Các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức của sinh viên: Nghiên cứu điển hình tại Đại học Thái Nguyên

Nghiên cứu - Trao đổi 14:57 | 26/02/2026
Lợi thế cạnh tranh của các trường đại học hiện đại không chỉ nằm ở chương trình đào tạo hay đội ngũ giảng viên mà còn ở khả năng hình thành cho sinh viên năng lực tự học, tư duy phản biện, sáng tạo và khả năng hợp tác. Trong bối cảnh đó, chia sẻ tri thức đóng vai trò quan trọng.

Hà Thị Thanh Hoa

Khoa Kinh doanh & Logistics - Trường Đại học Kinh tế & QTKD

Tạ Thị Huyền

Lớp K19 QTKD A - Trường Đại học Kinh tế & QTKD

Đặng Thị Dịu

Khoa Kế toán - Trường Đại học Kinh tế & QTKD

Tóm tắt

Chia sẻ tri thức được xem là một trong những yếu tố then chốt góp phần nâng cao hiệu quả học tập và phát triển năng lực toàn diện của sinh viên. Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của sinh viên tại Đại học Thái Nguyên, tập trung vào 25 chỉ mục thuộc 5 nhóm yếu tố đại diện cho các khía cạnh cá nhân, xã hội và thể chế. Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố: Thái độ đối với chia sẻ tri thức, Sự cạnh tranh, Niềm tin vào tri thức cá nhân, Văn hóa nhà trường và Công nghệ thông tin đều có tác động tích cực đến Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên. Từ đó, nghiên cứu gợi ý các cơ sở giáo dục đại học thực hiện các giải pháp nhằm hỗ trợ hiệu quả hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên.

Từ khóa: Tri thức, chia sẻ tri thức, sinh viên, nhân tố ảnh hưởng, Đại học Thái Nguyên

Summary

Knowledge sharing is a key factor in enhancing learning effectiveness and the comprehensive development of students’ competencies. This study aims to identify the factors influencing knowledge-sharing behavior among students at Thai Nguyen University, focusing on 25 observed variables grouped into five categories representing individual, social, and institutional dimensions. The analytical results indicate that the following factors: attitude toward knowledge sharing, competition, trust in personal knowledge, school culture, and information technology, have positive effects on students’ knowledge-sharing activities. Based on these findings, the study suggests that higher education institutions implement appropriate measures to effectively support and promote students’ knowledge-sharing practices.

Keywords: Knowledge, knowledge sharing, students, influencing factors, Thai Nguyen University

GIỚI THIỆU

Trong giáo dục đại học, xu hướng chuyển dịch từ mô hình đào tạo truyền thụ sang mô hình học tập lấy người học làm trung tâm đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với sự tham gia chủ động của sinh viên trong quá trình học tập. Lợi thế cạnh tranh của các trường đại học hiện đại không chỉ nằm ở chương trình đào tạo hay đội ngũ giảng viên mà còn ở khả năng hình thành cho sinh viên năng lực tự học, tư duy phản biện, sáng tạo và khả năng hợp tác. Trong bối cảnh đó, chia sẻ tri thức đóng vai trò quan trọng.

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học và giáo dục đã chỉ ra rằng, chia sẻ tri thức không chỉ giúp sinh viên củng cố kiến thức cá nhân mà còn góp phần hình thành cộng đồng học tập, thúc đẩy đổi mới và sáng tạo. Khi sinh viên được khuyến khích chia sẻ tri thức, họ có cơ hội học hỏi lẫn nhau, phát triển kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề.

Đại học Thái Nguyên là một đại học vùng đa ngành, có vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên tại đây vẫn chưa thực sự hiệu quả; nhiều sinh viên còn thiếu chủ động trong học tập, khả năng tư duy phản biện và chia sẻ học thuật còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên tại Đại học Thái Nguyên là cần thiết, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Có sở lý thuyết

Theo Tiwana (2000), tri thức được hiểu là thông tin có khả năng hành động, được cung cấp kịp thời, đúng địa điểm và ở định dạng phù hợp nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định. Elias và Hassan (2003) cho rằng, tri thức là sự hiểu biết mà con người hình thành về một lĩnh vực cụ thể thông qua quá trình nghiên cứu, phân tích và trải nghiệm thực tiễn.

