Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp
Nguyễn Thị Mực
Học viên Cao học, Trường Đại học Đồng Tháp; Email: [email protected]
TS. Lê Văn Tuấn (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Đồng Tháp; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định chọn ngành học khối Kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp. Kết quả cho thấy, có 6 nhân tố đều ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến Quyết định chọn ngành học, theo thứ tự giảm dần: Truyền thông, Nhóm tham khảo, Đặc điểm ngành học, Đặc điểm trường học, Cơ hội nghề nghiệp và Đặc điểm cá nhân. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần định hướng người học lựa chọn ngành học khối Kinh tế phù hợp hơn.
Từ khóa: Quyết định chọn ngành học, khối kinh tế, Trường Cao đẳng Đồng Tháp
Abstract
This study identifies and measures the effects of various factors on students’ decisions to choose economics-related majors at Dong Thap College. The results reveal that six factors have statistically significant positive effects on students’ major choice decisions. Ranked in descending order of influence, these factors are communication, reference groups, major characteristics, institutional characteristics, career opportunities, and personal characteristics. Based on these findings, the study proposes several recommendations to help prospective students make more informed and appropriate choices when selecting economics-related majors.
Keywords: Major choice decision, economics-related majors, Dong Thap College
GIỚI THIỆU
Lựa chọn ngành học là một trong những quyết định quan trọng trong quá trình định hướng nghề nghiệp của người học, có ảnh hưởng đến kết quả học tập, mức độ gắn bó với ngành và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp. Các nghiên cứu tại Jordan (Al-Rfou, 2013), Nigeria (Odia và Ogiedu, 2013), Oman (Al-Lawati và cộng sự, 2017) và Ả Rập Xê Út (Aldawsari, 2024) cho thấy, quyết định này chịu tác động đồng thời của đặc điểm cá nhân, cơ hội nghề nghiệp, đặc điểm ngành học, cơ sở đào tạo và nhóm tham khảo như gia đình, bạn bè, thầy cô.
Tại Việt Nam, chủ đề này đã được nghiên cứu tại Trường Đại học Hoa Lư (Phạm Thị Hương, 2022), Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (Hoàng Thị Xuân, 2023) và Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (Lưu Hớn Vũ, 2026). Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào sinh viên đại học; bằng chứng thực nghiệm đối với sinh viên cao đẳng, nhất là khối ngành Kinh tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, còn hạn chế.
Trường Cao đẳng Đồng Tháp được hình thành trên cơ sở sáp nhập các Trường Trung cấp Thanh Bình, Hồng Ngự và Tháp Mười vào Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp. Giai đoạn 2023-2025, quy mô tuyển sinh của Nhà trường tăng từ 1.289 lên 2.054 người (tăng 59,3%); riêng khối Kinh tế, gồm hai ngành Kế toán và Quản trị kinh doanh trình độ cao đẳng, tăng từ 69 lên 216 sinh viên (tăng 213,0%), nâng tỷ trọng trong tổng tuyển sinh từ 5,4% lên 10,5% (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2026). Tuy vậy, số lượng tăng chưa đồng nghĩa với việc người học đã chọn ngành phù hợp với năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp của bản thân.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định chọn ngành học khối Kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp, qua đó cung cấp cơ sở cho Nhà trường trong công tác tư vấn, định hướng ngành học cho người học.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Quyết định chọn ngành học là kết quả của quá trình người học nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án và lựa chọn một ngành học phù hợp để theo học (Đồng Thị Bích, 2017). Nghiên cứu sử dụng ba lý thuyết nền. Thuyết hành động hợp lý - TRA (Fishbein và Ajzen, 1975) và Thuyết hành vi có kế hoạch - TPB (Ajzen, 1991) cho rằng, hành vi của cá nhân chịu tác động của thái độ, được hình thành từ niềm tin về kết quả của hành vi, và chuẩn chủ quan, tức kỳ vọng của những người có ảnh hưởng. Thuyết hành vi người tiêu dùng của Kotler và Keller (2009) mô tả quá trình ra quyết định gồm nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá phương án, quyết định và hành vi sau quyết định; trong bối cảnh giáo dục, cơ sở đào tạo được xem là nhà cung cấp dịch vụ và người học là người ra quyết định lựa chọn.
