Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động tại TP. Cần Thơ

Nghiên cứu - Trao đổi 10:09 | 25/07/2026
Các nghiên cứu gần đây về ngân hàng di động cho thấy các yếu tố như năng lực bản thân, nhận thức về tính hữu ích, sự thích nghi của người dùng, niềm tin và sự phù hợp giữa công nghệ với thói quen sử dụng có vai trò đáng kể đối với ý định tiếp tục sử dụng.

ThS. Nhơn Thị Xuân Hoa

Email: [email protected]

ThS. Lê Thanh Toàn, ThS. Trần Huỳnh Minh Thư, ThS. Trương Hữu Tâm

Trường Đại học Tây Đô

Tóm tắt

Nghiên cứu xem xét tác động của năng lực bản thân, nhận thức về tính hữu ích, sự xác nhận, sự thích nghi với công nghệ và niềm tin đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động tại TP. Cần Thơ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 291 khách hàng thông qua bảng câu hỏi khảo sát và được phân tích bằng hồi quy tuyến tính bội để kiểm định các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy cả 5 yếu tố đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động. Trong đó, Sự thích nghi với công nghệ có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp đến là Năng lực bản thân, Nhận thức về tính hữu ích, Sự xác nhận và Niềm tin. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất các ngân hàng cần chú trọng nâng cao mức độ phù hợp của công nghệ với người dùng, tăng cường hỗ trợ khách hàng và củng cố các giá trị hữu ích, an toàn của dịch vụ để thúc đẩy ý định tiếp tục sử dụng.

Từ khóa: Ngân hàng di động, ý định tiếp tục sử dụng, niềm tin, sự thích nghi với công nghệ

Abstract

This study examines the effects of self-efficacy, perceived usefulness, confirmation, technology adaptation, and trust on customers’ intention to continue using mobile banking services in Can Tho City. Data were collected from 291 customers through a structured questionnaire and analyzed using multiple linear regression to examine the relationships proposed in the research model. The results indicate that all five factors have positive and statistically significant effects on continuance intention to use mobile banking services. Among them, technology adaptation has the strongest influence, followed by self-efficacy, perceived usefulness, confirmation, and trust. Based on these findings, the authors recommend that banks enhance the compatibility of mobile banking technologies with users’ needs, strengthen customer support, and reinforce the usefulness and security of mobile banking services to encourage continued customer use.

Keywords: Mobile banking, continuance intention, trust, technology adaptation

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh chuyển đổi số ngân hàng ở Việt Nam, dịch vụ ngân hàng di động ngày càng được sử dụng rộng rãi. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong 11 tháng đầu năm 2025, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 56,8% về số lượng và 33,7% về giá trị; riêng giao dịch qua ngân hàng di động tăng 54,5% về số lượng và 34,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, hơn 87% người trưởng thành đã có tài khoản ngân hàng, cho thấy nền tảng sử dụng dịch vụ số tại Việt Nam đang ngày càng mở rộng.

Các nghiên cứu gần đây về ngân hàng di động cho thấy các yếu tố như năng lực bản thân, nhận thức về tính hữu ích, sự thích nghi của người dùng, niềm tin và sự phù hợp giữa công nghệ với thói quen sử dụng có vai trò đáng kể đối với ý định tiếp tục sử dụng. Chẳng hạn, nghiên cứu của Nguyen và Dao (2024) tại Việt Nam cho thấy nhận thức về tính hữu ích, năng lực bản thân và sự thích nghi của người dùng đều có liên hệ tích cực với ý định tiếp tục sử dụng ngân hàng di động. Nghiên cứu của Bouhlel và Mzoughi (2024) cũng khẳng định nhận thức về tính hữu ích và niềm tin có ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng ứng dụng ngân hàng di động. Trong khi đó, Che và cộng sự (2023) cho thấy niềm tin bền vững của khách hàng được hình thành từ các yếu tố như khả năng sử dụng, bảo mật, quyền riêng tư, uy tín tổ chức và hỗ trợ khách hàng.