Lee và cộng sự (2002) định nghĩa chia sẻ tri thức là hành động có chủ đích nhằm giúp người khác có thể tái sử dụng kiến thức. Nonaka và Takeuchi (1995) nhấn mạnh rằng chia sẻ tri thức là một quá trình 2 chiều, bao gồm “cho” và “nhận”, phụ thuộc vào nỗ lực có ý thức của từng cá nhân trong việc lan truyền và tiếp nhận kiến thức. Wang (1999) xem chia sẻ tri thức là quá trình chuyển đổi tri thức từ dạng ẩn tồn tại trong tâm trí con người sang dạng hiện có thể diễn đạt, ghi chép và chia sẻ…

Nguyễn Thị Bích Liên (2024) khẳng định rằng sinh viên tham gia hoạt động chia sẻ tri thức thường đạt kết quả học tập cao hơn nhờ quá trình này giúp củng cố và hệ thống hóa kiến thức, đồng thời mở rộng khả năng tiếp thu và ứng dụng kiến thức mới. Nonaka và Takeuchi (1995) chỉ ra rằng, chia sẻ tri thức không chỉ giúp sinh viên mở rộng kiến thức mà còn hình thành khả năng tư duy phản biện, sáng tạo và giải quyết vấn đề một cách toàn diện. Theo Hà Thị Thùy Trang (2024), việc trao đổi tri thức giữa sinh viên không chỉ giúp gia tăng hiểu biết mà còn tạo nên tinh thần hợp tác, gắn kết giữa các thành viên, từ đó hình thành một văn hóa học thuật tích cực, bền vững...

Nguyễn Lê Nhân (2021) đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của sinh viên, bao gồm phần thưởng, công nghệ thông tin, niềm tin vào tri thức và làm việc nhóm. Theo Nguyễn Thị Hồng Nguyệt và cộng sự (2023), chia sẻ tri thức là một trong 3 hoạt động quan trọng của quản trị tri thức, không chỉ giúp tổ chức có lợi thế cạnh tranh mà giúp tổ chức ngày càng thành công hơn. Nguyễn Duy Thục và Nguyễn Phương Quỳnh (2024) đã chứng minh bằng thực nghiệm mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa công nghệ thông tin và các học phần đào tạo.

Al-Alawi và cộng sự (2007) đã chỉ rõ, 5 nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến hành vi chia sẻ tri thức gồm: niềm tin giữa các thành viên, cơ chế khen thưởng, giao tiếp nội bộ, cơ cấu tổ chức và hệ thống công nghệ thông tin, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảm thiểu rào cản và thúc đẩy dòng chảy tri thức. Zaqout và Abbas (2012) cho thấy, niềm tin, mạng xã hội và hệ thống công nghệ thông tin có ảnh hưởng tích cực đến việc chia sẻ tri thức hiện và tri thức ngầm của sinh viên.

Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết trên, tác giả đề xuất các giả thuyết nghiên cứu như sau:

H1: Thái độ với việc chia sẻ tri thức ảnh hưởng tích cực đến Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên.

H2: Niềm tin vào tri thức cá nhân ảnh hưởng tích cực đến Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên.

H3: Văn hóa nhà trường ảnh hưởng tích cực đến Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên.

H4: Sự cạnh tranh ảnh hưởng tích cực đến Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên.

H5: Công nghệ thông tin ảnh hưởng tích cực đến Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên.

Mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm các biến: Thái độ với việc chia sẻ tri thức (AT), Niềm tin vào tri thức cá nhân (BE), Văn hóa nhà trường (CS), Sự cạnh tranh (CP) và Công nghệ thông tin (IT), được kỳ vọng tác động tích cực đến hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên (KS) như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức của sinh viên: Nghiên cứu điển hình tại Đại học Thái Nguyên

Nguồn: Tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với bảng hỏi cấu trúc. Dữ liệu được thu thập từ sinh viên thuộc Đại học Thái Nguyên theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Trong tổng số 400 phiếu phát ra, có 368 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích, đáp ứng yêu cầu về kích thước mẫu theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2018). Tỷ lệ sinh viên trả lời khảo sát thuộc các trường trong Đại học Thái Nguyên phân bổ như sau: Trường Đại học Sư phạm 14.5%; Trường Đại học Y - Dược 16%; Trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp 22.1%; Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh 17.5%; Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông 18.5%; các trường khác 11.4%.

