Tác động của việc phát triển các dự án điện gió đến cộng đồng địa phương

Nghiên cứu - Trao đổi 15:31 | 11/04/2026
Bên cạnh những lợi ích về kinh tế và môi trường, các dự án điện gió cũng tạo ra nhiều tác động đa chiều đến cộng đồng địa phương - nơi trực tiếp chịu ảnh hưởng từ quá trình triển khai và vận hành dự án.

Nguyễn Thị Lê

Trường Đại học Điện lực

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện cả tác động tích cực và tiêu cực của điện gió đối với kinh tế, xã hội và môi trường tại các khu vực triển khai dự án. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm tổng quan tài liệu kết hợp phỏng vấn các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực năng lượng. Kết quả cho thấy các dự án điện gió mang lại lợi ích đáng kể như tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện cơ sở hạ tầng địa phương, song cũng phát sinh một số tác động tiêu cực như ảnh hưởng cảnh quan, tiếng ồn và xung đột lợi ích. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và cơ chế phân bổ lợi ích công bằng trong việc nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các dự án điện gió.

Từ khóa: Cộng đồng địa phương, điện gió, tác động kinh tế, tác động môi trường, tác động xã hội

Abstract

This study aims to comprehensively assess both the positive and negative impacts of wind power on the economic, social, and environmental dimensions of areas hosting wind energy projects. The research employs a mixed-method approach combining literature review and interviews with leading experts in the energy sector. The findings indicate that wind power projects generate substantial benefits, including job creation, income enhancement, and improvements in local infrastructure; however, they also give rise to adverse effects such as landscape alteration, noise pollution, and conflicts of interest. The study highlights the critical role of local communities and equitable benefit-sharing mechanisms in enhancing the effectiveness and sustainability of wind power projects.

Keywords: Local communities, wind power, economic impacts, environmental impacts, social impacts

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực thi chiến lược phát triển năng lượng tái tạo, điện gió trở thành một trong 2 nguồn năng lượng tái tạo chủ chốt. Việc đẩy mạnh phát triển các dự án điện gió không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, mà còn hỗ trợ thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế và môi trường, các dự án điện gió cũng tạo ra nhiều tác động đa chiều đến cộng đồng địa phương - nơi trực tiếp chịu ảnh hưởng từ quá trình triển khai và vận hành dự án.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến tác động của điện gió, song các nghiên cứu tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu tiếp cận một cách tổng thể cả khía cạnh tích cực và tiêu cực đối với cộng đồng địa phương. Phần lớn các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào hiệu quả kinh tế hoặc tiềm năng kỹ thuật, trong khi các yếu tố xã hội như: nhận thức cộng đồng, xung đột lợi ích hay cơ chế phân bổ lợi ích vẫn chưa được phân tích đầy đủ. Do đó, nghiên cứu này hướng đến việc lấp đầy khoảng trống đó thông qua việc đánh giá toàn diện tác động của các dự án điện gió đến cộng đồng các địa phương chịu ảnh hưởng từ việc triển khai, vận hành các dự án. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung giải quyết 2 nội dung chính: (i) hệ thống hóa các dạng tác động của dự án điện gió đến cộng đồng địa phương trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường thông qua tổng quan tài liệu và ý kiến chuyên gia và (ii) đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả triển khai dự án, tăng cường sự đồng thuận của cộng đồng và hướng tới phát triển điện gió bền vững tại Việt Nam.

CỞ SỞ LÝ THUYẾT

Việc đánh giá tác động của các dự án điện gió đến cộng đồng địa phương có thể được tiếp cận từ nhiều khung lý thuyết khác nhau, trong đó nổi bật là các lý thuyết về chấp nhận xã hội, phát triển bền vững và công bằng phân phối.

Sự chấp nhận xã hội được xem là yếu tố then chốt quyết định thành công của các dự án năng lượng tái tạo. Theo Wüstenhagen và cộng sự (2007), chấp nhận xã hội bao gồm 3 cấp độ: chấp nhận xã hội tổng thể, chấp nhận của cộng đồng địa phương và chấp nhận của thị trường. Trong đó, sự chấp nhận của cộng đồng địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng do họ là đối tượng chịu tác động trực tiếp từ dự án (Wüstenhagen và cộng sự 2007; Devine-Wright và cộng sự 2017). Đối với điện gió, các yếu tố như nhận thức về lợi ích, rủi ro và ảnh hưởng xã hội có thể định hình thái độ của người dân đối với dự án.