Từ thực tiễn đó, nghiên cứu về ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động có ý nghĩa cả về mặt học thuật lẫn quản trị. Nghiên cứu này sử dụng Mô hình kỳ vọng - xác nhận (Bhattacherjee, 2001) và Mô hình chấp nhận công nghệ (Davis, 1989) để xem xét 5 cấu trúc: Năng lực bản thân, Nhận thức về tính hữu ích, Sự xác nhận, Sự thích nghi với công nghệ và Niềm tin ảnh hưởng đến Ý định tiếp tục sử dụng công nghệ số và ngân hàng di động.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT, GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH GHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Mô hình kỳ vọng - xác nhận (Bhattacherjee, 2001) và Mô hình chấp nhận công nghệ. Mô hình kỳ vọng - xác nhận cho rằng, hành vi tiếp tục sử dụng dịch vụ phụ thuộc vào mức độ kỳ vọng của người dùng được đáp ứng sau quá trình trải nghiệm thực tế. Trong khi đó, Mô hình chấp nhận công nghệ (Davis, 1989) nhấn mạnh vai trò của nhận thức về tính hữu ích trong việc hình thành thái độ và hành vi sử dụng công nghệ. Ngoài ra, nghiên cứu còn kế thừa Lý thuyết về năng lực bản thân và niềm tin (Bandura, 1997) nhằm giải thích hành vi duy trì sử dụng dịch vụ ngân hàng di động của khách hàng trong môi trường số.

Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động được hiểu là mức độ sẵn sàng và mong muốn của khách hàng trong việc duy trì sử dụng ứng dụng ngân hàng di động sau khi đã có trải nghiệm thực tế với dịch vụ (Veronika và cộng sự, 2025). Theo Bhattacherjee (2001), Yuan và cộng sự (2014), ý định tiếp tục sử dụng là kết quả của quá trình đánh giá trải nghiệm sau sử dụng, trong đó người dùng sẽ tiếp tục sử dụng hệ thống khi cảm thấy dịch vụ đáp ứng được kỳ vọng và mang lại giá trị hữu ích. Trong bối cảnh ngân hàng di động, ý định tiếp tục sử dụng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nhận thức về tính hữu ích, sự xác nhận, niềm tin, năng lực bản thân và sự phù hợp của công nghệ với nhu cầu người dùng (Nguyen và Dao, 2024; Bouhlel và Mzoughi, 2024).

Phát triển giả thuyết nghiên cứu

Năng lực bản thân phản ánh niềm tin của cá nhân vào khả năng tổ chức và thực hiện thành công một hành vi trong một bối cảnh cụ thể Bandura (1997). Trong môi trường ngân hàng di động, khi người dùng tự tin vào khả năng thao tác ứng dụng, xử lý giao dịch và kiểm soát các chức năng kỹ thuật, họ thường ít e ngại hơn và có xu hướng duy trì sử dụng dịch vụ lâu dài (Addula, 2025). Nghiên cứu của Nguyen và Dao (2024) cho thấy năng lực bản thân có tác động tích cực đến ý định tiếp tục sử dụng ngân hàng di động tại Việt Nam, đồng thời một số nghiên cứu gần đây khác cũng ghi nhận năng lực bản thân là biến dự báo quan trọng đối với hành vi chấp nhận và duy trì sử dụng ngân hàng di động.

Theo Mô hình chấp nhận công nghệ, nhận thức về tính hữu ích là một trong những yếu tố nền tảng quyết định việc người dùng tiếp tục sử dụng hệ thống (Davis, 1989). Khi khách hàng cảm nhận rằng ngân hàng di động giúp giao dịch nhanh hơn, tiết kiệm thời gian, thuận tiện hơn và hỗ trợ quản lý tài chính tốt hơn, ý định tiếp tục sử dụng sẽ tăng lên (Kumar và cộng sự, 2018). Kết quả của Nguyen và Dao (2024) cho thấy nhận thức về tính hữu ích có ảnh hưởng tích cực đến ý định tiếp tục sử dụng. Tương tự, Bouhlel và Mzoughi (2024) cũng ghi nhận nhận thức về tính hữu ích tác động đến niềm tin, sự hài lòng và ý định tiếp tục sử dụng ứng dụng ngân hàng di động. Ngoài ra, các nghiên cứu về ý định tiếp tục sử dụng trong bối cảnh dịch vụ di động cũng cho thấy nhận thức về tính hữu ích là một biến dự báo quan trọng đối với ý định tiếp tục sử dụng.

