Thu nhập từ kênh số và hiệu quả sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Bằng chứng dữ liệu bảng giai đoạn 2017-2025
Dương Nguyễn Thanh Tâm
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa chuyển đổi số và hiệu quả sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng một thước đo hướng đầu ra: tỷ trọng thu nhập từ kênh ngân hàng số trong tổng thu nhập hoạt động. Dữ liệu bảng cân bằng gồm 216 quan sát của 24 ngân hàng trong giai đoạn 2017-2025. Sau khi so sánh Pooled OLS, mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên, nghiên cứu sử dụng FGLS để xử lý phương sai sai số thay đổi và tự tương quan bậc nhất. Kết quả cho thấy tỷ trọng thu nhập số có quan hệ cùng chiều với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); khi tỷ trọng này tăng 1 điểm phần trăm, ROE tăng khoảng 0,369 điểm phần trăm, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay và biến giả tự do hóa tài chính cũng mang dấu dương, trong khi tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tăng trưởng GDP mang dấu âm. Phát hiện cốt lõi là giá trị của chuyển đổi số không nằm ở quy mô đầu tư công nghệ, mà ở năng lực chuyển hóa nền tảng số thành dòng thu nhập có khả năng mở rộng và hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.
Từ khóa: Chuyển đổi số, ngân hàng thương mại, ROE, thu nhập kênh số, FGLS
Abstract
This study analyzes the relationship between digital transformation and the profitability of Vietnamese commercial banks, using an output-oriented measure: the share of income generated through digital banking channels relative to total operating income. The balanced panel dataset comprises 216 observations from 24 banks over the 2017-2025 period. After comparing pooled OLS, fixed-effects, and random-effects models, the study employs feasible generalized least squares (FGLS) to address heteroskedasticity and first-order autocorrelation. The results show that the share of digital income is positively associated with return on equity (ROE); a 1-percentage-point increase in this share is associated with approximately a 0.369-percentage-point increase in ROE, holding other factors constant. Bank size, the loan ratio, and the financial liberalization dummy variable also have positive coefficients, whereas the credit risk provision ratio and GDP growth have negative coefficients. The key finding is that the value of digital transformation lies not in the scale of technology investment, but in the ability to convert digital platforms into scalable income streams and improve the efficiency of equity capital utilization.
Keywords: Digital transformation, commercial banks, ROE, digital channel income, FGLS
GIỚI THIỆU
Bằng chứng thực nghiệm chưa thống nhất. Do và cộng sự (2022), Trịnh Đoàn Tuấn Linh (2024), Chao và cộng sự (2024) và Citterio và cộng sự (2024) ghi nhận tác động tích cực của số hóa đến hiệu quả ngân hàng. Trái lại, Nguyen Thi Huong và cộng sự (2023), Zhang (2026) chỉ ra ảnh hưởng bất lợi trong một số bối cảnh, chủ yếu do chi phí chuyển đổi, hiệu quả vận hành suy giảm hoặc rủi ro tín dụng gia tăng. Một nguyên nhân quan trọng của khác biệt này là cách đo lường. Chỉ số đầu tư công nghệ hoặc tần suất từ khóa trong báo cáo thường niên phản ánh đầu vào và định hướng chiến lược, nhưng chưa cho biết công nghệ đã tạo ra thu nhập thực tế hay chưa.
Nghiên cứu đo chuyển đổi số bằng tỷ trọng thu nhập từ kênh ngân hàng số trên tổng thu nhập hoạt động, qua đó phản ánh trực tiếp khả năng thương mại hóa nền tảng và dữ liệu. Đóng góp của bài viết nằm ở thước đo hướng đầu ra, bộ dữ liệu 2017-2025 và ước lượng FGLS xử lý đồng thời khác biệt phương sai giữa ngân hàng và phụ thuộc theo thời gian.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT
Theo Lý thuyết nguồn lực, dữ liệu, hạ tầng và nền tảng số chỉ tạo lợi thế khi có giá trị, khó bắt chước và được tổ chức khai thác hiệu quả (Barney, 1991). Lý thuyết Năng lực động nhấn mạnh thêm khả năng tái cấu trúc quy trình, sản phẩm và nguồn lực để thích ứng với thay đổi công nghệ (Teece và cộng sự, 1997). Vì vậy, sở hữu công nghệ là điều kiện cần; năng lực thương mại hóa công nghệ thành thu nhập mới là điều kiện đủ để cải thiện hiệu quả.