Cách tiếp cận phát triển bền vững nhấn mạnh sự cân bằng giữa 3 chân kiềng: kinh tế, xã hội và môi trường (WCED, 1987). Các dự án điện gió được kỳ vọng mang lại lợi ích kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm phát thải nhưng đồng thời cũng có thể gây ra các tác động tiêu cực như thay đổi cảnh quan, tiếng ồn và ảnh hưởng đến sinh kế địa phương (Devine-Wright và cộng sự, 2017).

Bên cạnh đó, Lý thuyết về công bằng xã hội cũng được sử dụng để phân tích việc phân bổ lợi ích và chi phí của các dự án năng lượng. Sovacool và Dworkin (2015) cho rằng tính công bằng trong phân phối lợi ích, quy trình ra quyết định minh bạch và sự tham gia của cộng đồng là những yếu tố quan trọng để nâng cao sự chấp nhận xã hội.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia kết hợp với tổng quan tài liệu nhằm đánh giá tác động của các dự án điện gió đến cộng đồng địa phương. Trước hết, phương pháp tổng quan tài liệu được thực hiện nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tác động của điện gió. Các tài liệu được lựa chọn từ các cơ sở dữ liệu khoa học uy tín như Scopus, Web of Science và Google Scholar. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn chuyên gia với các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực năng lượng nhằm thu thập ý kiến đánh giá chuyên sâu về tác động của điện gió tại Việt Nam.

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN ĐIỆN GIÓ ĐẾN CỘNG ĐỒNG CÁC ĐỊA PHƯƠNG

Tác động xã hội

Những lợi ích và rủi ro về mặt xã hội là một trong những cân nhắc cơ bản được xem xét trong quá trình phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Điện gió là một nguồn năng lượng tái tạo mang lại một số lợi ích xã hội cho cộng đồng như cơ hội việc làm tại địa phương, cải thiện sức khỏe bằng cách giảm ô nhiễm liên quan đến khí thải (Osman và cộng sự, 2023). Theo IRENA (2024), năm 2023 trên toàn thế giới đã có 115 GW điện gió được lắp đặt, cao hơn đáng kể so với năm trước và vượt qua kỷ lục được thiết lập vào năm 2020. Mức công suất này tương đương với việc điện gió đã tạo việc làm cho khoảng 1.5 triệu người vào năm 2023 (IRENA, 2024). Trong báo cáo tận dụng năng lực địa phương cho điện gió trên bờ, IRENA (2017) phát hiện ra rằng một dự án điện gió 50 MW điển hình cần tổng cộng 144.000 ngày công, trong đó hoạt động và bảo trì chiếm 43%, xây dựng và lắp đặt chiếm 30% và sản xuất chiếm 17%.

Hơn nữa, điện gió nói riêng và năng lượng tái tạo nói chung cũng góp phần gia tăng tỷ lệ lao động nữ trong ngành năng lượng, vốn được coi là ngành do nam giới nắm chủ đạo đối với việc sản xuất điện từ các dạng năng lượng truyền thống. Điều này có nghĩa là điện gió cũng góp phần vào công cuộc bình đẳng giới thông qua chia sẻ cơ hội việc làm nhiều hơn cho nữ giới. Nghiên cứu của Farghali và cộng sự (2023) chỉ ra các nguồn năng lượng tái tạo giúp giảm thiểu tác động có hại đến sức khỏe của phụ nữ ở Nam Phi và nhiều nước đang phát triển, nơi mà củi thường xuyên được sử dụng làm nguồn năng lượng, đặc biệt là cho mục đích nấu nướng.

Akella và cộng sự (2009) kết luận rằng, tổng lượng khí thải giảm rất nhiều sau khi lắp đặt các dự án năng lượng tái tạo ở các vùng xa xôi. Điều này giúp cải thiện điều kiện môi trường sống của người dân.

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra tác động bất lợi của điện gió đến sức khỏe con người. Moller và Pedersen (2011) nghiên cứu tiếng ồn tần số thấp và sóng hạ âm tạo ra từ các tuabin gió và đi đến kết luận rằng nếu tiếng ồn ngoài trời của các tuabin là 44dB thì phần lớn cư dân sẽ có nguy cơ cảm thấy khó chịu ngay cả khi đang ở trong phòng. Kết quả nghiên cứu của Nissenbaum và cộng sự (2012) cho biết những người sống trong bán kính 1,4 km từ tuabin gió có giấc ngủ kém hơn, buồn ngủ hơn vào ban ngày và có điểm sức khỏe tinh thần thấp hơn. Hanning và Evans (2012) cũng chỉ ra các nhà máy điện gió chính là tác nhân gây rối loạn giấc ngủ và làm suy giảm sức khỏe của người dân sống xung quanh dự án.

