Tác động của thiên kiến nhận thức lãnh đạo đến khẩu vị rủi ro và quản trị chiến lược tại doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 15:41 | 12/10/2026
Trong bối cảnh công nghệ, thị trường và kinh tế vĩ mô biến động nhanh, quản trị rủi ro chiến lược trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp đại chúng và niêm yết.

ThS. Lê Nữ Diễm Hương

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh biến động, chất lượng quản trị rủi ro chiến lược không chỉ chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu và quy trình quản trị mà còn từ cách ban lãnh đạo nhận thức, đánh giá và phản ứng trước rủi ro. Nghiên cứu này phân tích cơ chế liên kết giữa thiên kiến nhận thức của lãnh đạo, khẩu vị rủi ro và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thông qua tổng quan có chọn lọc, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu về hành vi lãnh đạo, Lý thuyết triển vọng, Lý thuyết hạn chế lý trí và Khung quản trị rủi ro danh nghiệp. Kết quả phân tích đề xuất khung mô hình, trong đó các thiên kiến tự tin quá mức, neo đậu, xác nhận và ác cảm mất mát có thể làm sai lệch quá trình xác lập, cập nhật và vận hành khẩu vị rủi ro, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý về phản biện độc lập, chuẩn hóa tuyên bố khẩu vị rủi ro, giám sát ngưỡng rủi ro và tăng cường tích hợp rủi ro vào hoạch định chiến lược.

Từ khóa: COSO ERM, khẩu vị rủi ro, quản trị rủi ro chiến lược, thiên kiến nhận thức

Abstract

In a volatile business environment, the quality of strategic risk management is shaped not only by governance structures and processes but also by how senior leaders perceive, assess, and respond to risk. This study examines the mechanisms linking managerial cognitive biases, risk appetite, and strategic risk management effectiveness. It adopts a qualitative approach based on a selective review, analysis, and synthesis of research on leadership behavior, prospect theory, bounded rationality, and enterprise risk management frameworks. The analysis proposes a conceptual model in which overconfidence, anchoring, confirmation bias, and loss aversion may distort the formulation, revision, and implementation of risk appetite, thereby affecting the effectiveness of strategic risk management. Building on this model, the study derives managerial implications for independent challenge, the standardization of risk appetite statements, the monitoring of risk thresholds, and the integration of risk considerations into strategic planning.

Keywords: COSO ERM, risk appetite, strategic risk management, cognitive biases

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh công nghệ, thị trường và kinh tế vĩ mô biến động nhanh, quản trị rủi ro chiến lược trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp đại chúng và niêm yết. Chất lượng quản trị rủi ro không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện chiến lược mà còn liên quan đến niềm tin của nhà đầu tư, trách nhiệm giải trình và năng lực tạo lập giá trị bền vững. Theo Khung quản trị rủi ro doanh nghiệp do Ủy ban thuộc Tổ chức Tài trợ Treadway công bố năm 2017 (COSO ERM) (COSO, 2017), quản trị rủi ro cần được tích hợp vào quá trình thiết lập chiến lược và thực thi mục tiêu, thay vì chỉ là một hoạt động tuân thủ độc lập.

Khẩu vị rủi ro là thành tố định hướng quan trọng, phản ánh loại và mức độ rủi ro doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận khi theo đuổi mục tiêu chiến lược. Khẩu vị rủi ro chỉ phát huy giá trị khi được xác lập rõ ràng, phù hợp với chiến lược, năng lực chịu đựng rủi ro, nguồn lực và hệ thống kiểm soát; đồng thời được truyền đạt, giám sát và vận hành nhất quán trong các quyết định quan trọng.

Tuy nhiên, việc xác lập khẩu vị rủi ro không hoàn toàn dựa trên kỹ thuật hoặc số liệu. Nhận thức của ban lãnh đạo có thể chi phối việc đánh giá kịch bản bất lợi, xác định giới hạn rủi ro và lựa chọn phương án chiến lược. Theo Lý thuyết tầng lớp quản lý cấp cao, chiến lược và kết quả tổ chức phản ánh đặc điểm, giá trị, kinh nghiệm và giới hạn nhận thức của nhà quản lý cấp cao (Hambrick và Mason, 1984). Trong điều kiện bất định, tự tin quá mức, neo đậu, thiên kiến xác nhận và ác cảm mất mát có thể làm sai lệch quá trình nhận diện, đánh giá và ứng phó rủi ro.