Dưới góc độ chi phí giao dịch, số hóa làm giảm chi phí tìm kiếm, xác minh, xử lý và giám sát (Williamson, 1985). Nền tảng số có thể mở rộng khách hàng mà không cần tăng tương ứng mạng lưới vật lý; dữ liệu thời gian thực hỗ trợ định giá, bán chéo và cảnh báo rủi ro. Các bằng chứng gần đây cho thấy lợi nhuận được cải thiện qua hiệu quả mạng lưới, chất lượng tài sản và năng lực vận hành (Chao và cộng sự, 2024; Citterio và cộng sự, 2024). Tại Việt Nam, Trịnh Đoàn Tuấn Linh (2024) ghi nhận quan hệ tích cực giữa tỷ trọng thu nhập số và hiệu quả kỹ thuật. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H1: Tỷ trọng thu nhập từ kênh ngân hàng số có tác động tích cực đến ROE của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu gồm 24 ngân hàng thương mại trong 9 năm, từ 2017 đến 2025, tạo thành bảng cân bằng 216 quan sát. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán và báo cáo thường niên; dữ liệu vĩ mô được tổng hợp từ World Bank và IMF.
ROE được tính bằng lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân. Biến giải thích chính CDS là thu nhập từ kênh ngân hàng số chia cho tổng thu nhập hoạt động. Các biến kiểm soát gồm quy mô ngân hàng (SIZE, logarit tự nhiên của tổng tài sản), hệ số an toàn vốn (CAR), tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (LOAN), dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LLR), tăng trưởng GDP, lạm phát (INF), biến giả COVID nhận giá trị 1 trong giai đoạn 2020-2022 và biến giả tự do hóa tài chính (FL). Cách vận hành LOAN theo tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản được lựa chọn để nhất quán với bộ dữ liệu thực nghiệm, trong đó biến này dao động từ 0,260 đến 0,878.
Mô hình nghiên cứu có dạng:
ROEᵢₜ = β₀ + β₁CDSᵢₜ + β₂SIZEᵢₜ + β₃CARᵢₜ + β₄LOANᵢₜ + β₅LLRᵢₜ + β₆GDPₜ + β₇INFₜ + β₈COVIDₜ + β₉FLₜ + εᵢₜ
Nghiên cứu ước lượng Pooled OLS, FEM và REM; dùng kiểm định F, Hausman, VIF, Modified Wald và Wooldridge để lựa chọn mô hình và chẩn đoán khuyết tật. Do phương sai sai số thay đổi và tự tương quan cùng xuất hiện, kết quả cuối cùng được ước lượng bằng FGLS với cấu trúc AR(1) chung.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
ROE trung bình đạt 9,47%, còn tỷ trọng thu nhập số trung bình là 15,03%. Độ lệch chuẩn tương ứng là 7,17 và 6,12 điểm phần trăm cho thấy khác biệt đáng kể về khả năng sinh lời và mức độ thương mại hóa số. Tỷ trọng thu nhập số bình quân tăng từ 12,56% năm 2017 lên 29,35% năm 2025, trong khi ROE biến động theo chu kỳ kinh tế và chất lượng tài sản.
Bảng 1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu
| Biến | Trung bình | Độ lệch chuẩn | Nhỏ nhất | Lớn nhất |
|
ROE |
0,0947 |
0,0717 |
0,0008 |
0,3276 |
|
CDS |
0,1503 |
0,0612 |
0,0485 |
0,3439 |
|
SIZE |
33,2204 |
1,2698 |
30,5073 |
36,2368 |
|
CAR |
0,1126 |
0,0185 |
0,0538 |
0,1820 |
|
LOAN |
0,5434 |
0,0894 |
0,2598 |
0,8782 |
|
LLR |
0,0173 |
0,0073 |
0,0034 |
0,0395 |
|
GDP |
0,0615 |
0,0202 |
0,0256 |
0,0802 |
|
INF |
0,0313 |
0,0051 |
0,0183 |
0,0354 |
|
COVID |
0,3333 |
0,4725 |
0 |
1 |
|
FL |
0,5556 |
0,4981 |
0 |
1 |
Ghi chú: Các biến tỷ lệ được biểu diễn dưới dạng số thập phân.
Nguồn: Tính toán từ bộ dữ liệu nghiên cứu.