Tác động môi trường

Khi đánh giá tác động về mặt môi trường của các dự án điện gió, tác giả xem xét trên 2 nội dung chính: Môi trường đất, không khí và nước; Hệ sinh thái khu vực. Cụ thể:

Các nhà máy điện gió thường cần sử dụng một diện tích đất, diện tích biển tương đối lớn. Tuy nhiên, ngoài phần diện tích đặt tuabin và các hệ thống liên quan thì phần diện tích còn lại của dự án vẫn có thể sử dụng cho mục đích khác. Phần móng của tuabin gió có đường kính khoảng 10-20m nhưng được chôn sâu dưới mặt đất/đáy biển khoảng 40-80m.

Về mặt môi trường nước, điện gió là dạng sản xuất điện không sử dụng nước làm mát, vì thế các dự án điện gió không gây ô nhiễm môi trường nước cho khu vực địa phương. Ngoài ra, theo đánh giá của Tổ chức Năng lượng gió toàn cầu (GWEC, 2021), mỗi 1 MW điện gió được lắp đặt giúp giảm phát thải khoảng 1.800 tấn CO2, 9 tấn SOx và 4 tấn NOx hàng năm. Theo ước tính, đến 2050 chương trình phát triển điện gió trên toàn thế giới sẽ giảm phát thải 1,5 tỷ tấn CO2 (GWEC, 2021).

Tuy nhiên, trái ngược với lợi ích chống biến đổi khí hậu nói chung thì các nhà máy điện gió lại gây tác động tiêu cực đến tiểu khí hậu do chúng sẽ lấy một phần động năng của luồng không khí chuyển động, làm giảm vận tốc của gió. Về mặt lý thuyết, việc sử dụng hàng loạt tuabin gió, giảm tốc độ gió sẽ có ảnh hưởng đến các điều kiện khí hậu tại chỗ. Nếu tốc độ gió trung bình giảm đi thì luồng không khí chuyển động đó sẽ bị nung nóng hơn về mùa Hè và lạnh hơn về mùa Đông. Theo tính toán của các chuyên gia Mỹ, trong vòng 9 năm các trạm điện gió trong đất liền đang làm nhiệt độ cục bộ của mặt đất nóng lên 0,72 độ C. Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra các tác động của các dự án điện gió đến các loài và hệ sinh thái thể hiện mối quan tâm tới vấn đề bảo tồn sinh thái, đặc biệt đối với chim và dơi (Wang và cộng sự, 2015; Gove và cộng sự, 2016; Rygg, 2012; Slattery và cộng sự, 2012).

Bên cạnh đó, quá trình vận chuyển, xây dựng các dự án điện gió cũng được ghi nhận trong thực tế qua phản ánh của người dân có một số ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của họ. Việc vận chuyển các thiết bị siêu trọng, siêu trường làm hỏng đường và ảnh hưởng đến giao thông cũng như việc đi lại của người dân. Đồng thời quá trình xây dựng cũng làm xói mòn đất khu vực xung quanh dự án, ảnh hưởng đến việc canh tác của người dân. Hơn nữa, sau khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động thì quá trình vận hành dự án cũng gây ra những tác động như tiếng ồn, bóng nhấp nháy gây khó chịu và làm chết, giảm năng suất đối với cây trồng, vật nuôi.

Tác động kinh tế

Những tác động về mặt kinh tế của các dự án điện gió có thể kể đến là tác động đến giá bất động sản, du lịch, việc làm và sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp (Healy và Barry, 2017; Brudermann và cộng sự, 2013; Enevoldsen và Sovacool 2016; Gibbons, 2015). Việc tạo ra các cơ hội việc làm tại địa phương và giá bất động sản tăng lên nhờ dự án sẽ giúp người dân trong cộng đồng tăng thêm thu nhập. Các địa phương có dự án điện gió được phát triển cũng có thể khai thác các hoạt động du lịch liên quan dự án, qua đó làm tăng GDP của địa phương (Frantál và Kunc, 2011).

Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy các dự án điện gió cũng có thể gây tác động tiêu cực đến kinh tế địa phương khi hoạt động du lịch giải trí vốn có của địa phương bị ảnh hưởng bởi dự án (Rygg 2012; Devine-Wright và Howes, 2010; Pasqualetti, 2011).

