Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội
Nguyễn Thị Thu Thảo
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Thông qua dữ liệu được thu thập từ 266 sinh viên, nghiên cứu này kiểm định các yếu tố nhận thức ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp số của sinh viên, dựa trên Lý thuyết Nhận thức xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Niềm tin vào năng lực bản thân có tác động tích cực đến Kỳ vọng về kết quả và Ý định khởi nghiệp số. Đồng thời, Kỳ vọng về kết quả cũng tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp số. Đáng chú ý, Giới tính điều tiết tích cực cả mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Ý định khởi nghiệp số, cũng như mối quan hệ giữa Kỳ vọng về kết quả và Ý định khởi nghiệp số, các tác động này mạnh hơn ở sinh viên nữ. Kết quả góp phần làm rõ cơ chế nhận thức hình thành ý định khởi nghiệp số và mở rộng vai trò của giới tính như một điều kiện biên trong mô hình. Về mặt thực tiễn, các cơ sở giáo dục và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp cần chú trọng phát triển năng lực thực hành, củng cố sự tự tin và giúp sinh viên nhận diện rõ các lợi ích của khởi nghiệp số, đồng thời thiết kế các hoạt động hỗ trợ phù hợp với khác biệt giới tính.
Từ khóa: Niềm tin vào năng lực bản thân, kỳ vọng về kết quả, ý định khởi nghiệp số, giới tính, sinh viên
Abstract
Using data collected from 266 students, the study examines the cognitive factors influencing students’ digital entrepreneurial intentions based on Social Cognitive Theory. The results show that self-efficacy has a positive effect on outcome expectations and digital entrepreneurial intentions. Outcome expectations also positively influence digital entrepreneurial intentions. Notably, gender positively moderates both the relationship between self-efficacy and digital entrepreneurial intentions and the relationship between outcome expectations and digital entrepreneurial intentions, with these effects being stronger among female students. These findings clarify the cognitive mechanisms underlying the formation of digital entrepreneurial intentions and extend the role of gender as a boundary condition in the research model. In practical terms, educational institutions and entrepreneurship support organizations should focus on developing students’ practical skills, strengthening their self-confidence, and helping them clearly recognize the benefits of digital entrepreneurship. They should also design support activities that take gender differences into account.
Keywords: Self-efficacy, outcome expectations, digital entrepreneurial intentions, gender, students
GIỚI THIỆU
Sự lan tỏa nhanh chóng của công nghệ kỹ thuật số đã định hình lại đáng kể bối cảnh khởi nghiệp, làm giảm các rào cản truyền thống trong việc thành lập doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho các cá nhân nhận diện, phát triển và khai thác cơ hội thông qua các nền tảng và công nghệ số (Nambisan, 2017). Khởi nghiệp số đã trở thành một con đường quan trọng để tham gia vào nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Trong bối cảnh đó, ý định khởi nghiệp số là yếu tố tiền đề quan trọng đối với sự tham gia khởi nghiệp trong tương lai, bởi nó phản ánh mức độ sẵn sàng và cam kết của sinh viên trong việc theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp thông qua công nghệ số (Pham và cộng sự, 2024). Việc hiểu rõ những yếu tố thúc đẩy sinh viên hình thành ý định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khi mà các trường đại học ngày càng đóng vai trò là môi trường giúp người trẻ tích lũy năng lực công nghệ, kiến thức khởi nghiệp và sự tự tin để theo đuổi các cơ hội nghề nghiệp mới nổi.
Sinh viên đại học là nhóm đối tượng đặc biệt phù hợp để nghiên cứu về ý định khởi nghiệp số. Sinh viên thường đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển sự nghiệp và có thể bị hạn chế về nguồn lực tài chính, mạng lưới kinh doanh cũng như kinh nghiệm khởi nghiệp thực tế (Fihla và Gavaza, 2026). Tuy nhiên, sự am hiểu về công nghệ số và việc tiếp xúc với các nền tảng kỹ thuật số lại có thể mở ra những con đường mới cho hoạt động khởi nghiệp. Do đó, quyết định cân nhắc khởi nghiệp số của sinh viên có thể ít phụ thuộc vào các nguồn lực khởi nghiệp sẵn có, mà chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi cách họ nhìn nhận năng lực bản thân và những kết quả mà họ kỳ vọng đạt được từ hoạt động khởi nghiệp. Vì vậy, việc xác định các yếu tố quyết định thuộc về nhận thức này là rất quan trọng để hiểu lý do tại sao một số sinh viên lại sẵn sàng theo đuổi các cơ hội khởi nghiệp số hơn những người khác.