Sự xác nhận thể hiện mức độ mà trải nghiệm thực tế của khách hàng phù hợp với kỳ vọng ban đầu. Trong Mô hình kỳ vọng - xác nhận, khi trải nghiệm sau sử dụng đáp ứng hoặc vượt kỳ vọng, người dùng có xu hướng đánh giá tích cực hơn và tiếp tục duy trì hành vi sử dụng (Bhattacherjee, 2001). Mô hình này đề xuất để giải thích hành vi tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin, và nhiều nghiên cứu sau đó đã tiếp tục vận dụng mô hình kỳ vọng - xác nhận để nghiên cứu hành vi duy trì sử dụng trong bối cảnh ngân hàng di động và các dịch vụ số (Kumar và cộng sự, 2018; Tam và cộng sự, 2020; Nguyen và Dao, 2024).

Sự thích nghi với công nghệ phản ánh mức độ phù hợp giữa công nghệ và nhu cầu, thói quen, phong cách sống của người dùng (Kumar và cộng sự, 2018). Khi dịch vụ ngân hàng di động phù hợp với cách thức giao dịch quen thuộc, dễ tích hợp vào nhịp sống hằng ngày và không làm người dùng cảm thấy bị “lệch nhịp”, họ sẽ có xu hướng tiếp tục sử dụng (Tam và cộng sự, 2020). Nghiên cứu của Nguyen và Dao (2024), Ozturk và cộng sự (2016) cho thấy sự thích nghi của người dùng là một yếu tố có ý nghĩa đối với ý định tiếp tục sử dụng ngân hàng di động. Các nghiên cứu gần đây khác cũng cho thấy tính tương thích là biến quan trọng trong mô hình chấp nhận hoặc duy trì sử dụng ngân hàng di động.

Trong dịch vụ tài chính số, niềm tin giữ vai trò then chốt vì người dùng luôn quan tâm đến an toàn giao dịch, bảo mật dữ liệu và uy tín của ngân hàng. Nếu khách hàng tin rằng ứng dụng hoạt động đáng tin cậy, thông tin cá nhân được bảo vệ và ngân hàng có khả năng hỗ trợ tốt khi phát sinh sự cố, họ sẽ an tâm hơn và có xu hướng tiếp tục sử dụng dịch vụ (Che và cộng sự, 2023). Điều này phù hợp với kết quả của Kıymalıoğlu và cộng sự (2024), khi cho thấy niềm tin bền vững của khách hàng được hình thành từ các yếu tố như quyền riêng tư, bảo mật, hỗ trợ khách hàng, uy tín tổ chức và trải nghiệm trước đó; đồng thời Bouhlel và Mzoughi (2024) cũng khẳng định niềm tin có liên hệ với ý định tiếp tục sử dụng ứng dụng ngân hàng di động.

Do vậy, các giả thuyết sau đây được đề xuất:

H1: Năng lực bản thân tác động cùng chiều đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động.

H2: Nhận thức về tính hữu ích tác động cùng chiều đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động.

H3: Sự xác nhận tác động cùng chiều đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động.

H4: Sự thích nghi với công nghệ tác động cùng chiều đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động.

H5: Niềm tin tác động cùng chiều đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động.

Mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở các lập luận lý thuyết nêu trên, mô hình nghiên cứu được trình bày tại Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động tại TP. Cần Thơ

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đối với khách hàng đang sử dụng dịch vụ ngân hàng di động tại TP. Cần Thơ. Đối tượng khảo sát là khách hàng cá nhân đã cài đặt và sử dụng ứng dụng ngân hàng di động. Người tham gia khảo sát được lựa chọn dựa trên 3 tiêu chí: (i) có tài khoản ngân hàng di động, (ii) đã tải và cài đặt ứng dụng ngân hàng di động, và (iii) có kinh nghiệm sử dụng ít nhất một dịch vụ ngân hàng di động để chuyển tiền hoặc thanh toán hóa đơn.

