​​​​​​​Sự chấp nhận đối với phát triển điện gió tại Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết suy luận hành vi

Nghiên cứu - Trao đổi 21:20 | 16/10/2026
Việc mở rộng điện gió không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên, công nghệ, tài chính và hạ tầng lưới điện, mà còn chịu ảnh hưởng của sự chấp nhận xã hội. Đây được coi là một trong những điều kiện có thể thúc đẩy hoặc cản trở triển khai năng lượng tái tạo.

Nguyễn Thị Lê

Trường Đại học Điện lực

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích, đánh giá sự chấp nhận của người dân nói chung với việc phát triển điện gió tại Việt Nam dưới góc nhìn của Lý thuyết suy luận hành vi (BRT). Thay vì phân tích sự chấp nhận cộng đồng địa phương đối với các dự án điện gió cụ thể, nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh chấp nhận chính trị - xã hội, phản ánh nhận thức và sự ủng hộ của người dân Việt Nam đối với định hướng phát triển điện gió của quốc gia. Kết quả phân tích từ bộ dữ liệu gồm 460 phiếu khảo sát cho thấy nhóm “lý do ủng hộ” đạt giá trị trung bình cao (Mean = 4,165), trong khi nhóm “lý do phản đối” ở mức trung bình (Mean = 3,208). Lợi ích giảm phát thải khí nhà kính, tăng tỷ trọng năng lượng xanh và giảm phụ thuộc vào các dạng năng lượng khác là những lý do ủng hộ nổi bật. Ngược lại, tính không ổn định của điện gió và phụ thuộc thời tiết là các vấn đề đáng chú ý. Mức độ chấp nhận khác biệt có ý nghĩa theo độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp và mức độ hiểu biết về điện gió.

Từ khóa: Sự chấp nhận chính trị - xã hội, điện gió, lý thuyết suy luận hành vi, lý do ủng hộ, lý do phản đối

Abstract

This study analyzes and evaluates public acceptance of wind power development in Viet Nam from the perspective of Behavioral Reasoning Theory (BRT). Rather than examining local community acceptance of specific wind power projects, the study focuses on political and social acceptance, reflecting the perceptions and support of the Vietnamese public for the national direction of wind power development. Analysis of 460 survey responses shows that the “reasons for support” group has a high mean score (Mean = 4.165), while the “reasons for opposition” group has a moderate mean score (Mean = 3.208). The key reasons for support include the benefits of reducing greenhouse gas emissions, increasing the share of green energy, and reducing dependence on other energy sources. Conversely, the intermittency of wind power and its dependence on weather conditions are notable concerns. Acceptance levels differ significantly by age, education, occupation, and level of knowledge about wind power.

Keywords: Political and social acceptance, wind power, Behavioral Reasoning Theory, reasons for support, reasons for opposition

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển điện gió đang trở thành một cấu phần quan trọng của quá trình chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, việc mở rộng điện gió không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên, công nghệ, tài chính và hạ tầng lưới điện, mà còn chịu ảnh hưởng của sự chấp nhận xã hội; đây được coi là một trong những điều kiện có thể thúc đẩy hoặc cản trở triển khai năng lượng tái tạo (Wüstenhagen và cộng sự, 2007; Ellis và Ferraro, 2016; Sonnberger và Ruddat, 2017; Ruddat, 2022).

Tại Việt Nam, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển điện gió trên bờ và gần bờ đạt công suất lắp đặt khoảng 26.066-38.029 MW vào năm 2030, cho thấy yêu cầu phát triển điện gió ở quy mô lớn trong những năm tới (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Vì vậy, việc hiểu cách người dân đánh giá lợi ích, rủi ro và mức độ chấp nhận điện gió có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Wüstenhagen và cộng sự (2007) phân chia sự chấp nhận xã hội đối với năng lượng tái tạo thành 3 khía cạnh: chấp nhận chính trị - xã hội (socio-political acceptance), chấp nhận cộng đồng (community acceptance) và chấp nhận thị trường (market acceptance). Trong đó, chấp nhận chính trị - xã hội phản ánh sự chấp nhận công nghệ và chính sách năng lượng tái tạo ở khía cạnh người dân nói chung và các bên liên quan; còn chấp nhận cộng đồng gắn với phản ứng của cư dân và các chủ thể địa phương đối với việc lựa chọn địa điểm hoặc một dự án cụ thể (Wüstenhagen và cộng sự, 2007; Wolsink, 2018). Nghiên cứu gần đây của Liu và cộng sự (2026), khi tách riêng mẫu người dân nói chung và cư dân sống trong phạm vi 1 km quanh trang trại gió, cũng cho thấy 2 khía cạnh này cần được phân biệt cả về đối tượng khảo sát lẫn yếu tố hình thành sự chấp nhận.

Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2025) tại Việt Nam đã vận dụng Lý thuyết suy luận hành vi (BRT) để phân tích các “lý do ủng hộ” và “lý do phản đối” đối với sự chấp nhận điện gió khía cạnh cộng đồng trên mẫu 152 cư dân tại 3 tỉnh có dự án điện gió, đồng thời so sánh giữa các nhóm. Kế thừa logic phân tích đó nhưng thay đổi khía cạnh nghiên cứu từ chấp nhận cộng đồng sang chấp nhận chính trị - xã hội, nghiên cứu này mở rộng khảo sát đối với người dân ở nhiều tỉnh, thành phố tại Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu là: (i) xác định mức độ đánh giá của người dân đối với các lý do ủng hộ và phản đối phát triển điện gió; (ii) đánh giá thái độ và mức độ chấp nhận; và (iii) xem xét sự khác biệt về sự chấp nhận giữa các nhóm người trả lời.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Sự chấp nhận xã hội đối với Năng lượng tái tạo

Khái niệm sự chấp nhận xã hội nhấn mạnh rằng, triển khai công nghệ năng lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn phụ thuộc vào phản ứng của các chủ thể xã hội. Wüstenhagen và cộng sự (2007) xác lập khía cạnh của chấp nhận xã hội, gồm chấp nhận chính trị - xã hội, chấp nhận cộng đồng và chấp nhận thị trường; đây là cách phân loại được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về điện gió (Wolsink, 2018; Sonnberger và Ruddat, 2017). Chấp nhận chính trị - xã hội đề cập đến mức độ chấp nhận công nghệ, chính sách về năng lượng tái tạo ở cấp độ rộng; chấp nhận cộng đồng tập trung vào sự chấp nhận khi các dự án được thiết kế tại các địa điểm cụ thể; còn chấp nhận thị trường liên quan đến quá trình phổ biến công nghệ thông qua hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Lý thuyết suy luận hành vi và các lý do ủng hộ/phản đối

Theo Lý thuyết BRT, các lý do cụ thể đóng vai trò liên kết giữa niềm tin, giá trị, thái độ và ý định/hành vi; đồng thời “lý do ủng hộ” và “lý do phản đối” có thể tồn tại như các cấu trúc phân biệt và cùng tham gia vào quá trình ra quyết định (Westaby, 2005). Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với nghiên cứu về sự chấp nhận đối với phát triển điện gió vì một cá nhân có thể đồng thời đánh giá cao lợi ích khí hậu, an ninh năng lượng và lợi ích kinh tế nhưng vẫn lo ngại về tiếng ồn, sự thay đổi cảnh quan, sự đa dạng sinh học hoặc các hạn chế kỹ thuật (Ellis và Ferraro, 2016; Sonnberger và Ruddat, 2017).

Các lý do ủng hộ trong nghiên cứu này bao gồm 5 lý do chính: Chủ trương, chính sách của Chính phủ; sự tin tưởng đối với chính phủ, chính quyền địa phương và nhà phát triển dự án; giảm phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu và nhiên liệu hóa thạch; giảm phát thải khí nhà kính và tăng hàm lượng năng lượng xanh; lợi ích kinh tế - xã hội và sự tham gia của các chủ thể trong nước (De Luca và cộng sự, 2020). Nhóm lý do phản đối bao gồm nguy cơ đối với hệ sinh thái (con người và động vật, tác động tới hoạt động sản xuất và đời sống) và những rào cản công nghệ (tính không ổn định của nguồn điện gió, tiếng ồn và hiện tượng bóng nhấp nháy).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát người dân. Phiếu khảo sát được xây dựng trên cơ sở Lý thuyết BRT, nghiên cứu về sự chấp nhận xã hội và các nghiên cứu liên quan đến điện gió. Các câu hỏi được đánh giá chủ yếu trên thang Likert 5 mức, từ 1- Hoàn toàn không đồng ý, đến 5- Hoàn toàn đồng ý.