Dựa trên Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - SCT) của Bandura (1986), nghiên cứu này tập trung vào 2 yếu tố nhận thức then chốt làm nền tảng cho ý định khởi nghiệp số của sinh viên: niềm tin vào năng lực và kỳ vọng về kết quả. Niềm tin vào năng lực bản thân phản ánh niềm tin của sinh viên về khả năng thực hiện thành công các hoạt động khởi nghiệp, trong khi kỳ vọng về kết quả thể hiện niềm tin của họ về những hệ quả tích cực có thể đạt được khi tham gia khởi nghiệp số. Những sinh viên tự tin vào khả năng làm chủ công nghệ số, nhận diện cơ hội và thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp thường có xu hướng kỳ vọng vào những kết quả thuận lợi và hình thành ý định mạnh mẽ hơn trong việc theo đuổi khởi nghiệp số (Santos và Liguori, 2019). Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa các niềm tin nhận thức này thành ý định khởi nghiệp có thể không đồng nhất giữa các cá nhân. Cụ thể, yếu tố giới tính có thể ảnh hưởng đến cách thức nhận thức về năng lực và kỳ vọng kết quả chuyển hóa thành ý định; điều này cho thấy việc xem xét giới tính như một yếu tố điều tiết có thể mang lại cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về ý định khởi nghiệp số.
Theo đó, nghiên cứu này tìm hiểu cách thức niềm tin vào năng lực bản thân và kỳ vọng về kết quả tác động đến ý định khởi nghiệp số của sinh viên, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của giới tính đối với các mối quan hệ này. Bằng cách tích hợp các mối quan hệ này vào khuôn khổ Lý thuyết SCT, nghiên cứu nhằm làm rõ các cơ chế nhận thức chi phối mức độ sẵn sàng tham gia khởi nghiệp số của sinh viên, cũng như xem xét liệu các cơ chế này có sự khác biệt giữa các nhóm giới tính hay không.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Lý thuyết nền tảng
Lý thuyết nhận thức xã hội (SCT) của Bandura (1986) cho rằng, hành vi và ý định của cá nhân được hình thành thông qua sự tương tác giữa các yếu tố nhận thức cá nhân, hành vi và môi trường. Trong Lý thuyết SCT, niềm tin vào năng lực thể hiện niềm tin của cá nhân vào khả năng thực hiện thành công một hành vi, trong khi kỳ vọng vào kết quả phản ánh những kết quả mà cá nhân dự kiến đạt được khi thực hiện hành vi đó. Niềm tin vào năng lực có thể thúc đẩy kỳ vọng vào kết quả bởi những cá nhân tin tưởng hơn vào năng lực của mình thường có xu hướng hình dung các kết quả tích cực và khả thi hơn. Đồng thời, cả niềm vào năng lực năng lực và kỳ vọng vào kết quả đều có thể định hướng ý định khởi nghiệp số, bởi niềm tin vào năng lực và kỳ vọng về kết quả tạo cơ sở nhận thức cho việc hình thành ý định khởi nghiệp trong môi trường số. Bên cạnh đó, Lý thuyết SCT thừa nhận vai trò của các đặc điểm cá nhân trong quá trình hình thành ý định; do đó, giới tính có thể làm thay đổi mức độ mà niềm tin vào năng lực và kỳ vọng vào kết quả được chuyển hóa thành ý định khởi nghiệp số.
Giả thuyết nghiên cứu
Niềm tin vào năng lực (SE) đề cập đến niềm tin của một cá nhân về khả năng thực hiện thành công một nhiệm vụ hoặc hành động cụ thể (Bandura, 1997). Trong khuôn khổ Lý thuyết SCT, niềm tin vào năng lực bản thân là một cơ chế nhận thức then chốt, định hình cách cá nhân nhìn nhận các thách thức, điều tiết nỗ lực và dự đoán hệ quả từ hành động của mình. Những cá nhân có niềm tin vào năng lực bản thân mạnh mẽ thường tự tin hơn vào khả năng thực hiện hành vi, và do đó, có xu hướng hình thành những kỳ vọng tích cực về các kết quả tiềm năng của hành vi đó (Sheu và cộng sự, 2018).
