Hành vi người dùng và hệ sinh thái hỗ trợ trong nền kinh tế chia sẻ: Bằng chứng thực nghiệm từ tỉnh Thái Nguyên
Nguyễn Thành Vũ
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, Email: [email protected]
Nguyễn Thị Hương (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, Email: [email protected]
Phạm Thị Thu Hoài
Trường Đại học Thương mại, Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích hành vi người dùng và các yếu tố hệ sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế chia sẻ tại tỉnh Thái Nguyên. Dựa trên khảo sát 200 người dân, kết quả cho thấy người dân tham gia kinh tế chia sẻ chủ yếu vì lợi ích kinh tế như tiết kiệm chi phí và tiện lợi, trong khi niềm tin và năng lực số còn là rào cản lớn. Nhận thức về lợi ích xã hội và môi trường còn hạn chế, song đã xuất hiện xu hướng tiêu dùng bền vững. Nghiên cứu khuyến nghị Thái Nguyên cần hoàn thiện hạ tầng số, khung pháp lý và tăng cường niềm tin người dùng để thúc đẩy kinh tế chia sẻ phát triển bền vững.
Từ khóa: Kinh tế chia sẻ, hành vi người dùng, niềm tin, hệ sinh thái khởi nghiệp, Thái Nguyên
Summary
The study analyzes user behavior and ecosystem factors influencing the development of the sharing economy in Thai Nguyen province. Based on a survey of 200 residents, the results indicate that people participate in the sharing economy mainly for economic benefits such as cost savings and convenience, while trust and digital capacity remain major barriers. Awareness of social and environmental benefits is still limited, although there is an emerging trend toward sustainable consumption. The study recommends that Thai Nguyen improve its digital infrastructure, legal framework and user trust to promote the sustainable development of the sharing economy.
Keywords: Sharing economy, user behavior, trust, startup ecosystem, Thai Nguyen
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh tại Việt Nam, mô hình kinh tế chia sẻ (KTCS) đang trở thành một cấu phần quan trọng của tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và tối ưu hóa nguồn lực. Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra vai trò của KTCS trong việc giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và thúc đẩy các mô hình kinh doanh nền tảng (Botsman & Rogers, 2010; Sundararajan, 2016). Tại Việt Nam, sự phổ biến của các dịch vụ như gọi xe công nghệ, giao đồ ăn, chia sẻ chỗ ở hay dịch vụ cá nhân phản ánh sự chuyển dịch rõ rệt trong hành vi tiêu dùng của người dân (CIEM, 2019).
Đối với Thái Nguyên, KTCS phát triển trong bối cảnh tỉnh đẩy mạnh chuyển đổi số, công nghiệp hóa và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Với vai trò trung tâm giáo dục - công nghiệp của vùng, quy mô GRDP năm 2024 đạt 162,5 nghìn tỷ đồng và thu nhập bình quân đầu người đạt 119 triệu đồng, Thái Nguyên sở hữu lực lượng lao động trẻ và có trình độ - nhóm đối tượng có mức độ sẵn sàng cao đối với mô hình KTCS (Sở KH&CN Thái Nguyên, 2025g). Cùng với đó, hạ tầng số của Tỉnh được cải thiện đáng kể với sự mở rộng của trạm 5G, cáp quang và logistics. Tuy nhiên, Tỉnh vẫn thiếu các trung tâm đổi mới sáng tạo, nền tảng dữ liệu dùng chung và cơ chế thử nghiệm sandbox - những điều kiện quyết định khả năng thử nghiệm và mở rộng mô hình KTCS (Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Thái Nguyên, 2025b).
Yếu tố thể chế tiếp tục là rào cản lớn. Tỉnh Thái Nguyên chưa có quy định đặc thù điều chỉnh hoạt động chia sẻ tài sản hoặc hợp đồng điện tử, dẫn đến khó khăn trong đăng ký kinh doanh nền tảng, bảo vệ dữ liệu hay tiếp cận hỗ trợ pháp lý (Sở KH&CN Thái Nguyên, 2025c). Bên cạnh đó, doanh nghiệp khởi nghiệp KTCS gặp trở ngại lớn trong tiếp cận vốn do thiếu quỹ đầu tư, thiếu cơ chế đồng đầu tư hoặc mô hình huy động vốn mới như cho vay ngang hàng (P2P lending) hay gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) vẫn còn hạn chế tại địa phương (Sở KH&CN Thái Nguyên, 2025d). Năng lực công nghệ cũng là điểm yếu khi chỉ 10-15% dự án khởi nghiệp (startup) ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) hay Công nghệ chuỗi (blockchain), khiến các mô hình chia sẻ dựa trên dữ liệu lớn hoặc kết nối thời gian thực khó hình thành (Sở KH&CN Thái Nguyên, 2025e).