Hệ số tương quan lớn nhất giữa các biến giải thích là 0,587 và VIF trung bình bằng 1,57, nên đa cộng tuyến không nghiêm trọng. Kiểm định F bác bỏ Pooled OLS; Hausman lựa chọn FEM. Modified Wald và Wooldridge đều có p-value dưới 0,001, xác nhận phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Mô hình FGLS có ý nghĩa tổng thể với Wald χ²(9) = 163,09 và p < 0,001.
Bảng 2: Kết quả ước lượng FGLS với ROE là biến phụ thuộc
| Biến | Hệ số | Sai số chuẩn | p-value |
|
CDS |
0,3691 |
0,0785 |
< 0,001 |
|
SIZE |
0,0133 |
0,0033 |
< 0,001 |
|
CAR |
-0,0365 |
0,0778 |
0,639 |
|
LOAN |
0,1961 |
0,0365 |
< 0,001 |
|
LLR |
-0,5249 |
0,2663 |
0,049 |
|
GDP |
-0,2252 |
0,0543 |
< 0,001 |
|
INF |
0,5101 |
0,2571 |
0,047 |
|
COVID |
0,0004 |
0,0027 |
0,889 |
|
FL |
0,0155 |
0,0050 |
0,002 |
|
Hằng số |
-0,5225 |
0,1083 |
< 0,001 |
|
Wald χ²(9) |
163,09 |
|
< 0,001 |
Ghi chú: p-value hai phía; số quan sát = 216.
Nguồn: Kết quả ước lượng từ bộ dữ liệu nghiên cứu.
CDS có hệ số 0,3691 và ý nghĩa ở mức 1%, qua đó ủng hộ H1. Vì ROE và CDS đều được biểu diễn dưới dạng tỷ lệ, khi tỷ trọng thu nhập số tăng 1 điểm phần trăm, ROE tăng khoảng 0,369 điểm phần trăm, với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Hệ số này cho thấy thu nhập số vừa bổ sung doanh thu, vừa phản ánh năng lực khai thác dữ liệu và giảm chi phí phục vụ. Kết quả phù hợp với Do và cộng sự (2022), Trịnh Đoàn Tuấn Linh (2024), Chao và cộng sự (2024) và Citterio và cộng sự (2024). Khác biệt với Nguyen-Thi-Huong và cộng sự (2023) và Zhang (2026) cho thấy thước đo đầu vào và đầu ra có thể phản ánh 2 giai đoạn: đầu tư ban đầu làm tăng chi phí, còn thương mại hóa thành công mới cải thiện lợi nhuận.
SIZE và LOAN mang dấu dương cho thấy lợi thế quy mô và khả năng khai thác tài sản sinh lời vẫn quan trọng đối với ROE. Tuy nhiên, tăng cho vay chỉ tạo giá trị khi chất lượng tín dụng được bảo đảm. Hệ số LLR âm cho thấy tăng 1 điểm phần trăm tỷ lệ dự phòng gắn với mức giảm khoảng 0,525 điểm phần trăm ROE. Vì vậy, số hóa bền vững phải kết hợp mở rộng giao dịch với chấm điểm tín dụng, cảnh báo sớm và quản trị danh mục.
GDP mang dấu âm và INF mang dấu dương nhưng cần diễn giải thận trọng vì các biến vĩ mô chỉ thay đổi theo 9 năm. Dấu âm của GDP có thể phản ánh cạnh tranh biên lãi suất hoặc dịch chuyển vốn sang thị trường vốn; dấu dương của lạm phát có thể xuất hiện khi lãi suất tài sản điều chỉnh nhanh hơn chi phí vốn. Đây là quan hệ có điều kiện, không phải bằng chứng nhân quả. CAR và COVID không có ý nghĩa thống kê.
HÀM Ý QUẢN TRỊ
Trước hết, ngân hàng cần chuyển trọng tâm đánh giá từ “chi bao nhiêu cho công nghệ” sang “công nghệ tạo ra bao nhiêu thu nhập và giá trị cho khách hàng”. Đầu tư công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí và tăng mức độ gắn kết của khách hàng. Do đó, bên cạnh quy mô đầu tư, ngân hàng nên theo dõi các chỉ tiêu như tỷ trọng thu nhập số, chi phí trên mỗi giao dịch số, tỷ lệ người dùng hoạt động, doanh thu bán chéo và giá trị vòng đời khách hàng. Các chỉ tiêu này giúp ngân hàng đánh giá rõ hơn hiệu quả thực tế của quá trình chuyển đổi số và có cơ sở phân bổ nguồn lực phù hợp.