Dữ liệu được thu thập từ tháng 3-4/2026 thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp chọn mẫu lan truyền, phù hợp với nghiên cứu dịch vụ ngân hàng số tại thị trường mới nổi.

Tổng cộng 291 bảng hỏi hợp lệ được sử dụng cho phân tích. Cỡ mẫu này đáp ứng yêu cầu tối thiểu của phương pháp hồi quy tuyến tính bội để đánh giá mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. phân tích được thực hiện trên phần mềm SPSS 26.0 thông qua phương pháp Enter nhà kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu (Hair và cộng sự, 2019).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả thống kê mẫu khảo sát cho thấy nam chiếm 51% và nữ chiếm 49%, là cơ cấu giới tính tương đối cân bằng. Nhóm tuổi từ 31-55 chiếm tỷ lệ cao nhất với 47%, tiếp đến là nhóm 56-65 tuổi (36%). Về trình độ học vấn, phần lớn khách hàng có trình độ đại học trở lên (55%). Đối tượng khảo sát chủ yếu là nhân viên và các nhóm nghề nghiệp khác, lần lượt chiếm 38% và 48%. Thu nhập phổ biến tập trung ở mức từ 10-20 triệu đồng/tháng (38%), tiếp theo là nhóm từ 21-30 triệu đồng/tháng (32%).

Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo (Bảng) cho thấy, tất cả các biến nghiên cứu đều đạt yêu cầu. Hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0,762 đến 0,907, đều lớn hơn ngưỡng chấp nhận 0,7, chứng tỏ các thang đo có tính nhất quán nội tại cao (Hair và cộng sự, 2019).

Bảng: Độ tin cậy thang đo

Biến

Mã biến

Cronbach’s

Alpha

Tương quan với

biến tổng

Nhận thức về tính hữu ích (HI)

HI1

0,814

0,671

HI2

0,656

HI3

0,669

Năng lực bản thân (NL)

NL1

0,835

0,639

NL2

0,752

NL3

0,645

NL4

0,630

Niềm tin (NT)

NT1

0,880

0,662

NT2

0,724

NT3

0,684

NT4

0,943

Sự xác nhận (SXN)

SXN1

0,854

0,707

SXN2

0,715

SXN3

0,754

Sự thích nghi với công nghệ

(STN)

STN1

0,885

0,697

STN2

0,683

STN3

0,750

STN4

0,910

Ý định tiếp tục sử dụng (YD)

YD1

0,762

0,522

YD2

0,668

YD3

0,594

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy, dữ liệu phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố, với hệ số KMO = 0,888 (> 0,6) và kiểm định Bartlett’s có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000 < 0,05), chứng tỏ mối tương quan giữa các biến là đủ mạnh để phân tích nhân tố (Hair và cộng sự, 2019).

Ma trận xoay đã trích được 5 nhân tố với tổng phương sai trích đạt 74,834%, vượt mức tối thiểu 50% theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2019), chứng tỏ các nhân tố giải thích tốt phần lớn biến thiên trong dữ liệu. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,7 và không có hiện tượng tải chéo, khẳng định tính hộ tụ và phân biệt giữa các nhân tố và cấu trúc thang đo rõ ràng. Kết quả này cho thấy mô hình đo lường có nền tảng tốt để thực hiện các phân tích thống kê tiếp theo.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các biến độc lập đều có mối tương quan tuyến tính dương và có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc YD, với giá trị Sig. (2-tailed) đều nhỏ hơn 0,01. Điều này cho thấy các yếu tố HI, NL, SXN, STN và NT đều có ảnh hưởng tích cực đến YD. Xét mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau, tất cả đều có hệ số tương quan dưới 0,7 và có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05). Điều này cho thấy các biến độc lập có mối liên hệ nhưng không trùng lặp về nội dung, từ đó giảm thiểu nguy cơ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy (Hair và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, để chắc chắn hơn, các chỉ số VIF cần được kiểm tra ở bước phân tích hồi quy tiếp theo.