Các nghiên cứu trước thường xem xét riêng lẻ từng thiên kiến đối với hành vi đầu tư hoặc mức độ chấp nhận rủi ro. Do đó, còn thiếu khung phân tích tổng hợp giải thích cách từng thiên kiến ảnh hưởng đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro, cũng như cách khẩu vị rủi ro liên hệ với hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

Xuất phát từ khoảng trống này, nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và đề xuất khung phân tích gồm 6 mệnh đề nghiên cứu. Bốn mệnh đề đầu phân tích ảnh hưởng của tự tin quá mức, neo đậu, thiên kiến xác nhận và ác cảm mất mát đến khẩu vị rủi ro; mệnh đề thứ năm làm rõ mối liên hệ giữa khẩu vị rủi ro với hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược; mệnh đề thứ sáu xem khẩu vị rủi ro là cơ chế liên kết được đề xuất giữa nhận thức lãnh đạo và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết tầng lớp quản lý cấp cao (Upper Echelons Theory) cho rằng, chiến lược và kết quả của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm, kinh nghiệm, giá trị và nền tảng nhận thức của đội ngũ lãnh đạo (Hambrick và Mason, 1984). Do đó, các doanh nghiệp có điều kiện tương đồng có thể có định hướng rủi ro khác nhau. Lý thuyết này là cơ sở để xem thiên kiến nhận thức của lãnh đạo là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đánh giá rủi ro và xác lập khẩu vị rủi ro.

Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) cho rằng, cá nhân đánh giá kết quả theo điểm tham chiếu và thường nhạy cảm với tổn thất hơn lợi ích tương đương (Kahneman và Tversky, 1979). Vì vậy, lãnh đạo có thể né tránh rủi ro để hạn chế tổn thất hoặc chấp nhận rủi ro cao nhằm tránh ghi nhận mất mát. Trong khi đó, Lý thuyết hạn chế lý trí cho rằng nhà quản lý bị giới hạn bởi thông tin, thời gian và năng lực xử lý nên thường lựa chọn phương án “đủ tốt” thay vì tối ưu tuyệt đối (Simon, 1955; Jones, 1999). Hai lý thuyết này giúp giải thích sự xuất hiện của tự tin quá mức, neo đậu, thiên kiến xác nhận và ác cảm mất mát trong quyết định chiến lược.

Khung COSO ERM 2017 liên kết quản trị rủi ro với quản trị, chiến lược và hiệu quả hoạt động. Theo COSO, doanh nghiệp cần xác lập khẩu vị rủi ro gắn với chiến lược, mục tiêu, năng lực chịu đựng rủi ro và hệ thống kiểm soát; đồng thời nhận diện, đánh giá, ứng phó và giám sát rủi ro trong các giới hạn đã xác định (COSO, 2017). Khẩu vị rủi ro được hiểu là loại và mức độ rủi ro doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận để theo đuổi mục tiêu chiến lược và tạo lập giá trị. Khẩu vị rủi ro không chỉ là mức cao hay thấp, mà còn phản ánh mức độ rõ ràng, phù hợp với chiến lược, được cập nhật và vận hành nhất quán trong các quyết định quan trọng (COSO, 2017).

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 6 mệnh đề nghiên cứu. Bốn mệnh đề đầu phân tích tác động của tự tin quá mức, neo đậu, thiên kiến xác nhận và ác cảm mất mát đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro. Tự tin quá mức có thể làm lãnh đạo đánh giá cao năng lực kiểm soát; neo đậu làm chậm cập nhật giới hạn rủi ro; thiên kiến xác nhận làm suy giảm phản biện; còn ác cảm mất mát có thể dẫn đến khuynh hướng né tránh rủi ro quá mức. Mệnh đề thứ năm cho rằng khẩu vị rủi ro rõ ràng, phù hợp với chiến lược và năng lực kiểm soát góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Mệnh đề thứ sáu xem khẩu vị rủi ro là cơ chế liên kết được đề xuất giữa thiên kiến nhận thức lãnh đạo và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược (Bromiley và cộng sự, 2020; COSO, 2017).

Giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên Lý thuyết tầng lớp quản lý cấp cao, Lý thuyết triển vọng, Lý thuyết hạn chế lý trí và Khung COSO ERM, nghiên cứu đề xuất 6 giả thuyết về mối liên hệ giữa thiên kiến nhận thức của lãnh đạo, khẩu vị rủi ro và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Các thiên kiến nhận thức có thể làm sai lệch đánh giá rủi ro, làm giảm chất lượng xác lập hoặc cập nhật khẩu vị rủi ro; trong khi khẩu vị rủi ro được xác lập rõ ràng và gắn với chiến lược được kỳ vọng hỗ trợ hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:

H1: Tự tin quá mức của lãnh đạo có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro. Lãnh đạo quá tự tin có thể đánh giá cao năng lực dự báo và kiểm soát của doanh nghiệp, đồng thời đánh giá thấp xác suất hoặc tác động của các kịch bản bất lợi. Điều này có thể làm khẩu vị rủi ro thiếu phù hợp với năng lực chịu đựng rủi ro và hệ thống kiểm soát thực tế.

H2: Thiên kiến neo đậu của lãnh đạo có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro. Việc bám quá nhiều vào các chỉ tiêu, dự báo hoặc kinh nghiệm ban đầu có thể khiến doanh nghiệp chậm cập nhật khẩu vị rủi ro khi điều kiện kinh doanh, chiến lược hoặc mức độ bất định thay đổi.

H3: Thiên kiến xác nhận của lãnh đạo có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro. Thiên kiến xác nhận có thể làm lãnh đạo ưu tiên thông tin ủng hộ quan điểm sẵn có, đồng thời xem nhẹ ý kiến phản biện và các kịch bản bất lợi. Hệ quả là khẩu vị rủi ro có thể thiếu tính toàn diện và không phản ánh đầy đủ bức tranh rủi ro của doanh nghiệp.

H4: Ác cảm mất mát của lãnh đạo có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro. Do phản ứng mạnh hơn trước tổn thất so với lợi ích tương đương, lãnh đạo có thể ưu tiên an toàn, duy trì chiến lược hiện hữu hoặc từ chối cơ hội có rủi ro hợp lý. Khi đó, khẩu vị rủi ro có thể trở nên quá thận trọng so với mục tiêu tạo giá trị và năng lực chịu đựng rủi ro của doanh nghiệp.

H5: Khẩu vị rủi ro được xác lập và vận hành phù hợp có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Khẩu vị rủi ro rõ ràng, được liên kết với chiến lược, truyền đạt trong tổ chức và giám sát nhất quán giúp doanh nghiệp nhận diện, đánh giá, ứng phó và theo dõi các rủi ro chiến lược trong giới hạn chấp nhận được.

H6: Khẩu vị rủi ro là cơ chế liên kết giữa thiên kiến nhận thức của lãnh đạo và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Các thiên kiến nhận thức có thể không trực tiếp quyết định hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược mà ảnh hưởng trước hết đến cách doanh nghiệp xác lập, cập nhật và vận hành khẩu vị rủi ro. Vì vậy, khẩu vị rủi ro được đề xuất như cơ chế truyền dẫn liên kết nhận thức của lãnh đạo với chất lượng quản trị rủi ro chiến lược.