Tiếp theo, tăng trưởng thu nhập số cần đi cùng với tái thiết kế quy trình hoạt động. Việc số hóa một quy trình cũ nhưng vẫn duy trì nhiều tầng phê duyệt và xử lý thủ công có thể làm hạn chế hiệu quả của công nghệ. Vì vậy, ngân hàng cần tăng cường kết nối và khai thác dữ liệu, tự động hóa các nghiệp vụ lặp lại, đồng thời đơn giản hóa quy trình để rút ngắn thời gian xử lý. Bên cạnh đó, việc sử dụng kiến trúc mở và hợp tác với các đối tác trong hệ sinh thái có thể giúp ngân hàng mở rộng sản phẩm, dịch vụ và tiếp cận khách hàng với chi phí hợp lý hơn.
Cuối cùng, tác động âm của dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LLR) cho thấy chuyển đổi số cần được triển khai song song với quản trị rủi ro. Dữ liệu từ các giao dịch số có thể được sử dụng để cải thiện chấm điểm tín dụng, nhận diện gian lận và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm. Do đó, mục tiêu của ngân hàng không chỉ là giải ngân nhanh hơn mà còn phải nâng cao khả năng lựa chọn và đánh giá khách hàng. Đối với ngân hàng quy mô nhỏ, nên tập trung vào các phân khúc có lợi thế và tăng cường hợp tác để giảm chi phí đầu tư; trong khi ngân hàng lớn cần tận dụng lợi thế về dữ liệu nhưng đồng thời kiểm soát sự phức tạp của hệ thống và tổ chức.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng chuyển đổi số có quan hệ tích cực với ROE khi được đo bằng tỷ trọng thu nhập từ kênh số. Kết quả làm rõ rằng công nghệ chỉ tạo hiệu quả khi được khách hàng chấp nhận, tích hợp vào quy trình và chuyển hóa thành dòng thu nhập có khả năng mở rộng. Bên cạnh chuyển đổi số, quy mô, tỷ lệ cho vay, dự phòng rủi ro và môi trường thể chế cùng định hình khả năng sinh lời. Biến CDS chưa bao quát chất lượng hạ tầng, an ninh mạng và trải nghiệm khách hàng; FGLS cũng chưa loại trừ nội sinh 2 chiều giữa số hóa và ROE. Nghiên cứu tiếp theo nên xây dựng chỉ số số hóa đa chiều, sử dụng System GMM hoặc biến công cụ, đồng thời kiểm định tác động phi tuyến và khác biệt theo quy mô ngân hàng.
Tài liệu tham khảo
1. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120.
2. Chao, N., Zhou, Y., và Yang, H. (2024). How does digital transformation affect the profitability of rural commercial banks? Heliyon, 10(8), e29412.
3. Citterio, A., King, T., và Locatelli, R. (2024). Is digital transformation profitable for banks? Evidence from Europe. Finance Research Letters, 70, 106269.
4. Do, T. D., Pham, H. A. T., Thalassinos, E. I., & Le, H. A. (2022). The Impact of Digital Transformation on Performance: Evidence from Vietnamese Commercial Banks. Journal of Risk and Financial Management, 15(1), 21.
5. Nguyen-Thi-Huong, L., Nguyen-Viet, H., Nguyen-Phuong, A., và Van Nguyen, D. (2023). How does digital transformation impact bank performance? Cogent Economics & Finance, 11(1), 2217582.
6. Teece, D. J., Pisano, G., và Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509–533.
7. Trịnh Đoàn Tuấn Linh. (2024). Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 326, 53–62.
8. Williamson, O. E. (1985). The economic institutions of capitalism. Free Press.
9. Zhang, S. (2026). The influence of digital transformation on Chinese bank profitability performance. PLoS One, 21(1), e0340249.
|
Ngày nhận bài: 7/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/9/2026; Ngày duyệt đăng: 25/9/2026 |
Các tin khác
Gắn kết thương hiệu và lòng trung thành đối với mỹ phẩm thuần chay trong môi trường tiếp thị số tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của các công nghệ mới trong kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính và thích ứng nghề nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội
Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị
Chia sẻ tri thức, phong cách lãnh đạo và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên ngành du lịch - lữ hành Hà Nội
Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