Đặc điểm cá nhân phản ánh mức độ phù hợp giữa ngành học với sở thích, tính cách, năng lực học tập và điều kiện tài chính của người học. Theo TRA và TPB, khi người học tin rằng, ngành học phù hợp với bản thân, thái độ đối với việc chọn ngành trở nên tích cực hơn. Odia và Ogiedu (2013) và Hoàng Thị Xuân (2023) đều ghi nhận vai trò nổi bật của sở thích và năng lực cá nhân.
Cơ hội nghề nghiệp phản ánh nhận thức của người học về khả năng tìm việc làm, thu nhập và triển vọng thăng tiến sau tốt nghiệp. Trong giai đoạn đánh giá phương án, cá nhân cân nhắc lợi ích kỳ vọng của từng lựa chọn (Kotler và Keller, 2009). Al-Rfou (2013) và Lưu Hớn Vũ (2026) đều ghi nhận nhân tố này có ảnh hưởng mạnh.
Nhóm tham khảo gồm: gia đình, thầy cô, bạn bè, sinh viên khóa trước và chuyên viên tư vấn tuyển sinh, tương ứng với chuẩn chủ quan trong TRA và TPB. Al-Rfou (2013) và Aldawsari (2024) cho thấy, vai trò nổi bật của cha mẹ và người thân, trong khi nghiên cứu của Lưu Hớn Vũ (2026) lại không tìm thấy ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê của nhân tố này.
Đặc điểm trường học gồm: học phí, học bổng, vị trí địa lý, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, môi trường học tập và dịch vụ hỗ trợ người học. Aldawsari (2024) và Lưu Hớn Vũ (2026) đều ghi nhận nhân tố này có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định chọn ngành.
Đặc điểm ngành học phản ánh những đặc tính khách quan của ngành, gồm nhu cầu nhân lực, triển vọng việc làm chung và phạm vi kiến thức ngành trang bị. Khác với Cơ hội nghề nghiệp vốn tiếp cận ở cấp độ kỳ vọng cá nhân, nhân tố này được tiếp cận ở cấp độ ngành (Phạm Thị Hương, 2022; Odia và Ogiedu, 2013).
Truyền thông phản ánh vai trò của các kênh thông tin như báo chí, internet, mạng xã hội, tham quan trực tiếp và hoạt động tư vấn tuyển sinh, tương ứng với bước tìm kiếm thông tin trong mô hình của Kotler và Keller (2009). Các nghiên cứu của Al-Rfou (2013) và Lưu Hớn Vũ (2026) đều ghi nhận mức ảnh hưởng thấp hoặc không có ý nghĩa thống kê.
Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
Trên cơ sở kế thừa mô hình của Phạm Thị Hương (2022) và kết quả tổng quan 7 nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu đề xuất mô hình gồm 6 nhân tố độc lập và 1 biến phụ thuộc (Hình).
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
H1: Đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế.
H2: Cơ hội nghề nghiệp có ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế.
H3: Nhóm tham khảo có ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế.
H4: Đặc điểm trường học có ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế.
H5: Đặc điểm ngành học có ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế.
H6: Truyền thông có ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Ở giai đoạn định tính, nhóm tác giả phỏng vấn 5 chuyên gia có từ 3-15 năm kinh nghiệm trong quản lý đào tạo và tuyển sinh tại Trường Cao đẳng Đồng Tháp để điều chỉnh cách diễn đạt và nội dung các biến quan sát. Thang đo chính thức gồm 30 biến quan sát: 27 biến thuộc sáu nhân tố độc lập và 3 biến đo lường quyết định chọn ngành học, sử dụng thang Likert 5 mức độ từ 1 “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 “Hoàn toàn đồng ý”.