Kỳ vọng về kết quả (OE) đề cập đến niềm tin của cá nhân về những hệ quả hoặc kết quả có thể xảy ra khi thực hiện một hành vi cụ thể (Lent và cộng sự, 1994). Những kỳ vọng này có thể bao gồm các lợi ích dự kiến về mặt kinh tế, xã hội, cá nhân hoặc nghề nghiệp. Dưới góc độ của Lý thuyết SCT, kỳ vọng về kết quả tác động đến động lực bằng cách giúp cá nhân đánh giá xem liệu việc thực hiện một hành vi cụ thể có khả năng mang lại những kết quả mong muốn hay không.
Niềm tin của cá nhân về năng lực bản thân sẽ định hình cách họ dự đoán hệ quả từ hành động của mình. Những cá nhân có niềm tin vào năng lực bản thân cao hơn thường tự nhận thấy mình có khả năng thực hiện thành công các hoạt động khởi nghiệp; hệ quả là, họ có xu hướng kỳ vọng vào những kết quả tích cực hơn từ các hoạt động này (Santos và Liguori, 2019). Trong bối cảnh khởi nghiệp số, những cá nhân tự tin vào khả năng nhận diện cơ hội kỹ thuật số, ứng dụng công nghệ số và thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp thường kỳ vọng rằng việc tham gia khởi nghiệp số sẽ mang lại những kết quả mong muốn. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H1: Niềm tin vào năng lực có tác động tích cực đến Kỳ vọng về kết quả.
Ý định khởi nghiệp số (DEI) đề cập đến ý định và sự sẵn lòng có ý thức của một cá nhân trong việc khởi tạo một dự án kinh doanh mới bằng cách tận dụng các công nghệ kỹ thuật số, nền tảng kỹ thuật số hoặc các cơ hội kinh doanh được hỗ trợ bởi kỹ thuật số (Pham và cộng sự, 2023). Khái niệm này phản ánh mức độ động lực và sự chuẩn bị của cá nhân để theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp trong bối cảnh kỹ thuật số. Khác với ý định khởi nghiệp nói chung, DEI đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công nghệ kỹ thuật số trong việc nhận diện, phát triển và khai thác các cơ hội khởi nghiệp.
Theo Lý thuyết SCT, các cá nhân có nhiều khả năng hình thành ý định thực hiện một hành vi khi họ kỳ vọng rằng hành vi đó sẽ mang lại những kết quả mong muốn. Trong bối cảnh khởi nghiệp số, những cá nhân dự đoán được các kết quả thuận lợi từ việc tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp số thường coi khởi nghiệp số là một việc đáng làm và hấp dẫn. Do đó, những kỳ vọng tích cực về các lợi ích tiềm năng liên quan đến kinh tế, cá nhân hoặc sự nghiệp có thể củng cố động lực của các cá nhân trong việc theo đuổi các cơ hội khởi nghiệp số. Theo đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H2: Kỳ vọng về kết quả có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp số.
Niềm tin vào năng lực ảnh hưởng đến sự sẵn lòng thực hiện hành vi của các cá nhân bằng cách định hình nhận thức của họ về khả năng thực hiện thành công các hoạt động cần thiết. Những cá nhân có niềm tin vào năng lực bản thân cao thường coi các thách thức trong khởi nghiệp là những vấn đề có thể giải quyết được và thể hiện sự tự tin lớn hơn vào khả năng khai thác cơ hội của mình. Trong bối cảnh khởi nghiệp số, những cá nhân tin rằng họ có thể sử dụng hiệu quả công nghệ kỹ thuật số, nhận diện các cơ hội kỹ thuật số và thực hiện các nhiệm vụ khởi nghiệp sẽ có nhiều khả năng hình thành ý định mạnh mẽ hơn trong việc thành lập một doanh nghiệp kỹ thuật số. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H3: Niềm tin vào năng lực bản thân có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp số.
