Thúc đẩy xã hội hóa du lịch tại tỉnh Tây Ninh
NCS. Nguyễn Huỳnh Phương Thảo; Email: [email protected]
PGS, TS. Đỗ Văn Quang; Email: [email protected]
PGS, TS. Nguyễn Thiện Dũng; Email: [email protected]
Trường Đại học Thủy lợi
Tóm tắt
Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Tây Ninh mới chính thức được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An (cũ), tạo ra một không gian hành chính - kinh tế có diện tích hơn 8.536 km² với dân số khoảng 3,25 triệu người. Nghiên cứu phân tích thực trạng xã hội hóa du lịch tại tỉnh Tây Ninh - địa phương hội tụ tiềm năng du lịch tâm linh, sinh thái, sông nước và văn hóa, nhằm đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình này trong giai đoạn tới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù 2 địa phương trước đây đã đạt được những thành tựu nhất định trong xã hội hóa du lịch, song việc hợp nhất đặt ra yêu cầu tích hợp và khai thác đồng bộ các tài nguyên du lịch đa dạng, hình thành chuỗi liên kết kinh tế mới và xây dựng thương hiệu du lịch thống nhất cho Tỉnh. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp hệ thống nhằm thúc đẩy xã hội hóa du lịch trên địa bàn tỉnh Tây Ninh mới, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch đặc thù sau sắp xếp.
Từ khóa: Xã hội hóa du lịch, Tây Ninh, Long An, sáp nhập tỉnh, phát triển du lịch bền vững, liên kết kinh tế du lịch
Abstract
On July 1, 2025, the new Tay Ninh Province was officially established through the merger of the former Tay Ninh Province and Long An Province, creating an administrative-economic area covering over 8,536 km² with a population of approximately 3.25 million. The study analyzes the current state of tourism socialization in Tay Ninh Province, a province with significant potential for spiritual, ecological, river-based, and cultural tourism, with the aim of proposing measures to promote this process in the coming period. The findings indicate that, although both former provinces had made certain progress in tourism socialization, the merger requires a more integrated and coordinated approach to the utilization of diverse tourism resources, the development of new economic linkages, and the establishment of a unified tourism brand for the province. Accordingly, the study proposes a set of systemic solutions to promote tourism socialization in the province, thereby contributing to the effective exploitation of its distinctive tourism potential after the administrative reorganization.
Keywords: Tourism socialization, Tay Ninh, Long An, provincial merger, sustainable tourism development, tourism economic linkages
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Tây Ninh mới chính thức đi vào hoạt động trên cơ sở hợp nhất nguyên trạng tỉnh Tây Ninh cũ (thuộc vùng Đông Nam Bộ) và tỉnh Long An (nằm ở cửa ngõ Đồng bằng sông Cửu Long), theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Tỉnh mới có tổng diện tích hơn 8.536 km², dân số khoảng 3,25 triệu người, trung tâm hành chính đặt tại TP. Tân An (địa phận Long An cũ) (Hà Lê, 2025). Đây là sự kiện có ý nghĩa chiến lược, không chỉ tạo ra một không gian hành chính mới mà còn mở ra cơ hội kết hợp các tiềm năng du lịch đặc thù của cả 2 vùng để hình thành sản phẩm du lịch đa dạng, hấp dẫn.
Tỉnh Tây Ninh (sau sắp xếp) hội tụ 2 hệ sinh thái tài nguyên du lịch bổ trợ lẫn nhau: từ tỉnh Tây Ninh (cũ) với khu du lịch tâm linh nổi tiếng (núi Bà Đen, Tòa Thánh Cao Đài), hồ Dầu Tiếng và các di tích lịch sử kháng chiến; từ Long An (cũ) với du lịch sông nước Đồng bằng sông Cửu Long (hệ thống sông Vàm Cỏ, làng nổi Tân Lập, Đồng Tháp Mười), di tích văn hóa lịch sử như Nhà Trăm Cột và các lễ hội truyền thống được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sự kết hợp này tạo nên một địa bàn du lịch đa sắc, có khả năng thu hút nhiều phân khúc thị trường khác nhau.