Các biến nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức. Mỗi biến độc lập và biến phụ thuộc được đo bằng 5 chỉ mục quan sát. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, thông qua các bước kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích phương sai (ANOVA) và hồi quy tuyến tính.

Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tất cả các thang đo đều được kiểm tra độ tin cậy và đạt điểm Cronbach’s Alpha ở mức chấp nhận được. Cụ thể, tất cả các yếu tố đều có hệ số lớn hơn 0.7 và nhỏ hơn 0.9. Điều này cho thấy độ tin cậy của các yếu tố được đánh giá là rất tốt. Do đó, thang đo của các yếu tố có độ tin cậy đủ để được đưa vào phân tích tiếp theo.

Sau phân tích nhân tố khám phá (EFA), kết quả kiểm định tương đối tốt. Hệ số KMO = 0.852 > 0.5; theo Kaiser (1974), việc sử dụng tập dữ liệu này cho phân tích nhân tố là phù hợp. Kiểm định Bartlett cũng có giá trị Sig bằng .000 < .05, do đó các biến quan sát có liên quan đến nhau và đủ điều kiện để phân tích nhân tố bằng EFA.

Thông qua bảng ma trận xoay, với phép xoay Varimax, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải > 0.5, điều này có ý nghĩa thực tiễn (Hair và cộng sự, 2014). Do đó, tất cả các biến quan sát này được giữ lại để phân tích bước tiếp theo.

Trước khi đánh giá tác động của các yếu tố đến hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên, nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra đa cộng tuyến giữa các biến độc lập bằng ma trận hệ số tương quan Pearson. Kết quả cho thấy tất cả các hệ số tương quan đều dưới 0.7, cho thấy không có mối tương quan mạnh giữa các biến độc lập. Do đó, các biến độc lập này được coi là ngoại sinh và phù hợp để sử dụng trong bước phân tích hồi quy tiếp theo.

Bảng: Hệ số hồi quy

Mô hình

Hệ số không

chuẩn hóa

Hệ số

chuẩn hóa

t

Sig.

Thống kê

đa cộng tuyến

B

Sai số chuẩn

Beta

Hệ số dung sai

VIF

1

(Hằng số)

1.728

.304

6.007

.000

AT

.316

.038

.362

8.259

.000

.815

1.228

BE

.144

.043

.156

3.130

.002

.807

1.239

CS

.120

.046

.114

2.428

.016

.949

1.054

CP

.206

.038

.197

4.091

.000

.877

1.140

IT

.057

.048

.052

2.168

.034

.953

1.049

a. Biến phụ thuộc: KS

Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của tác giả

Kết quả hồi quy cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê với R² hiệu chỉnh đạt 0.765, chứng tỏ các biến độc lập giải thích được 76.5% sự biến thiên của Hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên. Tất cả các biến độc lập đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê. Theo kiểm định t, các biến AT, BE, CS, CP, IT có giá trị ý nghĩa nhỏ hơn 0.05, cho thấy các biến độc lập này có ý nghĩa thống kê và tác động đến biến phụ thuộc KS. Hơn nữa, khi xem xét hệ số khuếch đại phương sai (VIF), ta thấy tất cả các giá trị VIF đều nhỏ hơn 2. Điều này ngụ ý rằng các biến độc lập không có vấn đề đa cộng tuyến. Do đó, các biến này có giá trị giải thích đối với biến phụ thuộc KS.

Hàm hồi quy được xác định như sau:

KS = 1.728 + 0.362AT + 0.156BE + 0.114CS + 0.197CP + 0.052IT

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy việc chia sẻ kiến thức giữa sinh viên Đại học Thái Nguyên chịu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố cá nhân, xã hội và thể chế, với tất cả các hệ số ước tính đều dương. Điều này cho thấy sự cải thiện ở các yếu tố này có liên quan đến mức độ hành vi chia sẻ kiến thức cao hơn giữa sinh viên.