Bộ dữ liệu bao gồm 460 phiếu khảo sát được phản hồi. Trước hết, thống kê mô tả được sử dụng để xác định đặc điểm mẫu và xếp hạng các lý do ủng hộ/phản đối. Tiếp theo, hệ số Cronbach’s Alpha thể hiện độ nhất quán nội tại của các nhóm thang đo. Cuối cùng, ANOVA one way được sử dụng để so sánh mức độ chấp nhận giữa các nhóm giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập và mức độ hiểu biết về điện gió.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm mẫu khảo sát

Bảng 1: Thống kê mô tả mẫu khảo sát

Đặc điểm

Số người

Tỷ lệ (%)

Nam

271

58,9

Nữ

189

41,1

< 23 tuổi

133

28,9

23-29 tuổi

138

30,0

30-45 tuổi

140

30,5

46-62 tuổi

42

9,1

> 62 tuổi

7

1,5

Phổ thông

83

18,1

Trung cấp/Cao đẳng

99

21,5

Đại học

226

49,1

Sau đại học

52

11,3

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả

Bảng 1 cho thấy mẫu khảo sát có 271 nam (58,9%) và 189 nữ (41,1%). Ba nhóm tuổi dưới 46 tuổi chiếm gần 90% tổng số mẫu. Về học vấn, nhóm đại học chiếm tỷ trọng lớn nhất với 49,1%, tiếp theo là trung cấp/cao đẳng 21,5%, phổ thông 18,1% và sau đại học 11,3%. Người trả lời thuộc nhiều nhóm nghề nghiệp và địa bàn khu vực khác nhau. Đặc điểm này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu khảo sát nhận thức của người dân nói chung thay vì đại diện cho một cộng đồng địa phương cụ thể.

Xếp hạng các lý do ủng hộ và lý do phản đối

Bảng 2: Kết quả phân tích với biến Lý do ủng hộ và lý do phản đối

Biến

Mean

Tỷ lệ đồng ý

4-5 (%)

Cronbach’s

Alpha

Lý do ủng hộ

4,165

-

0,945

Chủ trương, chính sách của Chính phủ

4,127

83,4

Sự tin tưởng các bên liên quan

4,140

81,0

Giảm phụ thuộc nguồn năng lượng khác

4,208

82,8

Giảm phát thải khí nhà kính

4,280

85,2

Nhận thức lợi ích cộng đồng

4,117

84,1

Lý do phản đối

3,208

-

0,938

Tổn thương hệ sinh thái

3,099

43,8

Rào cản công nghệ

3,316

42,7

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả

Kết quả Bảng 2 cho thấy nhóm “lý do ủng hộ” có Mean = 4,165 và Cronbach’s Alpha = 0,945, phản ánh mức đồng thuận cao và độ tin cậy tốt. Trong các lý do ủng hộ, Giảm phát thải khí nhà kính có điểm trung bình cao nhất (4,280), tiếp theo là Giảm phụ thuộc vào các nguồn năng lượng khác (4,208), Sự tin tưởng các bên liên quan (4,140), Chủ trương chính sách của Chính phủ (4,127) và Nhận thức lợi ích cộng đồng (4,117). Có 85,2% và 84,1% người trả lời chọn mức 4 hoặc 5 lần lượt đối với lợi ích giảm phát thải khí nhà kính và đối với nhận định điện gió mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng.

Nhóm “lý do phản đối” có Mean = 3,208 và Cronbach’s Alpha = 0,938. Trong nhóm này, nhận định điện gió là nguồn có những rào cản công nghệ (3,316), với 42,7% người trả lời lựa chọn mức đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý. Tổn thương hệ sinh thái đạt giá trị Mean = 3,099. Như vậy, công chúng nhìn chung nhận thức khá rõ lợi ích của điện gió, nhưng đồng thời vẫn ghi nhận các hạn chế kỹ thuật và tác động có thể phát sinh.

Thái độ và mức độ chấp nhận đối với phát triển điện gió

Bảng 3: Kết quả phân tích với biến thái độ và sự chấp nhận

Biến

Mean

Đồng ý

4-5 (%)