Về mặt lý luận, xã hội hóa (XHH) du lịch được hiểu là quá trình khách quan, phản ánh sự phát triển tính chất xã hội của các hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch dựa trên cơ sở phân công và chuyên môn hóa lao động. Quá trình đó được thực hiện thông qua giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia và có sự quản lý của Nhà nước nhằm đảm bảo cho ngành du lịch phát triển bền vững (Nguyễn Văn Đính và cộng sự, 2006). Trong bối cảnh tỉnh mới, XHH du lịch tại Tây Ninh là quá trình tích hợp và đồng bộ hóa các nguồn lực, tài nguyên và chủ thể kinh doanh du lịch từ 2 địa phương có truyền thống và đặc điểm khác nhau thành một hệ thống du lịch thống nhất, có sức cạnh tranh cao. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng XHH du lịch tại tỉnh Tây Ninh mới và đề xuất các giải pháp thúc đẩy, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch phong phú của địa phương trong giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến 2045.
THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA DU LỊCH TẠI TỈNH TÂY NINH
Tiềm năng du lịch của tỉnh Tây Ninh
Tỉnh Tây Ninh có vị trí địa chiến lược đặc biệt thuận lợi: tiếp giáp TP. Hồ Chí Minh ở phía Đông Nam - trung tâm du lịch lớn nhất cả nước; có đường biên giới dài với Vương quốc Campuchia tạo điều kiện phát triển du lịch quốc tế; đồng thời là cửa ngõ nối liền vùng Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là lợi thế địa kinh tế độc nhất, tạo nền tảng cho việc xây dựng các tuyến du lịch liên vùng và quốc tế.
Từ phần lãnh thổ Tây Ninh (cũ), Tỉnh mới kế thừa tài nguyên du lịch tâm linh - văn hóa nổi bật: Núi Bà Đen (986m - ngọn núi cao nhất Nam Bộ) hàng năm đón hàng triệu lượt khách hành hương; Tòa Thánh Tây Ninh của Đạo Cao Đài là công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo bậc nhất Đông Nam Á; hồ Dầu Tiếng (diện tích mặt nước trên 270 km²) có tiềm năng lớn cho du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng; hệ thống di tích lịch sử cách mạng như căn cứ Trung ương Cục miền Nam là điểm đến du lịch lịch sử có giá trị.
Từ phần lãnh thổ Long An (cũ), Tỉnh mới bổ sung hệ tài nguyên du lịch sông nước - miệt vườn đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long: hệ thống sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với cảnh quan thiên nhiên hữu tình; khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập với rừng tràm, hồ sen và hệ sinh thái Đồng Tháp Mười; Nhà Trăm Cột (di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, xây dựng 1901-1903); các lễ hội văn hóa được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như Lễ hội Làm Chay, Lễ hội Vía Bà Ngũ Hành; và nền ẩm thực đặc sắc của vùng sông nước.
Sự hội tụ của 2 hệ tài nguyên du lịch bổ trợ lẫn nhau tạo ra lợi thế cạnh tranh đặc biệt: khách du lịch đến Tây Ninh có thể trải nghiệm, từ vùng núi tâm linh hùng vĩ đến vùng sông nước bình yên, từ văn hóa Cao Đài đến văn hóa Nam Bộ truyền thống. Đây là nền tảng để phát triển các sản phẩm du lịch kết hợp độc đáo, tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách.