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các giả thuyết trọng tâm, mô hình nghiên cứu được đề xuất nhằm minh họa cấu trúc quan hệ giữa các biến như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Tác động của thiên kiến nhận thức lãnh đạo đến khẩu vị rủi ro và quản trị chiến lược tại doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở Hambrick và Mason (1984), Kahneman và Tversky (1979), Simon (1955), Jones (1999) và COSO (2017)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính theo hướng phân tích và tổng hợp tài liệu. Khung phân tích được xây dựng trên Lý thuyết tầng lớp quản lý cấp cao của Hambrick và Mason (1984), Lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979), Lý thuyết hạn chế lý trí của Simon (1955) và Jones (1999), cùng khung COSO ERM 2017 (COSO, 2017). Cách tiếp cận này nhằm làm rõ mối liên hệ giữa thiên kiến nhận thức lãnh đạo, quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro, và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ sách chuyên khảo, bài báo khoa học và tài liệu hướng dẫn chuyên môn về thiên kiến nhận thức, hành vi lãnh đạo, khẩu vị rủi ro và quản trị rủi ro doanh nghiệp. Tài liệu được lựa chọn theo tiêu chí phù hợp chủ đề, nguồn gốc rõ ràng và có giá trị học thuật hoặc chuẩn mực quản trị.

Quá trình phân tích gồm hệ thống hóa khái niệm, đối chiếu các lập luận lý thuyết và tổng hợp thành khung mô hình đề xuất. Nghiên cứu không khảo sát, không kiểm định giả thuyết và không suy rộng thống kê; các kết luận là luận điểm lý thuyết cần được kiểm chứng trong nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các lý thuyết về hành vi lãnh đạo, ra quyết định trong điều kiện bất định và quản trị rủi ro doanh nghiệp, nghiên cứu đề xuất khung mô hình gồm 3 thành tố: thiên kiến nhận thức của lãnh đạo, khẩu vị rủi ro và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

Kết quả phân tích lý thuyết cho thấy, các thiên kiến nhận thức không nhất thiết làm tăng hoặc giảm mức độ chấp nhận rủi ro theo cùng một chiều, nhưng đều có thể làm sai lệch quá trình nhận diện, đánh giá, cập nhật và vận hành khẩu vị rủi ro. Tự tin quá mức có thể khiến lãnh đạo đánh giá cao năng lực dự báo và kiểm soát, từ đó đánh giá thấp các kịch bản bất lợi. Neo đậu có thể làm doanh nghiệp duy trì các giả định hoặc giới hạn rủi ro cũ khi môi trường kinh doanh đã thay đổi. Thiên kiến xác nhận làm giảm sự tiếp nhận thông tin trái chiều và hạn chế phản biện; trong khi ác cảm mất mát có thể dẫn đến né tránh rủi ro quá mức hoặc từ chối cơ hội có mức rủi ro hợp lý. Các lập luận này phù hợp với Lý thuyết tầng lớp quản lý cấp cao, Lý thuyết triển vọng và Lý thuyết hạn chế lý trí (Hambrick và Mason, 1984; Kahneman và Tversky, 1979; Simon, 1955).

Khẩu vị rủi ro được xác định là cơ chế liên kết quan trọng giữa nhận thức lãnh đạo và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Khẩu vị rủi ro không chỉ là mức độ chấp nhận rủi ro cao hay thấp, mà cần rõ ràng, gắn với chiến lược và mục tiêu, phù hợp với năng lực chịu đựng rủi ro, nguồn lực và hệ thống kiểm soát. Khi khẩu vị rủi ro được xác lập, truyền đạt và vận hành nhất quán, doanh nghiệp có cơ sở để lựa chọn giới hạn ra quyết định, phân bổ nguồn lực, ứng phó và giám sát rủi ro trọng yếu. Ngược lại, khẩu vị rủi ro thiếu phản biện, không được cập nhật hoặc tách rời chiến lược có thể làm giảm hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược (Bromiley và cộng sự, 2015; COSO, 2017).