Hiện nay, nmột số quốc gia đã giải quyết các vấn đề liên quan đến phân phối công bằng thông qua việc khuyến khích hoặc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, nhà thầu địa phương tham gia vào quá trình xây dựng, phát triển dự án. Điều này góp phần tạo ra tác động tích cực lên kinh tế địa phương (Warren và McFadyen 2010; Walker và cộng sự 2014).

Tóm lại, bên cạnh lợi ích chung về giảm phát thải khí nhà kính, việc phát triển các dự án điện gió cũng mang lại một số lợi ích cho cộng đồng các địa phương có dự án đồng thời cũng có những tác động bất lợi đến sinh hoạt và sản xuất của người dân. Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng, những tác động này ảnh hưởng tới quan điểm, sự chấp nhận của người dân đối với các dự án điện gió. Trong khi đó, sự chấp nhận của người dân đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc thực hiện thành công các chính sách phát triển điện gió (Holger Rogall, 2011).

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các dự án điện gió tạo ra tác động đa chiều đến cộng đồng địa phương, phù hợp với các khung lý thuyết về chấp nhận xã hội, phát triển bền vững và công bằng năng lượng. Bằng chứng từ tổng quan tài liệu và phỏng vấn chuyên gia cho thấy, bên cạnh các lợi ích rõ rệt như tạo việc làm, gia tăng thu nhập và cải thiện hạ tầng, các dự án điện gió cũng làm phát sinh những vấn đề như ảnh hưởng cảnh quan, sức khỏe và mâu thuẫn lợi ích. Đặc biệt, mức độ chấp nhận của cộng đồng phụ thuộc mạnh mẽ vào nhận thức lợi ích - chi phí, niềm tin vào chủ đầu tư và chính quyền cũng như mức độ tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị và chính sách cụ thể sau:

Một là, cần tăng cường tính minh bạch và truyền thông 2 chiều nhằm nâng cao nhận thức và niềm tin của cộng đồng, phù hợp với Lý thuyết chấp nhận xã hội. Hai là, xây dựng cơ chế phân bổ lợi ích công bằng (chia sẻ doanh thu, hỗ trợ sinh kế, phát triển hạ tầng địa phương) nhằm giảm thiểu xung đột và nâng cao tính công bằng năng lượng.

Ba là, thúc đẩy sự tham gia thực chất của cộng đồng trong toàn bộ vòng đời dự án, từ quy hoạch, triển khai đến vận hành, qua đó củng cố sự đồng thuận xã hội. Bốn là, hoàn thiện khung pháp lý và quy hoạch không gian nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực về môi trường và xã hội.

Những đánh giá tác động và các giải pháp gợi mở này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả triển khai các dự án điện gió mà còn đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách và nhà đầu tư trong việc thiết kế và thực thi các dự án điện gió theo hướng bền vững tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. A. I. Osman et al. (2023). Cost, environmental impact, and resilience of renewable energy under a changing climate: a review. Environ Chem Lett, 21(2), 741-764. doi: 10.1007/s10311-022-01532-8

2. A. K. Akella, R. P. Saini, and M. P. Sharma (2009). Social, economical and environmental impacts of renewable energy systems. Renewable Energy, 34(2), 390-396. doi: 10.1016/j.renene.2008.05.002

3. B. Frantál and J. Kunc (2011). Wind turbines in tourism landscapes. Annals of Tourism Research, 38(2), 499-519. doi: 10.1016/j.annals.2010.10.007

4. B. Gove et. al. (2016). Reconciling Biodiversity Conservation and Widespread Deployment of Renewable Energy Technologies in the UK. PLoS ONE, 11(5), 0150956. doi: 10.1371/journal.pone.0150956

5. B. J. A. Walker, B. Wiersma, and E. Bailey (2014). Community benefits, framing and the social acceptance of offshore wind farms: An experimental study in England. Energy Research & Social Science, 3, 46-54. doi: 10.1016/j.erss.2014.07.003

6. B. J. Rygg (2012). Wind power-An assault on local landscapes or an opportunity for modernization? Energy Policy, 48, 167-175. doi: 10.1016/j.enpol.2012.05.004

7. C. D. Hanning and A. Evans (2012). Wind turbine noise. BMJ, 344, 1527- e1527. doi: 10.1136/bmj.e1527

8. C. R. Warren and M. McFadyen (2010). Does community ownership affect public attitudes to wind energy? A case study from south-west Scotland. Land Use Policy, 27(2), 204-213. doi: 10.1016/j.landusepol.2008.12.010

9. Sovacool and Dworkin (2015). Conceptual insights and practical applications. https://ideas.repec.org/a/eee/appene/v142y2015icp435-444.html