Những thành tựu trong quá trình thực hiện xã hội hóa du lịch
Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế
Trước khi hợp nhất, cả Tây Ninh và Long An đã đạt được những thành tựu nhất định trong XHH du lịch. Tại Tây Ninh, nổi bật nhất là dự án Khu du lịch Núi Bà Đen do Tập đoàn Sun Group đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, bao gồm hệ thống cáp treo ba dây đầu tiên tại Việt Nam, khu vui chơi giải trí và lưu trú hiện đại. Đây là mô hình XHH nguồn vốn thành công, khi toàn bộ vốn đầu tư và vận hành do tư nhân đảm nhiệm trong khi Nhà nước chỉ đóng vai trò tạo khung pháp lý. Tại Long An, khu vực tư nhân cũng tích cực đầu tư vào các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng, khu vui chơi giải trí và du lịch nông nghiệp với nhiều dự án có quy mô vừa và nhỏ.
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh (2023-2025), năm Tỉnh 2023 đón khoảng 5,2 triệu lượt khách với doanh thu trên 2.000 tỷ đồng. Đến năm 2025, du lịch của Tỉnh phát triển nhanh, tạo bước đột phá mới về tỉ lệ tăng trưởng cả về doanh thu và lượng khách. Theo đó, tỉnh Tây Ninh đã đón 7,1 triệu lượt khách, tăng 14,5%. Tổng doanh thu du lịch đạt 4.433 tỉ đồng, tăng 40,5% (Sơn Lâm, 2025).
Xã hội hóa du lịch thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm
Quá trình XHH du lịch đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ. Du lịch tạo ra chuỗi liên kết với nông nghiệp địa phương (cung ứng nông sản đặc sản, mãng cầu Tây Ninh, thanh long Long An, bánh tráng phơi sương), vận tải, bán lẻ và các dịch vụ bổ trợ khác. Các hoạt động du lịch đã giải quyết việc làm trực tiếp cho hàng chục nghìn lao động, đặc biệt là lao động phổ thông và bán lành nghề tại vùng nông thôn và vùng ven các khu du lịch.
Đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường
Nhờ XHH, các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng. Tây Ninh cũ có thế mạnh về du lịch tâm linh, du lịch biên giới; Long An có thế mạnh về du lịch sông nước, miệt vườn, sinh thái và du lịch golf. Sau hợp nhất, tỉnh mới có thể xây dựng các tour kết hợp đặc sắc: hành trình “Tâm linh - Thiên nhiên - Sông nước” nối núi Bà Đen với làng nổi Tân Lập; tuyến “Di sản - Ẩm thực Nam Bộ” kết hợp Tòa Thánh Cao Đài với văn hóa đờn ca tài tử và ẩm thực đặc sản vùng sông nước.
Một số hạn chế và thách thức đặt ra
Thiếu liên kết kinh tế và tích hợp sản phẩm du lịch
Thách thức lớn nhất sau hợp nhất là tạo ra sự liên kết thực chất giữa hệ sinh thái du lịch của 2 địa phương vốn có đặc điểm và định hướng phát triển khác nhau. Hiện tại, các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và điểm tham quan chưa có cơ chế liên kết, phối hợp trong việc xây dựng sản phẩm du lịch tổng hợp. Sự khác biệt về văn hóa quản lý, tiêu chuẩn dịch vụ và thói quen kinh doanh giữa vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng là rào cản cần vượt qua.
Cơ sở hạ tầng du lịch còn bất cập và thiếu kết nối
Tuyến đường từ vùng Long An (cũ) sang vùng Tây Ninh (cũ) và ngược lại chưa thuận tiện để phát triển các tour liên điểm. Chất lượng đường nội bộ đến các điểm du lịch nhỏ lẻ (khu du lịch sinh thái, làng nghề, điểm tham quan cộng đồng) còn nhiều hạn chế. Cơ sở lưu trú tại nhiều điểm du lịch của Long An thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu lưu trú dài ngày của khách.