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy, mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu thực tế, khi kiểm định F có mức ý nghĩa Sig. = 0,000. Hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,645, cho thấy 64,5% sự biến thiên của Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động được giải thích bởi 5 biến độc lập gồm: Nhận thức về tính hữu ích, Năng lực bản thân, Sự xác nhận, Sự thích nghi với công nghệ và Niềm tin. Phần còn lại được giải thích bởi các yếu tố khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên. Giá trị Durbin-Watson = 1,628, nằm trong khoảng chấp nhận được, cho thấy mô hình không vi phạm giả định về tự tương quan phần dư. Bên cạnh đó, các chỉ số đa cộng tuyến đều đạt yêu cầu khi dung sai của các biến đều lớn hơn 0,1 và VIF đều nhỏ hơn 2, qua đó khẳng định hiện tượng đa cộng tuyến không đáng kể và kết quả ước lượng có độ tin cậy cao.

Xét từng biến độc lập, cả 5 biến đều có hệ số hồi quy dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, cho thấy các giả thuyết H1 đến H5 đều được chấp nhận. Trong đó, Sự thích nghi với công nghệ có tác động mạnh nhất đến Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động với Beta chuẩn hóa = 0,353. Tiếp theo là Năng lực bản thân (Beta = 0,290), Nhận thức về tính hữu ích (Beta = 0,225), Sự xác nhận (Beta = 0,217) và cuối cùng là Niềm tin (Beta = 0,091).

THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, Mô hình kỳ vọng - xác nhận và Mô hình chấp nhận công nghệ là cơ sở phù hợp để giải thích Ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động. Người dùng có xu hướng duy trì sử dụng khi cảm nhận dịch vụ hữu ích, đáp ứng kỳ vọng, phù hợp nhu cầu và tạo được sự an tâm trong giao dịch, phù hợp với các luận điểm của Bhattacherjee (2001), Davis (1989) cũng như các nghiên cứu gần đây của Nguyen và Dao (2024), Bouhlel và Mzoughi (2024), Kumar và cộng sự (2018), Tam và cộng sự (2020). Trong các yếu tố được kiểm định, Sự thích nghi với công nghệ có tác động mạnh nhất đến Ý định tiếp tục sử dụng. Điều này cho thấy khách hàng sẽ gắn bó hơn khi ứng dụng phù hợp với thói quen giao dịch, nhu cầu và nhịp sống hằng ngày. Kết quả này tương đồng với Kumar và cộng sự (2018), Tam và cộng sự (2020). Về hàm ý quản trị, ngân hàng cần ưu tiên thiết kế giao diện thân thiện, thao tác đơn giản, quy trình rõ ràng và cá nhân hóa trải nghiệm theo từng nhóm khách hàng.

Năng lực bản thân đứng ở vị trí tiếp theo về mức độ ảnh hưởng. Khi khách hàng tự tin thao tác ứng dụng, họ sẽ giảm e ngại sai sót và có xu hướng tiếp tục sử dụng dịch vụ. Phát hiện này phù hợp với Bandura (1997), Nguyen và Dao (2024). Vì vậy, ngân hàng nên tăng cường hướng dẫn sử dụng, cung cấp video ngắn, tài liệu trực quan và kênh hỗ trợ nhanh, đặc biệt đối với nhóm khách hàng lớn tuổi hoặc ít tiếp xúc công nghệ. Nhận thức về tính hữu ích cũng tác động tích cực đến Ý định tiếp tục sử dụng. Khi khách hàng nhận thấy dịch vụ giúp tiết kiệm thời gian, thuận tiện hơn và nâng cao hiệu quả giao dịch, họ sẽ có xu hướng duy trì sử dụng. Kết quả này nhất quán với Davis (1989), Nguyen và Dao (2024), Bouhlel và Mzoughi (2024). Do đó, ngân hàng cần truyền thông rõ ràng về lợi ích thực tế của dịch vụ, đồng thời tiếp tục bổ sung các tiện ích gia tăng.

Sự xác nhận có ảnh hưởng tích cực, phản ánh rằng khi trải nghiệm thực tế đáp ứng hoặc vượt kỳ vọng, khách hàng sẽ hài lòng hơn và tiếp tục sử dụng. Kết quả này phù hợp với Bhattacherjee (2001), Kumar và cộng sự (2018), Tam và cộng sự (2020), Nguyen và Dao (2024). Vì vậy, ngân hàng cần duy trì chất lượng dịch vụ ổn định, hạn chế lỗi giao dịch và tăng tốc độ xử lý để củng cố niềm tin và giữ chân khách hàng.