Trong số các yếu tố được xem xét, Thái độ đối với việc chia sẻ kiến thức có tác động mạnh nhất, làm nổi bật vai trò then chốt của sự sẵn sàng về nhận thức và tâm lý của sinh viên trong việc thúc đẩy các hoạt động chia sẻ kiến thức. Cạnh tranh nổi lên là yếu tố có ảnh hưởng mạnh thứ hai, ngụ ý rằng một môi trường học thuật cạnh tranh, khi được quản lý phù hợp, có thể khuyến khích sinh viên chia sẻ kiến thức như một phương tiện để nâng cao hiệu suất và sự công nhận học thuật. Lòng tin cá nhân và văn hóa tổ chức thể hiện tác động tích cực nhưng ở mức độ vừa phải, cho thấy rằng một môi trường học tập hỗ trợ và dựa trên lòng tin tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ kiến thức, mặc dù những ảnh hưởng này ít rõ rệt hơn so với các yếu tố động lực cá nhân. Cuối cùng, Công nghệ thông tin cho thấy tác động yếu nhất, cho thấy rằng cơ sở hạ tầng công nghệ chủ yếu hoạt động như một điều kiện hỗ trợ hơn là một động lực quyết định hành vi chia sẻ kiến thức. Nhìn chung, các phát hiện nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố thái độ và xã hội so với các khía cạnh công nghệ trong việc thúc đẩy chia sẻ kiến thức trong bối cảnh giáo dục đại học.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chia sẻ tri thức của sinh viên tại Đại học Thái Nguyên, nhấn mạnh vai trò quan trọng của các yếu tố cá nhân và xã hội. Thái độ đối với chia sẻ tri thức là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất, cho thấy việc nâng cao nhận thức và động lực của sinh viên là yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức trong môi trường đại học.

Từ góc độ thực tiễn, nghiên cứu gợi ý các cơ sở giáo dục đại học cần chú trọng xây dựng môi trường học tập khuyến khích thái độ tích cực, tăng cường lòng tin, thúc đẩy cạnh tranh mang tính xây dựng và đồng thời đầu tư vào hạ tầng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ quá trình chia sẻ tri thức của sinh viên.

Nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế do phạm vi khảo sát và thiết kế nghiên cứu cắt ngang, mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.

Tài liệu tham khảo:

1. Al-Alawi, A. I., Al-Marzooqi, N. Y., & Mohammed, Y.F. (2007). Organizational culture and knowledge sharing: critical success factors. Journal of knowledge management, 11(2), 22-42.

2. Elias, M. A., & Ghaziri, H. (2003). Knowledge management. Pearson Education.

3. Hair, J. F., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Black, W. C. (2018). Multivariate Data Analysis (8th ed.). Cengage Learning.

4. Hà Thị Thùy Trang (2024). Hành vi chia sẻ tri thức của sinh viên đại học tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 77 (2024) 42-48.

5. Kaiser, H. F. (1974). An index of factorial simplicity. Psychometrika, 39(1), 31-36.

6. Lee, H., & Choi, B. (2002). Knowledge management enablers, processes, and organizational performance: An integrative view and empirical examination. Journal of Management Information Systems, 20(1), 179-228. https://doi.org/10.1080/07421222.2003.11045756

7. Nguyễn Thị Bích Liên (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của sinh viên các trường đại học TP. Hồ Chí Minh. https://kinhtevadubao.vn/cac-nhan-to-anh-huong-den-hanh-vi-chia-se-tri-thuc-cua-sinh-vien-cac-truong-dai-hoc-tp-ho-chi-minh-29747.html

8. Nguyễn Lê Nhân và cộng sự (2021). Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của sinh viên đại học: Khảo sát thực nghiệm đối với sinh viên trường Đại học Duy Tân - Đà Nẵng. https://kketoan.duytan.edu.vn/bai-viet/bai-viet-ths-nguyen-le-nhan-va-cong-su-cac-nhan-to-anh-huong-%C4%91en-hanh-vi-chia-se-tri-thuc-cua-sinh-vien-%C4%91ai-hoc-khao-sat-thuc-nghiem-%C4%91oi-voi-sinh-vien-truong-%C4%91ai-hoc-duy-tan-%C4%91a-nang