10. GWEC (2021). Global Wind Report 2021. https://gwec.net/wp-content/uploads/2021/03/GWEC-Global-Wind-Report-2021.pdf

11. H. Møller and C. S. Pedersen (2011). Low-frequency noise from large wind turbines. The Journal of the Acoustical Society of America, 129(6), 3727-3744. doi: 10.1121/1.3543957

12. Holger Rogall (2011). Kinh tế học bền vững. Nxb. Khoa học tự nhiên.

13. IRENA (2017). Leveraging for Onshore Wind 2017. https://www.irena.org/media/Files/IRENA/Agency/Publication/2017/Jun/IRENA-Leveraging-for-Onshore-Wind-2017.pdf

14. IRENA (2024). Renewable energy and jobs 2024. https://www.irena.org/media/Files/IRENA/Agency/Publication/2024/Oct/IRENA-Renewable-energy-and-jobs-2024.pdf

15. M. C. Slattery, B. L. Johnson, J. A. Swofford, and M. J. Pasqualetti (2012). The predominance of economic development in the support for large-scale wind farms in the U.S. Great Plains. Renewable and Sustainable Energy Reviews, 16(6), 3690-3701. doi: 10.1016/j.rser.2012.03.016

16. M. Farghali et al. (2023). Social, environmental, and economic consequences of integrating renewable energies in the electricity sector: a review. Environ Chem Lett, 21(3), 1381-1418. doi: 10.1007/s10311-023-01587-1

17. M. J. Pasqualetti (2011). Opposing Wind Energy Landscapes: A Search for Common Cause. Annals of the Association of American Geographers, 101(4), 907- 917. doi: 10.1080/00045608.2011.568879

18. N. Healy and J. Barry (2017). Politicizing energy justice and energy system transitions: Fossil fuel divestment and a ‘just transition. Energy Policy, 108, 451- 459. doi: 10.1016/j.enpol.2017.06.014

19. Nissenbaum et al. (2012). Effects of industrial wind turbine noise on sleep. https://burenvanlageweide.nl/wp-content/uploads/2012/12/2012-11-Nissenbaum-Aramini-Hanning-Noise-and-Health.pdf

20. P. Devine-Wright and Y. Howes (2010). Disruption to place attachment and the protection of restorative environments: A wind energy case study. Journal of Environmental Psychology, 30(3), 271-280. doi: 10.1016/j.jenvp.2010.01.008

21. P. Devine-Wright, S. Batel, O. Aas, B. Sovacool, M. C. Labelle, and A. Ruud, (2017). A conceptual framework for understanding the social acceptance of energy infrastructure: Insights from energy storage. Energy Policy, 107, 27-31. doi: 10.1016/j.enpol.2017.04.020

22. P. Enevoldsen and B. K. Sovacool (2016). Examining the social acceptance of wind energy: Practical guidelines for onshore wind project development in France. Renewable and Sustainable Energy Reviews, 53, 178-184. doi: 10.1016/j.rser.2015.08.041

23. R. Wüstenhagen, M. Wolsink, and M. J. Bürer (2007). Social acceptance of renewable energy innovation: An introduction to the concept. Energy Policy, 35(5), 2683-2691. doi: 10.1016/j.enpol.2006.12.001

24. S. Gibbons (2015). Gone with the wind: Valuing the visual impacts of wind turbines through house prices. Journal of Environmental Economics and Management, 72, 177-196. doi: 10.1016/j.jeem.2015.04.006

25. S. Wang and S. Wang (2015). Impacts of wind energy on environment: A review. Renewable and Sustainable Energy Reviews, 49, 437-443. doi: 10.1016/j.rser.2015.04.137

26. T. Brudermann, K. Reinsberger, A. Orthofer, M. Kislinger, and A. Posch (2013). Photovoltaics in agriculture: A case study on decision making of farmers. Energy Policy, 61, 96-103. doi: 10.1016/j.enpol.2013.06.081

27. WCED (1987). Our Common Future Report of the World Commission on Environment and Development. Oxford University Press, Oxford. https://www.scirp.org/reference/referencespapers?referenceid=2827786

Ngày nhận bài: 25/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/4/2026; Ngày duyệt đăng: 8/4/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao của phân khúc ẩm thực cao cấp, chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường marketing số, hiểu biết số ngày càng trở thành năng lực quan trọng quyết định khả năng khai thác dữ liệu, nội dung và nền tảng công nghệ của nhân viên.
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài chỉ có thể biến thành quyết định khởi nghiệp thực tế khi chúng được chuyển hóa thành niềm tin vào năng lực cá nhân và tư duy khởi nghiệp.