Cuối cùng, Niềm tin có tác động tích cực nhưng thấp nhất trong 5 biến. Dù mức ảnh hưởng không lớn, đây vẫn là yếu tố quan trọng trong dịch vụ tài chính số, nơi khách hàng đặc biệt quan tâm đến bảo mật, an toàn giao dịch và uy tín ngân hàng. Kết quả này phù hợp với Che và cộng sự (2023), Kıymalıoğlu và cộng sự (2024), Bouhlel và Mzoughi (2024). Do đó, ngân hàng cần tiếp tục đầu tư vào bảo mật, xác thực đa lớp, cảnh báo rủi ro và truyền thông rõ ràng về chính sách bảo vệ thông tin.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng việc phát triển các ứng dụng ngân hàng di động theo hướng phù hợp với nhu cầu và thói quen của người dùng, đồng thời nâng cao trải nghiệm, tính hữu ích, sự an toàn và năng lực sử dụng công nghệ của khách hàng sẽ góp phần gia tăng ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ. Nghiên cứu cũng bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về khả năng vận dụng Mô hình kỳ vọng - xác nhận kết hợp với Mô hình chấp nhận công nghệ trong bối cảnh ngân hàng số tại Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, phạm vi khảo sát chỉ được thực hiện đối với khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng di động tại TP. Cần Thơ nên khả năng khái quát hóa kết quả cho các địa phương khác còn hạn chế. Thứ hai, mô hình nghiên cứu mới chỉ xem xét 5 yếu tố ảnh hưởng, trong khi ý định tiếp tục sử dụng còn có thể chịu tác động của nhiều nhân tố khác như chất lượng dịch vụ điện tử, nhận thức rủi ro, bảo mật, ảnh hưởng xã hội, sự hài lòng hay chất lượng hệ thống. Thứ ba, nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu thu thập tại một thời điểm nên chưa phản ánh được sự thay đổi trong hành vi sử dụng của khách hàng theo thời gian. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát tại nhiều địa phương, bổ sung thêm các biến nghiên cứu phù hợp và kết hợp phương pháp định tính hoặc nghiên cứu theo chuỗi thời gian nhằm làm rõ hơn cơ chế hình thành và duy trì ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng di động.

Tài liệu tham khảo:

1. Addula, S. R. (2025). Mobile banking adoption: A multi-factorial study on social influence, compatibility, digital self-efficacy, and perceived cost among Generation Z consumers in the United States. Journal of Theoretical and Applied Electronic Commerce Research, 20(3), 192.

2. Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The exercise of control. Freeman.

3. Bhattacherjee, A. (2001). Understanding information systems continuance: An expectation-confirmation model. MIS Quarterly, 25(3), 351-370.

4. Bouhlel, O., & Mzoughi, M. N. (2024). An investigation of users’ continuance intention toward ngân hàng di động applications. International Journal of Business, 29(1), 110-129.

5. Che, M., Say, S. Y. A., Yu, H., Zhou, Q., Shu, J., Sun, W., Luo, X., & Xu, H. (2023). Investigating customers’ continuous trust towards ngân hàng di động apps. Humanities and Social Sciences Communications, 10(1), 1-10.

6. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.

7. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th Ed.). England: Pearson Prentice

8. Kumar, R. R., Israel, D., & Malik, G. (2018). Explaining customer’s continuance intention to use mobile banking apps with an integrative perspective of ECT and self-determination theory. Pacific Asia Journal of the Association for Information Systems, 10(2), 79-112.

9. Kıymalıoğlu, A., Akinci, S., & Alragig, A. (2024). Linking consumer compatibility and bank reputation to intention to use ngân hàng di động. Managerial Finance, 50(2), 417-433.

10. Nguyen, G. D., & Dao, T. H. T., (2024). Factors influencing continuance intention to use mobile banking: An extended expectation-confirmation model with moderating role of trust. Humanities and Social Sciences Communications, 11, 276-289.