Quản lý nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi còn chồng chéo
Giai đoạn đầu sau sắp xếp tất yếu xuất hiện sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về du lịch. Quy hoạch du lịch của 2 tỉnh cũ được xây dựng độc lập, chưa có tầm nhìn tích hợp cho toàn địa bàn tỉnh mới. Cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư du lịch chưa được hài hòa, thống nhất. Thương hiệu du lịch chưa được định vị rõ ràng cho tỉnh Tây Ninh mới - một thách thức lớn vì cả 2 tên “Tây Ninh” và “Long An” đều đã có nhận diện nhất định trên thị trường du lịch.
Nguồn nhân lực du lịch còn mỏng và thiếu chuyên nghiệp
Nguồn nhân lực du lịch là điểm nghẽn chung. Tỷ lệ lao động trong ngành du lịch được đào tạo bài bản còn thấp, đặc biệt tại các điểm du lịch sinh thái và cộng đồng của Long An (cũ). Sự chênh lệch về trình độ nhân lực giữa 2 vùng (Tây Ninh cũ có phần khá hơn nhờ hưởng lợi từ đào tạo của TP. Hồ Chí Minh, trong khi Long An (cũ) thiên về nhân lực nông nghiệp) tạo ra thách thức trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ đồng đều.
Phân phối lợi ích chưa hài hòa và nguy cơ bất bình đẳng vùng
Nguy cơ bất bình đẳng trong phân phối lợi ích sau sắp xếp là vấn đề cần đặc biệt chú ý. Các vùng có tài nguyên du lịch nổi trội (như khu vực núi Bà Đen, Tòa Thánh Cao Đài) có thể nhận được nhiều đầu tư và hưởng lợi hơn so với các vùng du lịch tiềm năng nhưng ít nổi tiếng hơn. Cộng đồng dân cư nông thôn sống quanh các điểm du lịch sinh thái cũng cần được có cơ chế tham gia và hưởng lợi từ sự phát triển du lịch, tránh tình trạng bị gạt ra ngoài chuỗi giá trị.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Nhằm thúc đẩy phát triển xã hội hóa du lịch tại tỉnh Tây Ninh, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
Nhóm giải pháp quản lý vĩ mô của Nhà nước
Xây dựng quy hoạch và thương hiệu du lịch tích hợp cho tỉnh mới
Ưu tiên hàng đầu là xây dựng Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2025-2035 có tầm nhìn tích hợp, khai thác đồng bộ tài nguyên du lịch của cả 2 vùng lãnh thổ cũ. Quy hoạch cần xác định rõ phân vùng chức năng du lịch: vùng du lịch tâm linh - văn hóa (Bắc tỉnh, địa bàn Tây Ninh cũ); vùng du lịch sông nước - sinh thái (Nam tỉnh, địa bàn Long An cũ); và hành lang kết nối du lịch liên vùng nối 2 vùng lại với nhau.
Về thương hiệu du lịch: Tỉnh cần xây dựng thương hiệu du lịch mới thống nhất, đề xuất định vị “Tây Ninh - Hành trình từ Núi thiêng đến Sông xanh”, phản ánh 2 hệ sinh thái du lịch đặc trưng và tạo sự gắn kết giữa 2 vùng. Thương hiệu này cần nhất quán trên tất cả các kênh truyền thông và xúc tiến du lịch.
Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chính sách khuyến khích XHH
Tỉnh cần ban hành bộ chính sách ưu đãi đầu tư du lịch thống nhất, đảm bảo tính công bằng và hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Đặc biệt, cần có cơ chế ưu đãi đặc thù để khuyến khích đầu tư vào vùng du lịch Long An (cũ) - nơi tiềm năng lớn nhưng còn ít nhà đầu tư - nhằm cân bằng sự phát triển du lịch trong toàn tỉnh. Cần ban hành quy định rõ ràng về chia sẻ lợi ích giữa nhà đầu tư và cộng đồng dân cư địa phương, đặc biệt tại các vùng nông thôn, nơi du lịch cộng đồng có tiềm năng lớn.