Cronbach’s

Alpha

Thái độ

3,930

0,812

Phát triển dự án điện gió là lựa chọn hợp lý, hiệu quả

3,709

61,4

Điện gió có tiềm năng mang lại lợi ích cho người dân

4,034

76,2

Tin tưởng vào lợi ích của các dự án điện gió

4,042

74,8

Sự chấp nhận

4,100

0,889

Ủng hộ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam

4,146

78,0

Sẵn sàng hỗ trợ tích cực phát triển dự án điện gió tại Việt Nam

4,074

77,6

Chấp nhận những thay đổi cần thiết để phát triển nhiều dự án hơn

4,081

79,1

Nguồn: Kết quả tính toán của Tác giả

Thang đo thái độ gồm 3 biến có Cronbach’s Alpha = 0,812 và Mean = 3,930; thang đo sự chấp nhận gồm 3 biến có Cronbach’s Alpha = 0,889 và Mean = 4,100. Trong 3 câu khảo sát trực tiếp về sự chấp nhận: Ủng hộ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam đạt Mean = 4,146 và 78,0% người trả lời chọn mức 4 hoặc 5. Hai câu khảo sát về sẵn sàng hỗ trợ và chấp nhận thay đổi cần thiết đều có Mean trên 4,0. Kết quả cho thấy sự đồng lòng của người dân khía cạnh chính trị - xã hội đối với phát triển điện gió trong mẫu khảo sát là tương đối cao.

So sánh sự chấp nhận giữa các nhóm đối tượng khảo sát

Bảng 4: Kết quả phân tích khác biệt về sự chấp nhận giữa các nhóm

Biến phân nhóm

F

Sig.

Kết quả

Giới tính

1,990

0,159

Không khác biệt

Độ tuổi

2,679

0,031

Có khác biệt

Trình độ học vấn

9,983

0,000

Có khác biệt

Nghề nghiệp

2,811

0,016

Có khác biệt

Thu nhập

1,675

0,154

Không khác biệt

Mức độ hiểu biết về điện gió

8,073

0,000

Có khác biệt

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả

Kết quả phân tích ANOVA (Bảng 4) cho thấy không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ chấp nhận giữa nam và nữ (p = 0,159) và giữa các nhóm thu nhập (p = 0,154). Ngược lại, khác biệt có ý nghĩa xuất hiện theo độ tuổi (p = 0,031), trình độ học vấn (p < 0,001), nghề nghiệp (p = 0,016) và mức độ hiểu biết về điện gió (p < 0,001).

Xét theo độ tuổi, nhóm trên 62 tuổi có điểm chấp nhận trung bình thấp nhất (3,201), trong khi các nhóm dưới 46 tuổi đều có Mean trên 4 điểm. Về trình độ học vấn, nhóm đại học có Mean = 4,273, cao hơn nhóm phổ thông (3,716) và trung cấp/cao đẳng (3,745). Xét theo nghề nghiệp, cán bộ quản lý có Mean = 4,213; viên chức/công chức = 4,147; trong khi nông, lâm, ngư dân = 3,691.

Mức độ hiểu biết về điện gió càng cao thì càng có xu hướng chấp nhận cao hơn. Người tự đánh giá hiểu biết ở mức 4 và 5 có điểm chấp nhận trung bình lần lượt là 4,340 và 4,445; cao hơn các nhóm mức 1-3. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu thực nghiệm tại Trung Quốc của Guo và cộng sự (2015), trong đó việc cung cấp thông tin phù hợp được xem là có khả năng cải thiện mức độ tiếp nhận điện gió của người dân.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu có một số điểm tương đồng với nghiên cứu trước đây tại Việt Nam của Nguyen và cộng sự (2025): các lợi ích về môi trường và an ninh năng lượng được đánh giá cao, trong khi người trả lời vẫn ghi nhận các quan ngại về hệ sinh thái và công nghệ. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu quốc tế của Sonnberger và Ruddat (2017), theo đó nhận thức về lợi ích kinh tế, giảm ô nhiễm và giảm phát thải carbon thường hỗ trợ sự chấp nhận, trong khi tiếng ồn, thay đổi cảnh quan và hệ sinh thái là các yếu tố cản trở sự phát triển điện gió.

Tuy nhiên, khác biệt quan trọng giữa 2 nghiên cứu nằm ở khía cạnh của sự chấp nhận. Nguyen và cộng sự (2025) khảo sát cư dân tại các tỉnh có dự án điện gió và phân tích cả khoảng cách nhà ở tới tua-bin, kết quả thể hiện sự chấp nhận ở khía cạnh cộng đồng địa phương. Bằng chứng quốc tế mới của Liu và cộng sự (2026) cho thấy người dân nói chung có mức chấp nhận điện gió cao hơn cư dân sống gần trang trại gió, trong đó người dân đánh giá lợi ích theo hướng rộng và bị ảnh hưởng bởi các lợi ích chung hơn, còn cư dân địa phương nhạy cảm hơn với các yếu tố gắn với trải nghiệm thực tế. Vì vậy, nghiên cứu này khẳng định, củng cố thêm các phát hiện của một số nghiên cứu quốc tế như của Liu và cộng sự (2026) về sự chấp nhận của người dân ở khía cạnh chính trị - xã hội.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Nghiên cứu cho thấy người dân trong mẫu khảo sát có mức chấp nhận tương đối cao đối với định hướng phát triển điện gió tại Việt Nam. Các lý do ủng hộ nổi bật tập trung vào giảm phát thải khí nhà kính, tăng tỷ trọng năng lượng xanh, giảm phụ thuộc vào các nguồn năng lượng khác và sự tin tưởng đối với năng lực lựa chọn phương án dự án. Đồng thời, người dân vẫn quan tâm đến tính không ổn định của điện gió, tiếng ồn, bóng nhấp nháy và các ảnh hưởng có thể xảy ra đối với đời sống và sản xuất.