9. Nguyễn Thị Hồng Nguyệt, Nguyễn Thị Bích Duyên, Lê Quang Huề (2023). Phân tích các nhân tố thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức trong sinh viên: Một nghiên cứu thực nghiệm tại Trường Đại học Tài nguyên Môi trường TP. Hồ Chí Minh. https://tapchicongthuong.vn/phan-tich-cac-nhan-to-thuc-day-hanh-vi-chia-se-tri-thuc-trong-sinh-vien--mot-nghien-cuu-thuc-nghiem-tai-truong-dai-hoc-tai-nguyen-moi-truong-thanh-pho-ho-chi-minh-106773.htm

10. Nguyễn Duy Thụy, Nguyễn Phương Quỳnh (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức của sinh viên các trường đại học tư thục tại TP. Hồ Chí Minh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/01/18/cac-nhan-to-anh-huong-den-chia-se-tri-thuc-cua-sinh-vien-cac-truong-dai-hoc-tu-thuc-tai-tp-ho-chi-minh/

11. Nonaka, I., & Takeuchi, H. (1995). The knowledge-creating company: How Japanese companies create the dynamics of innovation. Oxford University Press.

12. Tiwana, A. (2000). The knowledge management toolkit: Practical techniques for building a knowledge management system. Prentice Hall.

13. Wang, X. Z. (1999). Data Mining and Knowledge Discovery - an Overview. Data Mining and Knowledge Discovery for Process Monitoring and Control, 13-28.

14. Zaqout, F., & Abbas, M. (2012). Towards a model for understanding the influence of the factors that stimulate university students' engagement and performance in knowledge sharing. Library Review, 61(5), 345-361.

Ngày nhận bài: 5/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 19/2/2026; Ngày duyệt đăng: 26/2/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội

Trước lộ trình hạn chế phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại Hà Nội, việc chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện là xu thế tất yếu nhưng đặt ra nhiều thách thức cho sinh viên ngoại tỉnh - nhóm chịu ràng buộc lớn về tài chính và điều kiện nơi ở.
Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Sự mở rộng của xuất nhập khẩu, thương mại điện tử và sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2022-2025 tạo dư địa lớn cho thị trường logistics Việt Nam. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035 xác định nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những định hướng trọng tâm.
Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển bền vững ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc trên thị trường quốc tế, công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường minh bạch, giảm bất cân xứng thông tin và cải thiện niềm tin của nhà đầu tư
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Hà Nội là địa phương có số lượng doanh nghiệp đứng thứ hai cả nước, đồng thời là một trong ba địa phương có mật độ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ cao nhất cả nước
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Trong bối cảnh giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng ứng dụng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, chất lượng tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một hoạt động bổ trợ mà đã trở thành một nhân tố chiến lược, quyết định sự thành công của quá trình đào tạo
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Các ngành công nghiệp sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế dựa trên tri thức, vì giá trị được tạo ra từ sự kết hợp giữa sáng tạo, văn hóa, tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ
Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Sự mở rộng về hạ tầng xe buýt điện không đảm bảo việc người sử dụng sẽ chủ động thay đổi thói quen đi lại. Quá trình thay đổi từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng mới chịu tác động bởi các nguyên nhân: từ bỏ phương thức cũ, giá trị tiện ích của phương thức mới, thói quen và rủi ro cảm nhận.
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Tại Việt Nam, nơi thu nhập trung bình còn hạn chế nhưng nhận thức về môi trường đang tăng nhanh, việc hiểu cơ chế thúc đẩy việc sẵn sàng trả giá cao có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả chính sách lẫn hoạt động kinh doanh.
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam từng ở mức tương đương 20,8% GDP, gần gấp đôi mức trung bình thế giới là 10,7%. Chiến lược phát triển logistics quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 16-18% GDP. Bên cạnh đó, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.