Giới tính có thể tạo ra sự khác biệt trong cách các cá nhân chuyển hóa những nhận thức cá nhân thành ý định hành vi (Wilson và cộng sự, 2007). Cụ thể, mức độ tin tưởng vào năng lực có thể dẫn đến ý định khởi nghiệp số khác nhau tùy theo giới tính, bởi các cá nhân thuộc các nhóm giới tính khác nhau có thể có những cách đánh giá và vận dụng niềm tin về năng lực bản thân khác nhau trong bối cảnh khởi nghiệp số. Tương tự, kỳ vọng về kết quả có thể tạo ra mức độ ảnh hưởng khác nhau đến ý định khởi nghiệp số tùy thuộc vào giới tính, do giới tính có thể gắn với những khác biệt trong cách cá nhân nhận thức, đánh giá và phản ứng với các kết quả kỳ vọng từ hoạt động khởi nghiệp. Do đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:
H4: Giới tính điều tiết tích cực mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực và Ý định khởi nghiệp số.
H5: Giới tính điều tiết tích cực mối quan hệ giữa Kỳ vọng vào kết quả và Ý định khởi nghiệp số.
Mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Tác giả đề xuất
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm kiểm định các mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực, Kỳ vọng về kết quả và Ý định khởi nghiệp số, đồng thời đánh giá vai trò điều tiết của Giới tính. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc đối với sinh viên đại học tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Dữ liệu được phân tích bằng PLS-SEM. Mô hình đo lường được đánh giá thông qua hệ số tải ngoài, Cronbach’s Alpha, độ tin cậy hội tụ (CR), phương sai trích trung bình (AVE) để kiểm định độ tin cậy và giá trị hội tụ. Mô hình cấu trúc được đánh giá dựa trên hệ số đường dẫn (β), t-value, p-value, với ý nghĩa thống kê được xác định thông qua bootstrapping. Vai trò điều tiết của giới tính được kiểm định bằng các biến tương tác Gender × SE và Gender × OE. Giới tính được mã hóa 1 = nữ và 0 = nam.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Kết quả kiểm định mô hình đo lường ở Bảng 1 cho thấy, các thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ theo đề xuất của Hair và cộng sự (2019). Cụ thể, Cronbach’s Alpha của 3 biến dao động từ 0,743 đến 0,837, đều vượt ngưỡng 0,70, cho thấy các thang đo có mức độ nhất quán nội tại phù hợp. Giá trị Composite Reliability (CR) nằm trong khoảng 0,838-0,887, tiếp tục xác nhận độ tin cậy của các thang đo. Bên cạnh đó, AVE của các biến đạt từ 0,565 đến 0,663, cao hơn ngưỡng 0,50, cho thấy mỗi biến tiềm ẩn giải thích được phần lớn phương sai của các chỉ báo tương ứng. Hệ số tải ngoài dao động từ 0,729 đến 0,857, đều vượt mức khuyến nghị 0,70. Nhìn chung, kết quả cho thấy, các thang đo Niềm tin vào năng lực, Kỳ vọng về kết quả và Ý định khởi nghiệp số đáp ứng các yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ, do đó có thể sử dụng cho việc kiểm định mô hình cấu trúc.
Bảng 1: Kiểm định Cronbach’s Alpha, độ tin cậy hội tụ, phương sai trích trung bình, hệ số tải ngoài
| Thang đo | Cronbach’s Alpha | Composite Reliability (CR) | AVE | Hệ số tải ngoài |
|---|---|---|---|---|
| Niềm tin vào năng lực (SE) | 0,837 | 0,884 | 0,604 | 0,757 – 0,795 |
| Kỳ vọng về kết quả (OE) | 0,830 | 0,887 | 0,663 | 0,760 – 0,857 |
| Ý định khởi nghiệp số (DEI) | 0,743 | 0,838 | 0,565 | 0,729 – 0,769 |
| Giới tính |
|
|
| 1,000 |
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu
Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc cho thấy, cả 5 giả thuyết đều được chấp nhận. Trước hết, Niềm tin vào năng lực có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến Kỳ vọng vào kết quả (β = 0,271; t = 4,800; p < 0,001), qua đó ủng hộ H1. Kết quả này cho thấy sinh viên càng tin tưởng vào khả năng thực hiện các hoạt động khởi nghiệp số thì càng có xu hướng hình thành những kỳ vọng tích cực về kết quả mà hoạt động này có thể mang lại.
Kỳ vọng vào kết quả cũng có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp số (β = 0,141; t = 2,109; p = 0,035), do đó H2 được chấp nhận. Bên cạnh đó, Niềm tin vào năng lực có tác động trực tiếp và tích cực đến Ý định khởi nghiệp số (β = 0,170; t = 2,698; p = 0,007), ủng hộ H3. Như vậy, cả niềm tin vào năng lực bản thân và kỳ vọng về kết quả đều đóng góp vào việc hình thành ý định khởi nghiệp số của sinh viên.