Trên quan điểm chính sách, kết quả cho thấy truyền thông về điện gió cần cung cấp đồng thời 2 nhóm thông tin. Một mặt, cần làm rõ đóng góp của điện gió đối với an ninh năng lượng, giảm phát thải và phát triển bền vững. Mặt khác, cơ quan quản lý và nhà phát triển cần có các biện pháp khắc phục tính biến động của nguồn điện, tiếng ồn, bóng nhấp nháy, ảnh hưởng hệ sinh thái và các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng, vận hành. Việc chỉ nhấn mạnh lợi ích mà không giải thích các rủi ro có thể làm suy giảm sự ủng hộ của người dân.

Khác biệt theo trình độ học vấn, lĩnh vực nghề nghiệp, tuổi và mức độ hiểu biết cũng cho thấy chính sách truyền thông cần phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đặc biệt, kết quả về hiểu biết điện gió gợi ý vai trò của thông tin khoa học dễ tiếp cận trong việc hình thành nhận thức và sự chấp nhận. Tuy nhiên, cần tránh coi truyền thông là giải pháp một chiều; quan trọng hơn là giúp người dân có đủ thông tin để tự đánh giá cả lợi ích và chi phí của quá trình phát triển điện gió.

Nghiên cứu này tồn tại 2 hạn chế chính. Thứ nhất, mẫu khảo sát là thuận tiện và khu vực địa lý chưa được đồng đều nên có thể chưa là mẫu đại diện tốt cho toàn bộ người dân Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu mới tập trung vào phân tích mô tả và so sánh sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng được khảo sát; nghiên cứu sâu hơn có thể sử dụng PLS-SEM để kiểm định toàn bộ các quan hệ theo mô hình BRT mở rộng.

Tài liệu tham khảo:

1. De Luca, E., Nardi, C., Giuffrida, L.G., Krug, M. & Di Nucci, M.R. (2020). Explaining Factors Leading to Community Acceptance of Wind Energy: Results of an Expert Assessment. Energies, 13(8), 2119. doi:10.3390/en13082119

2. Ellis, G. & Ferraro, G. (2016). The Social Acceptance of Wind Energy: Where We Stand and the Path Ahead. EUR 28182 EN. Luxembourg: Publications Office of the European Union. ISBN 978-92-79-63210-5. DOI: 10.2789/696070

3. Guo, Y., Ru, P., Su, J. & Anadon, L. D. (2015). Not in my backyard, but not far away from me: Local acceptance of wind power in China. Energy, 82, 722-733. DOI: 10.1016/j.energy.2015.01.082

4. Liu, K., Nishikizawa, S., Murayama, T., Suwanteep, K., Yu, Q. & Zhang, W. (2026). Bridging the Gap Between Socio-Political and Community Acceptance of Wind Energy: Policy Insights for Sustainable Energy Development. Sustainable Development, 34(5), 6166-6192. DOI: 10.1002/sd.70663

5. Nguyen, M.D., Duong, K.T., Dinh, V.C. & Le, N.T. (2025). Community acceptance of wind energy projects development in Viet Nam from the perspective of behavioral reasoning theory. International Journal of Sociology and Social Policy, 45(3/4), 380-393. doi:10.1108/IJSSP-08-2024-0407

6. Ruddat, M. (2022). Public acceptance of wind energy - concepts, empirical drivers and some open questions. Wind Energy Science, 7, 1679-1691. DOI: 10.5194/wes-7-1679-2022

7. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

8. Sonnberger, M. & Ruddat, M. (2017). Local and socio-political acceptance of wind farms in Germany. Technology in Society, 51, 56-65. https://doi.org/10.1016/j.techsoc.2017.07.005