Khảo sát chính thức được thực hiện trực tuyến qua Google Forms theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện, đối tượng là sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ ba ngành Kế toán và Quản trị kinh doanh trình độ cao đẳng. Trong 272 phiếu phát ra, 254 phiếu hợp lệ được sử dụng (tỷ lệ 93,4%). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kiểm định thang đo
Kết quả (Bảng 1) cho thấy, cả 7 thang đo đều đạt độ tin cậy và toàn bộ 30 biến quan sát được giữ lại. Hệ số Cronbach’s Alpha của sáu thang đo độc lập dao động từ 0,850 đến 0,890, thang đo Quyết định chọn ngành học đạt 0,764, đều vượt ngưỡng 0,7 (Nunnally và Bernstein, 1994); hệ số tương quan biến - tổng thấp nhất là 0,555 (QD1), > 0,3.
Bảng 1: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
| Thang đo | Ký hiệu | Số biến quan sát | Cronbach’s Alpha | Tương quan biến - tổng nhỏ nhất |
|---|---|---|---|---|
| Đặc điểm cá nhân | DDCN | 3 | 0,855 | 0,719 |
| Cơ hội nghề nghiệp | CHNN | 5 | 0,878 | 0,683 |
| Nhóm tham khảo | NTK | 5 | 0,859 | 0,634 |
| Đặc điểm trường học | DDTH | 7 | 0,890 | 0,671 |
| Đặc điểm ngành học | DDNH | 3 | 0,850 | 0,685 |
| Truyền thông | TT | 4 | 0,879 | 0,712 |
| Quyết định chọn ngành học | QD | 3 | 0,764 | 0,555 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên SPSS, 2026
Phân tích nhân tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với biến độc lập (Bảng 2) cho thấy, với 27 biến độc lập rút trích đúng 6 nhân tố, trùng khớp với mô hình đề xuất và không có biến nào bị loại. Phân tích sử dụng phương pháp trích Principal Component kết hợp phép xoay Varimax. Hệ số KMO bằng 0,869 và kiểm định Bartlett có Chi bình phương bằng 3.480,815 với Sig. = 0,000, cho thấy dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Sáu nhân tố có Eigenvalue từ 1,585 trở lên, tổng phương sai trích đạt 68,715% (> 50%); hệ số tải của các biến dao động từ 0,739 (NTK1) đến 0,864 (DDNH2) và mỗi biến chỉ tải lên một nhân tố, bảo đảm giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.
Bảng 2: Ma trận nhân tố xoay của các biến độc lập
| Biến quan sát | Nhân tố | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | |
| DDTH3 | 0,785 |
|
|
|
|
|
| DDTH5 | 0,778 |
|
|
|
|
|
| DDTH6 | 0,760 |
|
|
|
|
|
| DDTH4 | 0,753 |
|
|
|
|
|
| DDTH7 | 0,752 |
|
|
|
|
|
| DDTH1 | 0,745 |
|
|
|
|
|
| DDTH2 | 0,742 |
|
|
|
|
|
| CHNN2 |
| 0,811 |
|
|
|
|
| CHNN1 |
| 0,808 |
|
|
|
|
| CHNN5 |
| 0,801 |
|
|
|
|
| CHNN4 |
| 0,774 |
|
|
|
|
| CHNN3 |
| 0,760 |
|
|
|
|
| NTK2 |
|
| 0,825 |
|
|
|
| NTK4 |
|
| 0,796 |
|
|
|
| NTK3 |
|
| 0,790 |
|
|
|
| NTK5 |
|
| 0,750 |
|
|
|
| NTK1 |
|
| 0,739 |
|
|
|
| TT2 |
|
|
| 0,849 |
|
|
| TT4 |
|
|
| 0,840 |
|
|
| TT3 |
|
|
| 0,810 |
|
|
| TT1 |
|
|
| 0,782 |
|
|
| DDCN3 |
|
|
|
| 0,858 |
|
| DDCN1 |
|
|
|
| 0,841 |
|
| DDCN2 |
|
|
|
| 0,834 |
|
| DDNH2 |
|
|
|
|
| 0,864 |
| DDNH3 |
|
|
|
|
| 0,845 |
| DDNH1 |
|
|
|
|
| 0,813 |
| Tên nhân tố | DDTH | CHNN | NTK | TT | DDCN | DDNH |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên SPSS, 2026
Kết quả phân tích EFA đối với biến phụ thuộc, hệ số KMO bằng 0,688, kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000; 1 nhân tố duy nhất được rút trích với Eigenvalue = 2,038 và tổng phương sai trích đạt 67,932%. Ba biến QD1, QD2, QD3 có hệ số tải từ 0,795 đến 0,850, khẳng định tính đơn hướng của thang đo.