11. Ozturk, A. B., Bilgihan, A., Nusair, K., & Okumus, F. (2016). What keeps the mobile hotel booking users loyal? Investigating the roles of self-efficacy, compatibility, perceived ease of use, and perceived convenience. International Journal of Information Management, 36, 1350-1359.

12. Tam, C., Oliveira, T., & Oliveira, F. (2020). Determinants of continuance intention to use smartphone banking services: An extended expectation confirmation model. Industrial Management & Data Systems, 116(3), 508-525.

13. Veronika, S., Lee, M. S. W., Lang, B., & Putra, P. (2025). A systematic review and future agenda on continuance intentions in mobile apps. International Journal of Information Management Data Insights, 5(2), 100352.

14. Yuan, S., Liu, Y., Yao, R., & Liu, J. (2014). An investigation of users’ continuance intention towards mobile banking in China. Journal of Enterprise Information Management, 27(5), 545-567.

Ngày nhận bài: 5/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/7/2026; Ngày duyệt đăng: 24/7/2026

Các tin khác

Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóa phân biệt lưu ký với tự doanh. Thông tư số 15/2026/TT-BTC đã hướng dẫn nguyên tắc kế toán cho 2 hoạt động này. Tuy nhiên, đối chiếu quốc tế vẫn cần thiết vì việc ghi nhận tài sản lưu ký và đo lường tài sản tự doanh được xử lý khác nhau.
Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

AI đang dịch chuyển từ vị trí một công nghệ chuyên biệt sang một hạ tầng hỗ trợ phổ biến cho nhiều loại công việc. Vì vậy, tác động của AI đối với công việc không còn chỉ là vấn đề công nghệ mà đã trở thành vấn đề của thiết kế công việc, năng lực nghề nghiệp và quản trị tổ chức.
Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Trải nghiệm của du khách tại thành phố không chỉ hình thành từ một điểm tham quan hay một dịch vụ riêng lẻ, mà từ sự kết hợp của nhiều tài nguyên, hoạt động và điều kiện tiếp cận trong toàn bộ hành trình.
Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi toàn diện hành vi người tiêu dùng, biến marketing số thành hệ thống điểm chạm đa kênh giúp doanh nghiệp tối ưu trải nghiệm và duy trì kết nối bền vững với khách hàng.
Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Bệnh viện vừa là nơi chữa bệnh vừa là nguồn tiêu thụ năng lượng và phát sinh chất thải lớn. Vì vậy, thực hành xanh giúp cơ sở y tế giảm cả tác động môi trường lẫn chi phí vận hành.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Lựa chọn ngành học là một trong những quyết định quan trọng trong quá trình định hướng nghề nghiệp của người học, có ảnh hưởng đến kết quả học tập, mức độ gắn bó với ngành và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số là yếu tố tiền đề quan trọng đối với sự tham gia khởi nghiệp trong tương lai, bởi nó phản ánh mức độ sẵn sàng và cam kết của sinh viên trong việc theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp thông qua công nghệ số.
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng AI chuyên sâu còn hạn chế. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi các doanh nghiệp xây dựng chịu áp lực đòn bẩy tài chính cao. Câu hỏi đặt ra là liệu AI có thực sự tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp hay không?
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh, nhà quản trị cần thông tin kịp thời, chính xác và có tính dự báo. Nếu kế toán tài chính chủ yếu phản ánh sự kiện đã xảy ra cho đối tượng bên ngoài, thì kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng đến tương lai, phục vụ trực tiếp việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ.
Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi dùng dịch vụ gửi tiết kiệm trực tuyến tại Agribank - Chi nhánh Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi dùng dịch vụ gửi tiết kiệm trực tuyến tại Agribank - Chi nhánh Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

Trong các nghiệp vụ được số hóa, gửi tiết kiệm trực tuyến liên quan trực tiếp đến tài sản tích lũy của khách hàng và là nguồn huy động vốn quan trọng của ngân hàng. Quyết định gửi tiền có kỳ hạn gắn với số tiền lớn và thời gian cam kết dài, nên khách hàng nhạy cảm hơn với rủi ro và độ ổn định của hệ thống.