Những hạn chế của hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm niềm tin cộng đồng còn thấp, kỹ năng số hạn chế, liên kết giữa ba trụ cột trong mô hình Triple Helix (nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp) chưa hiệu quả và hoạt động truyền thông về đổi mới sáng tạo còn mờ nhạt tiếp tục cản trở sự phát triển của KTCS trên địa bàn Tỉnh (Sở KH&CN Thái Nguyên, 2025f). Dù vậy, khoảng trống nghiên cứu về KTCS tại các tỉnh công nghiệp như Thái Nguyên vẫn rất lớn. Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (Nguyễn Hữu Thắng, 2020), chưa phản ánh được đặc trưng của các địa phương đang đô thị hóa nhanh và có sự chênh lệch lớn về hạ tầng số giữa đô thị - nông thôn. Xuất phát từ nhu cầu đó, nghiên cứu này tiến hành khảo sát 200 người dân thuộc bốn khu vực tiêu biểu của Tỉnh nhằm đo lường nhận thức, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia KTCS.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu áp dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích nhận thức, hành vi và mức độ sẵn sàng tham gia KTCS của người dân tỉnh Thái Nguyên. Mẫu khảo sát gồm 200 người trong độ tuổi lao động tại bốn địa bàn đại diện: TP. Thái Nguyên (40%), TP. Phổ Yên (25%), huyện Đại Từ (20%) và huyện Đồng Hỷ (15%). Sự phân bổ này đảm bảo tính đa dạng về nhân khẩu và mức độ tiếp cận hạ tầng số giữa các khu vực. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến tại khu vực đô thị và phỏng vấn trực tiếp tại các huyện, nhằm khắc phục khác biệt về khả năng tiếp cận công nghệ. Thời gian khảo sát diễn ra trong tháng 5/2025, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nhận thức về nền kinh tế chia sẻ
Bảng 1 phản ánh mức độ tiếp cận, niềm tin và sự phù hợp văn hóa trong nhận thức của người dân đối với KTCS. Nhìn chung, người dân đã hình thành nhận thức tương đối rõ về mô hình này, song mức độ hiểu biết và tin tưởng vẫn còn hạn chế, cho thấy KTCS tại Thái Nguyên đang trong giai đoạn mở rộng và chưa đạt mức phát triển trưởng thành.
Về mức độ tiếp cận, nhóm sử dụng KTCS từ 1-3 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (52%), phản ánh sự phổ biến ngày càng tăng của các dịch vụ như gọi xe công nghệ, giao đồ ăn hay lưu trú ngắn hạn. Tuy nhiên, 28% chỉ mới tiếp cận trong vòng dưới 1 năm và 20% đã sử dụng trên 3 năm, cho thấy KTCS vẫn còn mới mẻ đối với một bộ phận dân cư, đặc biệt ở khu vực ngoài đô thị, và mức độ phổ cập còn thấp hơn so với các thành phố lớn.
Niềm tin tiếp tục là yếu tố quyết định hành vi nhưng ở mức chưa cao. Chỉ 12% rất tin tưởng và 46% tin tưởng, trong khi 34% giữ thái độ trung tính. Tỷ lệ không tin tưởng chỉ 8% nhưng vẫn cho thấy rủi ro nhận thức có thể cản trở sự phát triển của KTCS. Kết quả này nhấn mạnh nhu cầu cải thiện minh bạch thông tin, an toàn dữ liệu và chất lượng dịch vụ để củng cố niềm tin người dùng.
Nhận thức về sự phù hợp văn hóa khá tích cực, với 72% cho rằng KTCS phù hợp với văn hóa Việt Nam nhờ tính cộng đồng và sự linh hoạt trong tiêu dùng. Tuy vậy, 28% vẫn bày tỏ lo ngại liên quan đến an toàn và thói quen tiêu dùng truyền thống, cho thấy còn tồn tại rào cản trong việc mở rộng KTCS tại địa phương.
Cuối cùng, nhu cầu truyền thông rất lớn, khi 84% cho rằng cần tăng cường phổ biến thông tin về KTCS. Điều này phản ánh sự thiếu hụt hiểu biết về cơ chế vận hành và lợi ích của mô hình, đồng thời khẳng định vai trò của truyền thông, đào tạo kỹ năng số và giáo dục cộng đồng trong việc thúc đẩy sự chấp nhận KTCS. Khi người dân được trang bị đầy đủ thông tin, khả năng tham gia và niềm tin vào mô hình chia sẻ sẽ được cải thiện đáng kể.
