã được sáp nhập và không còn tồn tại với tư cách một thành phố độc lập, bối cảnh kinh tế - quản lý trên địa bàn đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là về phạm vi thị trường, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và sự điều phối chính sách phát triển vùng. Tuy nhiên, những phân tích về đặc điểm kinh doanh, cơ cấu vốn, thị trường tiêu thụ và tổ chức kế toán quản trị trong nghiên cứu vẫn giữ nguyên giá trị thực tiễn, là cơ sở tham chiếu hữu ích cho việc tổ chức lại hệ thống kế toán quản trị trong điều kiện mới. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp VLXD cần chủ động thích ứng, nâng cao năng lực quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, mở rộng liên kết vùng và hoàn thiện mô hình kế toán quản trị theo hướng hiện đại.

Bài báo là sản phẩm của đề tài NCKH cấp cơ sở: Kế toán doanh thu tại các doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn TP. Thái Nguyên - Mã số: CS2025-AC-01.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Abdel-Kader, M., & Luther, R. (2006). IFAC’s conception of the evolution of management accounting: A research note. Advances in Management Accounting, 15, 229-247.

2. Abdel-Kader, M., & Luther, R. (2008). The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis. The British Accounting Review, 40(1), 2-27. https://doi.org/10.1016/j.bar.2007.11.003

3. Bộ Tài chính. (2006). Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp. Hà Nội.

4. Đoàn Ngọc Quế, Đào Tất Thắng, & Lê Đình Trực. (2013). Kế toán quản trị. Nhà xuất bản Kinh tế TP Hồ Chí Minh.

5. Lê Thế Anh. (2017). Xây dựng mô hình KTQT chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.

Ngày nhận bài: 24/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/2/2026; Ngày duyệt đăng: 10/2/2026

Các tin khác

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên thông dữ liệu, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của Estonia và Hàn Quốc trong xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ và quản trị dữ liệu công. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dữ liệu công hiệu quả tại Việt Nam.
Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Kết quả phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Số hóa giúp ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí và tái cấu trúc dịch vụ tài chính.
Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Nghiên cứu phân tích tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại các thành phố Việt Nam giai đoạn 2012-2024. Kết quả cho thấy phân cấp chi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng thể chế cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Tổng hợp các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số cho thấy các khoảng trống: Các nhóm nguồn lực công nghệ, tổ chức và cá nhân phần lớn được nghiên cứu độc lập; nguồn lực tổ chức số chưa được tích hợp thành khái niệm bậc cao; vai trò trung gian của vốn tâm lý giữa cả 2 nhóm nguồn lực và sự gắn kết với công việc của nhân viên chưa được kiểm định đồng thời; và bằng chứng tại doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh, còn thiếu vắng.