Phân tích tương quan và hồi quy
Phân tích tương quan Pearson cho thấy, quyết định chọn ngành học tương quan thuận với cả sáu biến độc lập (r từ 0,447 đến 0,537; Sig. = 0,000). Mô hình hồi quy có R² hiệu chỉnh bằng 0,608, nghĩa là 6 nhân tố giải thích được 60,8% sự biến thiên của quyết định chọn ngành học; kiểm định F = 66,427 với Sig. = 0,000 khẳng định mô hình phù hợp với dữ liệu.
Kết quả phân tích hồi quy (Bảng 3) cho thấy, cả 6 nhân tố đều ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến Quyết định chọn ngành học (Sig. < 0,05), nên 6 giả thuyết H1-H6 đều được chấp nhận. Phương trình hồi quy chuẩn hóa được xác định như sau:
QD = 0,276TT + 0,221NTK + 0,221DDNH + 0,200DDTH + 0,178CHNN + 0,174DDCN
Bảng 3: Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến
| Biến | B | Sai số chuẩn | Beta | t | Sig. | VIF |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Hằng số | 1,062 | 0,129 |
| 8,244 | 0,000 |
|
| TT | 0,151 | 0,024 | 0,276 | 6,243 | 0,000 | 1,262 |
| NTK | 0,125 | 0,024 | 0,221 | 5,179 | 0,000 | 1,176 |
| DDNH | 0,120 | 0,024 | 0,221 | 5,090 | 0,000 | 1,216 |
| DDTH | 0,112 | 0,024 | 0,200 | 4,661 | 0,000 | 1,194 |
| CHNN | 0,100 | 0,026 | 0,178 | 3,906 | 0,000 | 1,342 |
| DDCN | 0,099 | 0,025 | 0,174 | 4,032 | 0,000 | 1,202 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên SPSS, 2026
Ngoài ra, các giả định của mô hình hồi quy đều được đáp ứng. Hệ số VIF dao động từ 1,176 đến 1,342 (< 2) nên không xảy ra đa cộng tuyến; hệ số Durbin-Watson bằng 2,241 nằm trong khoảng 1,5-2,5 nên các phần dư độc lập; biểu đồ Histogram, P-P Plot và Scatterplot cho thấy phần dư có phân phối xấp xỉ chuẩn và phương sai không đổi.
Thảo luận
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, 3 nhân tố mạnh nhất là Truyền thông, Nhóm tham khảo và Đặc điểm ngành học đều liên quan đến nguồn thông tin người học tiếp nhận về ngành. Điều này cho thấy, quyết định chọn ngành học khối Kinh tế của sinh viên cao đẳng phụ thuộc đáng kể vào chất lượng và mức độ đầy đủ của thông tin. Mức độ ảnh hưởng của 6 nhân tố không chênh lệch lớn (Beta từ 0,174 đến 0,276), phản ánh quyết định chọn ngành là kết quả tác động đồng thời của nhiều nhóm nhân tố. Mức độ giải thích của mô hình (60,8%) tương đương nghiên cứu của Lưu Hớn Vũ (2026) với R² hiệu chỉnh bằng 0,633. Cụ thể:
Truyền thông có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,276), khác với Al-Rfou (2013) và Lưu Hớn Vũ (2026), nơi nhân tố này có mức ảnh hưởng thấp hoặc không có ý nghĩa thống kê. Sinh viên tiếp cận thông tin chủ yếu qua internet, mạng xã hội (trung bình 3,67) và tham quan trực tiếp tại trường (3,63); trong khi hoạt động truyền thông, tư vấn tuyển sinh do Nhà trường tổ chức có mức đánh giá thấp nhất (3,46). Như vậy, kênh có tác động lớn nhất đến người học lại chưa được Nhà trường khai thác tương xứng.