Bảng 1. Nhận thức cơ bản về kinh tế chia sẻ
|
Nhóm nội dung |
Phương án |
Tỷ lệ (%) |
Ghi chú học thuật |
|
Mức độ tiếp cận & tin tưởng đối với KTCS |
Dưới 1 năm |
28% |
Nhận thức còn mới |
|
1-3 năm |
52% |
Nhóm đã tiếp cận đủ lâu |
|
|
Trên 3 năm |
20% |
Nhóm có trải nghiệm dài hạn ít |
|
|
Rất tin tưởng |
12% |
Niềm tin thấp |
|
|
Tin tưởng |
46% |
Mức tin cao nhất |
|
|
Bình thường |
34% |
Tâm lý trung tính |
|
|
Không tin |
7% |
Lo ngại nhẹ |
|
|
Hoàn toàn không tin |
1% |
Nhóm bài trừ rất thấp |
|
|
Nhận thức về sự phù hợp văn hóa & truyền thông |
Có |
72% |
Được chấp nhận rộng rãi |
|
Không |
28% |
Quan ngại về sự khác biệt |
|
|
Có |
84% |
Nhu cầu truyền thông rất lớn |
|
|
Không |
16% |
Nhóm hiểu rõ từ trước |
Nguồn: Kết quả điều tra
Kết quả khảo sát cho thấy nhận thức của người dân về KTCS vẫn thiên về lợi ích kinh tế, trong khi các giá trị xã hội và môi trường chưa được ghi nhận đầy đủ. Lợi ích giảm chi phí được xem là đặc trưng nổi bật nhất (34%), tiếp đến là hiểu biết về sử dụng chung tài sản (31%), phản ánh mức độ tiếp cận phù hợp với bản chất chia sẻ tài nguyên của mô hình. Nhận thức về hiệu quả sử dụng tài nguyên chỉ đạt 21%, và vai trò kết nối cộng đồng còn thấp (14%), cho thấy các giá trị bền vững và xã hội của KTCS chưa được hình thành rõ rệt trong nhận thức cộng đồng.
Đánh giá về lợi ích tiếp tục củng cố xu hướng xem KTCS chủ yếu như một giải pháp kinh tế. Gần một nửa người tham gia khảo sát (49%) nhấn mạnh khả năng giảm chi phí, phù hợp với đặc điểm thu nhập trung bình của địa phương. Nhận thức về tiết kiệm tài nguyên đạt 37%, cho thấy sự xuất hiện của tư duy bền vững, dù chưa trở thành động lực chủ đạo. Lợi ích xã hội được ghi nhận ở mức rất thấp (14%), phản ánh khoảng trống giữa lý thuyết về “gắn kết cộng đồng” và trải nghiệm thực tế của người dùng.
Các rủi ro tiềm ẩn của KTCS được người dân nhận diện khá rõ, trong đó thiếu niềm tin là rào cản lớn nhất (60%). Điều này cho thấy nền tảng niềm tin-yếu tố cốt lõi trong giao dịch giữa các cá nhân xa lạ-vẫn còn yếu, đặc biệt trong các mô hình P2P. Bên cạnh đó, 28% lo ngại về khung pháp lý chưa rõ ràng, nhấn mạnh vai trò của cơ quan quản lý trong việc thiết lập các quy định bảo đảm an toàn, trách nhiệm và minh bạch. Chỉ 12% đề cập cạnh tranh không lành mạnh, phản ánh mức độ nhận thức thấp hơn về rủi ro thị trường.
Mặc dù còn nhiều băn khoăn, người dân vẫn ghi nhận vai trò của KTCS đối với phát triển bền vững. Gần một nửa (48%) cho rằng KTCS góp phần giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên; 32% đánh giá KTCS thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương thông qua tạo việc làm và nguồn thu nhập bổ sung. Tuy nhiên, vai trò hỗ trợ cộng đồng chỉ được 20% ghi nhận, cho thấy yếu tố xã hội chưa trở thành đặc điểm nổi bật trong trải nghiệm KTCS tại địa phương.