Xã hội hoá nguồn vốn đầu tư và tăng cường liên kết vùng
Tỉnh cần đẩy mạnh mô hình hợp tác công tư (PPP): Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng kết nối giữa các điểm du lịch của 2 vùng (tuyến đường du lịch liên vùng từ Tân An lên Tây Ninh, hệ thống giao thông thủy trên sông Vàm Cỏ, đầu tư hạ tầng điểm du lịch cộng đồng...); tư nhân đầu tư các hạng mục thương mại và dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, cần xây dựng quỹ phát triển du lịch tỉnh từ phí tham quan và đóng góp doanh nghiệp để tái đầu tư vào bảo tồn tài nguyên và đào tạo nhân lực.
Về liên kết vùng: Tích cực kết nối với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long để xây dựng các tuyến du lịch liên vùng. Các tuyến tiêu biểu: “Thành phố - Tâm linh - Biên giới” (TP. Hồ Chí Minh - Tây Ninh - Campuchia); “Thành phố - Sông nước - Miệt vườn” (TP. Hồ Chí Minh - Tân An - Đồng Tháp Mười); “Hành trình Di sản Nam Bộ” nối các điểm di tích lịch sử - văn hóa trong tỉnh.
Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp du lịch
Xây dựng sản phẩm du lịch kết hợp độc đáo
Cơ hội lớn nhất của XHH du lịch tại Tây Ninh hiện nay là khả năng tạo ra các sản phẩm du lịch kết hợp hoàn toàn mới mà trước đây không thể có. Các doanh nghiệp lữ hành cần hợp tác để thiết kế các tour liên điểm hấp dẫn: tour 2 ngày 1 đêm “Núi thiêng - Sông xanh” kết hợp tham quan Tòa Thánh Cao Đài, leo núi Bà Đen buổi sáng và du thuyền trên sông Vàm Cỏ, thăm làng nổi Tân Lập buổi chiều; tour 3 ngày 2 đêm “Di sản Nam Bộ” kết hợp du lịch lịch sử - văn hóa - ẩm thực từ căn cứ kháng chiến đến Nhà Trăm Cột và đặc sản 2 vùng.
Các doanh nghiệp cần chủ động đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số: xây dựng nền tảng đặt tour trực tuyến chung cho cả tỉnh, phát triển ứng dụng du lịch thông minh tích hợp bản đồ, thông tin điểm đến, thanh toán điện tử và hỗ trợ đa ngôn ngữ. Đây là yêu cầu cấp bách để nâng cao sức cạnh tranh và thu hút khách quốc tế.
Tăng cường trách nhiệm xã hội và phát triển du lịch cộng đồng
Các doanh nghiệp du lịch cần ưu tiên sử dụng lao động địa phương và mua sắm nông sản, đặc sản từ 2 vùng để tạo giá trị gia tăng và liên kết ngược với kinh tế địa phương. Đặc biệt tại các điểm du lịch sinh thái cộng đồng, mô hình du lịch có sự tham gia của cộng đồng (Community Based Tourism) cần được nhân rộng để đảm bảo người dân địa phương là chủ thể và người thụ hưởng chính của hoạt động du lịch.
Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch
Để giải quyết điểm nghẽn về nguồn nhân lực, tỉnh Tây Ninh cần triển khai đồng bộ các giải pháp: Xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2025-2030 với chương trình cụ thể cho từng tiểu vùng, ưu tiên đào tạo nhân lực cho vùng Long An (cũ) còn thiếu hụt nhiều hơn; Tổ chức các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn về nghiệp vụ du lịch (hướng dẫn viên, lễ tân, phục vụ bàn, kỹ năng nấu ăn đặc sản địa phương) và ngoại ngữ; Hợp tác với các cơ sở đào tạo du lịch uy tín tại TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ để tổ chức đào tạo tại chỗ và đưa sinh viên thực tập tại các doanh nghiệp du lịch trong Tỉnh; Xây dựng chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút chuyên gia du lịch và hướng dẫn viên có kinh nghiệm về làm việc tại các điểm du lịch tiềm năng chưa phát triển.