Nhóm tham khảo (β = 0,221) có ảnh hưởng đáng kể, nhưng cơ cấu bên trong khác với Al-Rfou (2013) và Aldawsari (2024), nơi cha mẹ là nguồn ảnh hưởng mạnh nhất. Trong nghiên cứu này, thầy cô giáo (3,64) và sinh viên đang theo học tại trường (3,62) được đánh giá cao hơn định hướng của gia đình (3,51). Nguyên nhân có thể là gia đình người học chưa có nhiều thông tin chuyên sâu về các ngành Kinh tế trình độ cao đẳng, nên người học tìm đến những người hiểu trực tiếp về ngành và môi trường đào tạo.
Đặc điểm ngành học (β = 0,221) và Đặc điểm trường học (β = 0,200) đều có ảnh hưởng rõ rệt, phù hợp với Al-Lawati và cộng sự (2017) và Lưu Hớn Vũ (2026). Người học đánh giá cao nhu cầu nhân lực của ngành (3,68), dịch vụ hỗ trợ (3,70) và môi trường học tập (3,67), nhưng chỉ ở mức trung lập đối với phạm vi kiến thức mà ngành trang bị (3,40).
Cơ hội nghề nghiệp (β = 0,178) và Đặc điểm cá nhân (β = 0,174) có mức ảnh hưởng thấp nhất, khác với phần lớn nghiên cứu trước (Al-Rfou, 2013; Hoàng Thị Xuân, 2023; Lưu Hớn Vũ, 2026). Nhận thức về nhu cầu tuyển dụng của ngành chỉ đạt 3,34, thấp nhất trong các biến độc lập; khi người học chưa nắm rõ thông tin thị trường lao động, cơ hội nghề nghiệp khó trở thành động lực chính. Trong nhân tố Đặc điểm cá nhân, sự phù hợp với tài chính gia đình (3,69) được đánh giá cao hơn sự phù hợp với năng lực học tập (3,56), phản ánh đặc điểm người học trình độ cao đẳng tại địa phương.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Kết quả nghiên cứu đã xác định 6 nhân tố ảnh hưởng cùng chiều đến Quyết định chọn ngành học khối Kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp, theo thứ tự giảm dần: Truyền thông, Nhóm tham khảo, Đặc điểm ngành học, Đặc điểm trường học, Cơ hội nghề nghiệp và Đặc điểm cá nhân. Kết quả cho thấy chất lượng thông tin về ngành học là yếu tố then chốt định hình lựa chọn của người học. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần định hướng người học lựa chọn ngành học phù hợp:
Thứ nhất, đổi mới hoạt động truyền thông, tư vấn về ngành học. Nhà trường cần xây dựng nội dung truyền thông đầy đủ, trung thực về chương trình đào tạo, yêu cầu năng lực và vị trí việc làm của từng ngành; phát triển kênh mạng xã hội của Khoa Kinh tế với video ngắn, hỏi đáp trực tuyến cùng giảng viên và cựu sinh viên; tổ chức ngày hội trải nghiệm, học thử tại trụ sở chính và các địa điểm đào tạo Sa Đéc, Hồng Ngự, Thanh Bình, Tháp Mười.
Thứ hai, phát huy vai trò của nhóm tham khảo. Khoa Kinh tế cần xây dựng đội ngũ giảng viên tư vấn ngành học, thành lập nhóm sinh viên và cựu sinh viên chia sẻ kinh nghiệm học tập, làm việc; đồng thời cung cấp tài liệu giới thiệu ngành dành cho phụ huynh và phối hợp với giáo viên hướng nghiệp tại các trường trung học trên địa bàn.
Thứ ba, giới thiệu rõ đặc điểm và chuẩn đầu ra của ngành học. Nhà trường cần công khai chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, học phần chính; làm rõ sự khác biệt giữa ngành Kế toán và Quản trị kinh doanh; cập nhật chương trình theo các xu hướng mới như kế toán số, thương mại điện tử.