Bảng 2. Nhận thức chuyên sâu về kinh tế chia sẻ
|
Nhóm nội dung |
Phương án |
Tỷ lệ (%) |
Giải thích nhanh |
|
Nhận thức về bản chất KTCS |
Sử dụng chung tài sản |
31% |
Nhận thức đúng bản chất cốt lõi |
|
Giảm chi phí |
34% |
Cách hiểu phổ biến nhất |
|
|
Tăng hiệu quả tài nguyên |
21% |
Hướng tiếp cận bền vững |
|
|
Kết nối cộng đồng |
14% |
Mức thấp hơn |
|
|
Nhận thức về lợi ích KTCS |
Giảm chi phí |
49% |
Lợi ích được cảm nhận mạnh nhất |
|
Tiết kiệm tài nguyên |
37% |
Ý thức về bền vững khá cao |
|
|
Kết nối cộng đồng |
14% |
Ít được chú ý |
|
|
Nhận thức về hạn chế KTCS |
Thiếu niềm tin |
60% |
Rào cản lớn nhất |
|
Pháp lý chưa rõ ràng |
28% |
Phụ thuộc cơ chế quản lý |
|
|
Cạnh tranh không lành mạnh |
12% |
Mức độ rủi ro thấp hơn |
|
|
Vai trò của KTCS trong phát triển bền vững |
Bảo vệ môi trường |
48% |
Nhận thức tích cực |
|
Phát triển kinh tế địa phương |
32% |
Nhìn nhận KTCS gắn tăng trưởng |
|
|
Hỗ trợ cộng đồng |
20% |
Nhóm nhỏ quan tâm yếu tố xã hội |
Nguồn: Kết quả điều tra
Tổng thể, các kết quả từ Bảng 2 cho thấy nhận thức về KTCS tại Thái Nguyên vẫn thiên lệch về giá trị kinh tế ngắn hạn, trong khi các lợi ích xã hội và môi trường chưa được nhìn nhận đầy đủ. Niềm tin tiếp tục là rào cản then chốt, đòi hỏi sự tăng cường minh bạch, bảo vệ người dùng và hoàn thiện khung pháp lý. Đồng thời, để KTCS phát triển bền vững, cần các chiến lược thúc đẩy giá trị cộng đồng và truyền thông hiệu quả hơn nhằm cân bằng giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội-môi trường trong dài hạn.
THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân Thái Nguyên tiếp cận KTCS chủ yếu dưới góc độ lợi ích kinh tế, đặc biệt là khả năng tiết kiệm chi phí và tính tiện lợi của dịch vụ. Xu hướng này tương đồng với nghiên cứu của Hamari et al. (2016), khẳng định rằng động lực tài chính là yếu tố kích hoạt chính trong giai đoạn đầu hình thành KTCS ở các nền kinh tế đang phát triển. Điều này phản ánh đặc thù của tỉnh Thái Nguyên - nơi mức thu nhập trung bình còn chiếm tỷ trọng lớn và hành vi tiêu dùng có xu hướng ưu tiên hiệu quả kinh tế trước tiên.
Niềm tin nổi lên như rào cản lớn nhất khi 60% người khảo sát bày tỏ lo ngại về chất lượng dịch vụ, bảo mật thông tin và an toàn giao dịch. Phát hiện này phù hợp với Hawlitschek et al. (2018), nhấn mạnh vai trò trung tâm của niềm tin trong các nền tảng chia sẻ ngang hàng. Trong bối cảnh Thái Nguyên vẫn duy trì thói quen giao dịch trực tiếp ở mức cao, sự chuyển dịch sang mô hình số đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối với tính minh bạch và cơ chế bảo đảm an toàn.
Hạn chế về khung pháp lý cũng được phản ánh rõ, khi 28% người dân cho rằng các quy định hiện hành chưa đầy đủ hoặc chưa minh bạch. Kết quả này tương đồng với phân tích của Codagnone & Martens (2016), chỉ ra rằng khoảng trống pháp lý là một trong những cản trở chính đối với sự phát triển KTCS tại nhiều quốc gia. Điều này cho thấy Thái Nguyên cần hoàn thiện hành lang pháp lý để tạo môi trường phát triển bền vững cho KTCS.
Ngoài ra, nhận thức môi trường của người dân ở mức tương đối cao, khi 48% cho rằng KTCS đóng góp vào tiết kiệm tài nguyên và giảm lãng phí. Điều này cho thấy sự chuyển biến nhận thức theo hướng bền vững, phù hợp với tiếp cận kinh tế tuần hoàn (Geissinger et al., 2019). Tuy nhiên, vai trò xã hội của KTCS lại chưa được đánh giá cao (20%), phản ánh mức độ đa dạng dịch vụ và kinh nghiệm sử dụng tại Thái Nguyên còn hạn chế.