Đáng chú ý, kết quả kiểm định hiệu ứng điều tiết cho thấy, Giới tính làm gia tăng tác động của Niềm tin vào năng lực đến Ý định khởi nghiệp số (β = 0,264; t = 2,662; p = 0,008), ủng hộ H4. Đồng thời, Giới tính cũng điều tiết tích cực mối quan hệ giữa Kỳ vọng vào kết quả và Ý định khởi nghiệp số (β = 0,482; t = 4,708; p < 0,001), qua đó ủng hộ H5.
Bảng 2: Kiểm định giả thuyết
| Giả thuyết | Beta | t | p | Kết luận |
|---|---|---|---|---|
| H1: SE -> OE | 0,271 | 4,800 | 0,000 | Chấp nhận |
| H2: OE -> DEI | 0,141 | 2,109 | 0,035 | Chấp nhận |
| H3: SE -> DEI | 0,170 | 2,698 | 0,007 | Chấp nhận |
| H4: SE x giới tính -> DEI | 0,264 | 2,662 | 0,008 | Chấp nhận |
| H5: OE x giới tính -> DEI | 0,482 | 4,708 | 0,000 | Chấp nhận |
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu
Thảo luận
Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho vai trò của các yếu tố nhận thức trong việc hình thành Ý định khởi nghiệp số của sinh viên, đồng thời cho thấy Fiới tính là một điều kiện quan trọng trong quá trình chuyển hóa các nhận thức này thành Ý định khởi nghiệp số.
Thứ nhất, kết quả tác động của SE đối với OE có ý nghĩa thống kê (β = 0,271), từ đó ủng hộ H1 và phù hợp với lập luận của Lý thuyết nhận thức xã hội. Khi sinh viên tin tưởng hơn vào khả năng thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến khởi nghiệp số, họ có xu hướng đánh giá các kết quả tiềm năng của hoạt động này theo hướng tích cực hơn (Santos và Liguori, 2019). Nói cách khác, cách sinh viên nhìn nhận năng lực của bản thân có thể định hình cách họ nhìn nhận tương lai của hoạt động khởi nghiệp số. Kết quả này cho thấy niềm tin vào năng lực không chỉ là một nguồn động lực trực tiếp mà còn góp phần hình thành những kỳ vọng thuận lợi về kết quả.
Thứ hai, OE có tác động tích cực đến DEI (β = 0,141), ủng hộ H2. Điều này cho thấy sinh viên có xu hướng hình thành ý định khởi nghiệp số mạnh hơn khi họ tin rằng hoạt động này có thể mang lại những kết quả mong muốn. Tuy nhiên, mức độ tác động của OE tương đối khiêm tốn so với các hiệu ứng điều tiết được quan sát trong mô hình. Điều này gợi ý rằng việc nhìn thấy những lợi ích tiềm năng của khởi nghiệp số là cần thiết nhưng chưa đủ để tạo ra ý định mạnh mẽ; sinh viên còn cần cảm nhận rằng bản thân có khả năng thực hiện hoạt động đó.
Thứ ba, kết quả kiểm định mối quan hệ có ý nghĩa thống kê của SE và DEI (β = 0,170) xác nhận H3 và cho thấy niềm tin vào năng lực có vai trò trực tiếp trong việc hình thành ý định khởi nghiệp số. Sinh viên tin tưởng vào khả năng sử dụng công nghệ, nhận diện cơ hội và thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh có xu hướng sẵn sàng hơn trong việc cân nhắc khởi nghiệp số. Kết quả này đồng thời cho thấy SE có cả ảnh hưởng trực tiếp đến DEI và ảnh hưởng gián tiếp thông qua OE, phù hợp với logic của SCT rằng niềm tin về năng lực bản thân có thể ảnh hưởng đến ý định vừa trực tiếp vừa thông qua những đánh giá về kết quả kỳ vọng.