9. Westaby, J.D. (2005). Behavioral reasoning theory: Identifying new linkages underlying intentions and behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 98(2), 97-120. doi:10.1016/j.obhdp.2005.07.003

10. Wolsink, M. (2018). Social acceptance revisited: Gaps, questionable trends, and an auspicious perspective. Energy Research & Social Science, 46, 287-295, doi:10.1016/j.erss.2018.07.034

11. Wüstenhagen, R., Wolsink, M. & Bürer, M.J. (2007). Social acceptance of renewable energy innovation: An introduction to the concept. Energy Policy, 35(5), 2683-2691, doi:10.1016/j.enpol.2006.12.001

Ngày nhận bài: 1/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 16/10/2026

Các tin khác

Tác động của marketing xã hội doanh nghiệp và marketing gắn với mục đích xã hội đến tài sản thương hiệu trong ngành sữa tại Việt Nam

Tác động của marketing xã hội doanh nghiệp và marketing gắn với mục đích xã hội đến tài sản thương hiệu trong ngành sữa tại Việt Nam

Marketing xã hội doanh nghiệp là việc doanh nghiệp triển khai các chiến dịch thay đổi hành vi nhằm cải thiện sức khỏe cộng đồng, an toàn và môi trường. Trong khi đó, marketing gắn với mục đích xã hội là chiến lược cam kết đóng góp của doanh nghiệp cho tổ chức hoặc mục đích xã hội gắn với giao dịch tạo doanh thu.
Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ

Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ

Phát triển kinh tế số cấp tỉnh đang trở thành trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng của Việt Nam, khi cạnh tranh địa phương ngày càng gắn với chất lượng thể chế, năng lực số và khả năng hấp thụ đổi mới sáng tạo. Tuy vậy, khác biệt lớn giữa các tỉnh/thành cho thấy, cùng một kết quả có thể được tạo nên từ nhiều tổ hợp điều kiện.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chấp nhận sử dụng trợ lý mua hàng trực tuyến

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chấp nhận sử dụng trợ lý mua hàng trực tuyến

Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đã thúc đẩy việc ứng dụng các trợ lý mua hàng trực tuyến trên các nền tảng thương mại điện tử
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm

Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm

Nghiên cứu phân tích tác động của tính chân thực cảm nhận của người livestream đến ý định mua lại, với niềm tin vào người bán là biến trung gian và chất lượng thông tin sản phẩm là biến điều tiết. Kết quả nghiên cứu góp phần xác định điều kiện giới hạn tác động của tính chân thực trong quá trình hình thành niềm tin.
Hoàn thiện chính sách phát triển các sản phẩm tài chính xanh tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Hoàn thiện chính sách phát triển các sản phẩm tài chính xanh tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam mở ra khả năng tập trung các định chế tài chính, nhà đầu tư, tổ chức tư vấn và dịch vụ chuyên môn vào một không gian thể chế có tính kết nối quốc tế cao
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh du lịch phục hồi mạnh và cạnh tranh ngày càng gia tăng, năng lực thích ứng với chuyển đổi số trở thành yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp du lịch. Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò của năng lực số của nhân viên, văn hóa số, chia sẻ tri thức và tinh thần đổi mới trong quá trình thích ứng này.
Quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo tại các trường đại học công lập khối ngành kinh tế: Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo tại các trường đại học công lập khối ngành kinh tế: Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Dưới góc độ quản lý kinh tế, dịch vụ đào tạo tại các trường công lập bản chất là việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực công để tích lũy vốn nhân lực cho xã hội.
Hành vi thích nghi công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tổng quan lý thuyết và khung khái niệm trong bối cảnh chuyển đổi số

Hành vi thích nghi công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tổng quan lý thuyết và khung khái niệm trong bối cảnh chuyển đổi số

Hành vi thích nghi công nghệ (TAB) được hiểu là tập hợp các phản ứng chủ động, linh hoạt và kéo dài của nhân viên nhằm đối phó, khai thác và làm chủ thay đổi công nghệ trong công việc.
Token hóa sản phẩm cà phê trong quản trị chuỗi cung ứng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Token hóa sản phẩm cà phê trong quản trị chuỗi cung ứng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Token hóa sản phẩm cà phê giúp minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc, nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng và tăng giá trị sản phẩm.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi làm việc đổi mới xanh của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của gắn kết công việc xanh

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi làm việc đổi mới xanh của nhân viên văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của gắn kết công việc xanh

Hành vi làm việc đổi mới xanh của nhân viên văn phòng thúc đẩy sáng kiến bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên và phát triển bền vững.