Nhìn chung, nhận thức của người dân Thái Nguyên có những điểm tương đồng với xu hướng quốc tế, nhưng cũng thể hiện những đặc trưng địa phương về văn hóa, hạ tầng số và mức độ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. KTCS tại tỉnh vẫn đang ở giai đoạn “chấp nhận ban đầu”, khi giá trị kinh tế đóng vai trò chủ đạo, còn các yếu tố xã hội và bền vững mới chỉ xuất hiện ở mức độ thứ yếu.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về nhận thức, thái độ và nhu cầu tham gia KTCS của người dân Thái Nguyên. Kết quả cho thấy KTCS được đón nhận tương đối tích cực nhờ lợi ích kinh tế và sự tiện lợi, trong khi các yếu tố môi trường và xã hội đóng vai trò khiêm tốn. Hai rào cản chính đối với việc mở rộng KTCS là niềm tin thấp và năng lực số hạn chế, đặc biệt ở nhóm dân cư ngoài đô thị. Nhu cầu sử dụng dịch vụ chia sẻ trong tương lai có xu hướng tăng, đặc biệt trong nhóm trẻ và cư dân đô thị - những đối tượng có khả năng tiếp cận công nghệ tốt hơn. Tuy vậy, để KTCS trở thành động lực phát triển mới của tỉnh, Thái Nguyên cần đồng thời đầu tư vào hạ tầng số, hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp hỗ trợ các mô hình KTCS đặc thù địa phương. Nghiên cứu này đóng góp bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho việc hoạch định chính sách KTCS ở cấp tỉnh, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về mô hình hành vi, mức độ sẵn sàng công nghệ và các yếu tố thúc đẩy niềm tin trong KTCS tại các địa phương đang chuyển đổi số ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Botsman, R., & Rogers, R., 2010. What’s mine is yours: The rise of collaborative consumption. HarperBusiness.
2. CIEM, 2019. Báo cáo đánh giá tác động của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
3. Codagnone, C., & Martens, B., 2016. Scoping the sharing economy: Origins, definitions, impact and regulatory issues. Institute for Prospective Technological Studies, Joint Research Centre, European Commission. https://doi.org/10.2791/474555
4. Geissinger, A., Laurell, C., & Sandström, C., 2019. Digital disruption and the enabling role of the sharing economy: A case study of Airbnb. Journal of Business Research, 101, 232-241. https://doi.org/10.1016/j.jbusres.2019.04.019
5. Hamari, J., Sjöklint, M., & Ukkonen, A., 2016. The sharing economy: Why people participate in collaborative consumption. Journal of the Association for Information Science and Technology, 67(9), 2047-2059. https://doi.org/10.1002/asi.23552
6. Hawlitschek, F., Teubner, T., & Gimpel, H., 2018. Consumer trust in the sharing economy: A literature review. Electronic Commerce Research and Applications, 29, 18-31. https://doi.org/10.1016/j.elerap.2018.03.005
7. Nguyễn Hữu Thắng, 2020. Kinh tế chia sẻ tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, (279), 45-52.
8. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025a. Báo cáo số 1 - Tổng quan các nghiên cứu về hệ sinh thái doanh nghiệp khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ.
9. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025b. Báo cáo số 6 - Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ của tỉnh Thái Nguyên.
10. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025c. Báo cáo số 7 - Thực trạng về khung pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ của tỉnh Thái Nguyên.
11. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025d. Báo cáo số 8 - Thực trạng tiếp cận vốn khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ của tỉnh Thái Nguyên.
12. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025e. Báo cáo số 9 - Thực trạng tích hợp công nghệ trong khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ của tỉnh Thái Nguyên.
13. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025f. Báo cáo số 10 - Tồn tại và hạn chế trong phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ tại Thái Nguyên.
14. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, 2025g. Báo cáo số 11 - Phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội phục vụ xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ.
15. Sundararajan, A., 2016. The sharing economy: The end of employment and the rise of crowd-based capitalism. MIT Press.
| Ngày nhận bài: 22/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/11/2025; Ngày duyệt đăng: 05/12/2025 |
Các tin khác
Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024
Vai trò trung gian của quản trị đồng tâm trong thúc đẩy hiệu quả chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dưới sự điều tiết của khả năng học tập tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Công bố thông tin quản trị doanh nghiệp, giá trị và hiệu quả hoạt động: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Nâng cao động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phúc Hảo, TP. Hồ Chí Minh
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh
Mất cân bằng giới tính khi sinh và tác động đến phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai
Chính sách quản lý đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Nghệ An: Thực tiễn và giải pháp