Thứ tư, đáng chú ý nhất là vai trò của giới tính. Kết quả H4 cho thấy, Giới tính làm mạnh hơn mối quan hệ giữa SE và DEI (β = 0,264), trong khi H5 cho thấy hiệu ứng điều tiết của Giới tính đối với quan hệ OE–DEI còn lớn hơn (β = 0,482). Với mã hóa nữ = 1, nam = 0, điều này hàm ý rằng niềm tin vào năng lực và kỳ vọng vào kết quả được chuyển hóa thành ý định khởi nghiệp số mạnh hơn ở sinh viên nữ. Kết quả này mở rộng SCT bằng cách cho thấy các yếu tố nhận thức không nhất thiết tạo ra cùng một mức độ ý định ở mọi cá nhân; tác động của chúng có thể phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, trong trường hợp này là giới tính.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết luận
Kết quả cho thấy, Niềm tin vào năng lực có tác động tích cực đến Kỳ vọng vào kết quả và Ý định khởi nghiệp xanh, trong khi Kỳ vọng vào kết quả cũng tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp xanh. Đáng chú ý, Giới tính điều tiết tích cực cả hai mối quan hệ Niềm tin vào năng lực - Ý định khởi nghiệp xanh và Kỳ vọng vào kết quả - Ý định khởi nghiệp xanh, cho thấy tác động của các yếu tố nhận thức đến ý định khởi nghiệp số mạnh hơn ở sinh viên nữ.
Hàm ý quản trị
Về mặt quản trị, các trường đại học và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp cần tập trung nâng cao niềm tin vào năng lực của sinh viên thông qua hoạt động thực hành, dự án khởi nghiệp số, dẫn dắt và trải nghiệm thực tế. Đồng thời, cần giúp sinh viên nhận diện rõ hơn các lợi ích và cơ hội của khởi nghiệp số để hình thành kỳ vọng vào kết quả tích cực. Do tác động của Niềm tin vào năng lực và Kỳ vọng về kết quả đến Ý định khởi nghiệp xanh mạnh hơn ở nữ, các chương trình hỗ trợ cũng nên chú ý đến đặc điểm giới tính, đặc biệt trong việc củng cố năng lực, sự tự tin và kỳ vọng của sinh viên nữ đối với khởi nghiệp số.
Tài liệu tham khảo:
1. Bandura, A. (1986). Social foundations of thought and action: A social cognitive theory. Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall
2. Fihla, S., Gavaza, B. K. (2026). Studentpreneurship at a South African university: Evaluating support mechanisms and institutional gaps. Administrative Sciences, 16(6).
3. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European business review, 31(1), 2-24.
4. Lent, R. W., Brown, S. D., & Hackett, G. (1994). Toward a unifying social cognitive theory of career and academic interest, choice, and performance. Journal of Vocational Behavior, 45(1), 79–122.
5. Nambisan, S. (2017). Digital entrepreneurship: Toward a digital technology perspective of entrepreneurship. Entrepreneurship Theory and Practice, 41(6), 1029–1055. https://doi.org/https://doi.org/10.1111/etap.12254
6. Pham, M., Nguyen, A. T. T., Tran, D. T., Mai, T. T., & Nguyen, V. T. (2023). The impact of entrepreneurship knowledge on students'e-entrepreneurial intention formation and the moderating role of technological innovativeness. Journal of Innovation and Entrepreneurship, 12(1), 80.
7. Pham, M., Lam, B. Q., Thi Nguyen, A. T., Thi Dinh, T. K., & Tran, H. Y. (2024). How do environment and innovativeness affect digital entrepreneurial intention through education? An explanation from the social cognitive career theory. Social Sciences &Amp; Humanities Open, 10, 101179. https://doi.org/10.1016/j.ssaho.2024.101179
8. Santos, S. C., & Liguori, E. W. (2019). Entrepreneurial self-efficacy and intentions. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, https://doi.org/10.1108/ijebr-07-2019-0436
9. Sheu, H.-B., Lent, R. W., Miller, M. J., Penn, L. T., Cusick, M. E., & Truong, N. N. (2018). Sources of self-efficacy and outcome expectations in science, technology, engineering, and mathematics domains: A meta-analysis. Journal of Vocational Behavior, 109, 118–136. https://doi.org/10.1016/j.jvb.2018.10.003
10. Wilson, F., Kickul, J., & Marlino, D. (2007). Gender, entrepreneurial self-efficacy, and entrepreneurial career intentions: Implications for entrepreneurship education. Entrepreneurship Theory and Practice, 31(3), 387–406. https://doi.org/10.1111/j.1540-6520.2007.00179.x
| Ngày nhận bài: 7/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/10/2026; Ngày duyệt đăng: 3/11/2026 |
Các tin khác
Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu
Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế
Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro
Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP
Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai
Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số