Nhóm giải pháp về thị trường, xúc tiến và quảng bá du lịch
Về thị trường mục tiêu: Ngắn hạn, tập trung khai thác thị trường khách nội địa từ TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ với các nhóm khách đa dạng (gia đình, bạn bè, khách hành hương, khách nghỉ cuối tuần). Trung hạn, mở rộng thị trường khách MICE (hội nghị, hội thảo, sự kiện) nhờ lợi thế cơ sở hạ tầng của TP. Tân An. Dài hạn, hướng đến thị trường quốc tế từ Campuchia, Thái Lan, ASEAN và các nước Đông Á qua phát triển tuyến du lịch biên giới.
Về phương thức xúc tiến: Đẩy mạnh marketing số đa kênh (mạng xã hội, nền tảng đặt tour/phòng trực tuyến, hợp tác với KOL du lịch). Tổ chức các sự kiện du lịch - văn hóa thường niên có quy mô tỉnh, tạo điểm nhấn truyền thông. Xây dựng nền tảng thông tin du lịch tỉnh Tây Ninh thống nhất (website, app) tích hợp toàn bộ sản phẩm, điểm đến và dịch vụ trên địa bàn.
Nhóm giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
XHH du lịch tại tỉnh Tây Ninh cần gắn chặt với phát triển bền vững về môi trường, đặc biệt trong bối cảnh tỉnh mới có hệ sinh thái đa dạng và nhạy cảm: núi, rừng, hồ và vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười. Cần xây dựng và thực thi nghiêm ngặt quy định về sức tải du lịch tại các điểm đến nhạy cảm; đầu tư hệ thống xử lý nước thải, rác thải tại tất cả các khu du lịch; áp dụng tiêu chuẩn “du lịch xanh” cho cơ sở lưu trú và dịch vụ; và xây dựng cơ chế giám sát tác động môi trường định kỳ. Đặc biệt, cần có cơ chế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của cả 2 vùng: văn hóa Cao Đài, văn hóa Khmer, truyền thống đờn ca tài tử Nam Bộ và các lễ hội truyền thống được công nhận di sản. Đây là tài nguyên du lịch vô hình quý giá, là linh hồn của sản phẩm du lịch văn hóa, cần được bảo vệ khỏi nguy cơ thương mại hóa quá mức trong quá trình XHH du lịch.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2023). Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Hà Lê (2025). Thủ tướng: Tây Ninh phát huy “ba cầu nối” để phát triển nhanh, bền vững. https://vneconomy.vn/thu-tuong-tay-ninh-phat-huy-ba-cau-noi-de-phat-trien-nhanh-ben-vung.htm
3. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2006). Giáo trình Kinh tế Du lịch. Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
4. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh (2023-2025). Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2023, 2024, 2025.
5. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An (2023-2025). Báo cáo kết quả phát triển du lịch và phương hướng năm 2023-2025.
6. Sơn Lâm (2025). Tây Ninh đón 7 triệu khách trong năm 2025, doanh thu du lịch 4.400 tỉ, tăng hơn 40%. https://tuoitre.vn/tay-ninh-don-7-trieu-khach-trong-nam-2025-doanh-thu-du-lich-4-400-ti-tang-hon-40-20251209131708879.htm
| Ngày nhận bài: 11/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/4/2026; Ngày duyệt đăng: 5/5/2026 |
Các tin khác
Sự chấp nhận đối với phát triển điện gió tại Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết suy luận hành vi
Tác động của marketing xã hội doanh nghiệp và marketing gắn với mục đích xã hội đến tài sản thương hiệu trong ngành sữa tại Việt Nam
Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chấp nhận sử dụng trợ lý mua hàng trực tuyến
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm
Hoàn thiện chính sách phát triển các sản phẩm tài chính xanh tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo tại các trường đại học công lập khối ngành kinh tế: Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Hành vi thích nghi công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tổng quan lý thuyết và khung khái niệm trong bối cảnh chuyển đổi số