Thứ tư, nâng cao chất lượng môi trường học tập và dịch vụ hỗ trợ. Nhà trường cần chuẩn hóa dịch vụ hỗ trợ người học thống nhất giữa trụ sở chính và các địa điểm đào tạo sau sáp nhập; công khai thông tin học phí, học bổng, miễn giảm ngay từ giai đoạn tư vấn.
Thứ năm, cung cấp thông tin thị trường lao động. Nhà trường cần định kỳ công bố nhu cầu tuyển dụng, vị trí việc làm và kết quả khảo sát việc làm của sinh viên tốt nghiệp khối Kinh tế; phát huy mạng lưới hơn 100 doanh nghiệp liên kết thông qua ngày hội nghề nghiệp và kiến tập sớm.
Thứ sáu, hỗ trợ người học tự đánh giá sự phù hợp của bản thân với ngành học. Nhà trường cần đưa công cụ đánh giá sở thích, năng lực nghề nghiệp vào tư vấn chọn ngành; theo dõi mức độ thích nghi của sinh viên năm thứ nhất để kịp thời hỗ trợ.
Nghiên cứu còn một số hạn chế. Mẫu được chọn theo phương pháp phi xác suất thuận tiện tại một trường; đối tượng khảo sát là sinh viên đã nhập học nên câu trả lời có thể chịu ảnh hưởng của trải nghiệm sau nhập học. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang học sinh đang trong giai đoạn chọn ngành, áp dụng chọn mẫu phân tầng và bổ sung các nhân tố như khả năng trúng tuyển, cơ hội học tập nâng cao trình độ.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.
2. Aldawsari, R. (2024). Influences on undergraduate college students’ choice of major. Educational Administration: Theory and Practice, 30(10). https://doi.org/10.53555/kuey.v30i10.7906
3. Al-Lawati, E., Renjith, R., and Subramaniam, R. (2017). An empirical study on factors influencing business students’ choice of specialization with reference to Nizwa College of Technology, Oman. International Business Research, 10(9), 177-187.
4. Al-Rfou, A. N. (2013). Factors that influence the choice of business major evidence from Jordan. IOSR Journal of Business and Management, 8(2), 104-108.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Quyết định số 2604/QĐ-BGDĐT ngày 03/9/2026 về việc sáp nhập Trường Trung cấp Thanh Bình, Trường Trung cấp Hồng Ngự, Trường Trung cấp Tháp Mười vào Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp và đổi tên thành Trường Cao đẳng Đồng Tháp.
6. Đồng Thị Bích (2017). Nghiên cứu những nhân tố tác động đến quyết định chọn ngành học của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
7. Fishbein, M., and Ajzen, I. (1975). Belief, attitude, intention, and behavior: An introduction to theory and research. Addison-Wesley.
8. Hoàng Thị Xuân (2023). Các nhân tố tác động đến lựa chọn ngành học của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tạp chí Giáo dục, 23(20), 60-64.
9. Kotler, P., and Keller, K. L. (2009). Quản trị Marketing. NXB Lao động - Xã hội.
10. Lưu Hớn Vũ (2026). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành Ngôn ngữ Anh của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 23(4), 860-872.
11. Nunnally, J. C., and Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory (3rd ed.). McGraw-Hill.
12. Odia, J. O., and Ogiedu, K. O. (2013). Factors affecting the study of accounting in Nigerian universities. Journal of Educational and Social Research, 3(3), 89-96.
13. Phạm Thị Hương (2022). Những nhân tố tác động đến quyết định chọn ngành học khối kinh tế của sinh viên khoa Kinh tế, Trường Đại học Hoa Lư (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở). Trường Đại học Hoa Lư.
14. UBND tỉnh Đồng Tháp (2026). Đề án số 1255/ĐA-UBND ngày 18/8/2026, Phụ lục 3: Kết quả đào tạo từ năm 2023-2025 của Trường Cao đẳng Cộng đồng.
| Ngày nhận bài: 15/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 31/10/2026; Ngày duyệt đăng: 6/11/2026 |
Các tin khác
Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu
Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế
Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro
Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP
Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai
Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch
Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số