Từ kết quả trên, nghiên cứu đề xuất 6 giả thuyết nghiên cứu. H1-H4 xem xét ảnh hưởng của 4 thiên kiến nhận thức đến quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro; H5 đề xuất mối liên hệ tích cực giữa khẩu vị rủi ro phù hợp và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược; H6 xem khẩu vị rủi ro là cơ chế liên kết giữa nhận thức lãnh đạo và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

Thảo luận

Kết quả phân tích lý thuyết cho thấy quản trị rủi ro chiến lược không chỉ phụ thuộc vào quy trình và cơ cấu kiểm soát mà còn chịu ảnh hưởng từ nhận thức của ban lãnh đạo. Theo Lý thuyết tầng lớp quản lý cấp cao, nhận thức, kinh nghiệm và giá trị của lãnh đạo có thể định hình cách doanh nghiệp diễn giải thông tin, đánh giá bất định và lựa chọn giới hạn rủi ro (Hambrick và Mason, 1984).

Bốn thiên kiến trong mô hình có cơ chế ảnh hưởng khác nhau. Tự tin quá mức có thể làm lãnh đạo đánh giá cao năng lực kiểm soát; neo đậu làm doanh nghiệp chậm cập nhật các giả định rủi ro; thiên kiến xác nhận làm suy giảm phản biện; còn ác cảm mất mát có thể dẫn đến thận trọng quá mức. Các thiên kiến không nhất thiết tác động cùng chiều đến mức chấp nhận rủi ro, nhưng đều có thể làm giảm tính phù hợp và khả năng cập nhật của khẩu vị rủi ro (Kahneman và Tversky, 1979; Simon, 1955).

Khẩu vị rủi ro cần được xác lập rõ ràng, gắn với chiến lược, mục tiêu, năng lực chịu đựng rủi ro và hệ thống kiểm soát. Khi được truyền đạt, vận hành và giám sát nhất quán, khẩu vị rủi ro hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện rủi ro trọng yếu, phân bổ nguồn lực và lựa chọn phương án ứng phó phù hợp. Ngược lại, khẩu vị rủi ro mang tính hình thức hoặc thiếu cập nhật có thể làm suy giảm hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược (COSO, 2017; Bromiley và cộng sự, 2015).

Mô hình đề xuất là khung lý thuyết; 6 giả thuyết H1-H6 cần được kiểm định bằng dữ liệu thực nghiệm trong các nghiên cứu tiếp theo.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Kết luận

Nghiên cứu đề xuất khung mô hình liên kết thiên kiến nhận thức lãnh đạo, khẩu vị rủi ro và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược. Tự tin quá mức, neo đậu, thiên kiến xác nhận và ác cảm mất mát có thể làm sai lệch quá trình xác lập và vận hành khẩu vị rủi ro. Khẩu vị rủi ro vì vậy là cơ chế liên kết giữa nhận thức lãnh đạo và chất lượng quản trị rủi ro chiến lược. Doanh nghiệp cần tăng cường phản biện độc lập, rà soát khẩu vị rủi ro theo chiến lược và năng lực kiểm soát, đồng thời bảo đảm khẩu vị này được truyền đạt và giám sát trong các quyết định quan trọng. Mô hình cần được kiểm định thực nghiệm trong các nghiên cứu tiếp theo.

Khuyến nghị giải pháp

Thứ nhất, hội đồng quản trị và ban điều hành cần thiết lập cơ chế phản biện độc lập đối với các quyết định chiến lược có mức độ rủi ro cao. Báo cáo rủi ro cần trình bày cả kịch bản thuận lợi, bất lợi và các giả định đối nghịch để hạn chế tự tin quá mức, neo đậu và thiên kiến xác nhận.

Thứ hai, doanh nghiệp cần chuẩn hóa tuyên bố khẩu vị rủi ro, bảo đảm liên kết với mục tiêu chiến lược, năng lực chịu đựng rủi ro, nguồn lực và hệ thống kiểm soát. Khẩu vị rủi ro cần được rà soát, cập nhật khi môi trường kinh doanh hoặc định hướng chiến lược thay đổi.

Thứ ba, cần tăng cường vai trò của bộ phận quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ trong việc giám sát các ngưỡng rủi ro, cung cấp thông tin phản biện và cảnh báo sớm cho lãnh đạo. Việc tách tương đối vai trò đề xuất kinh doanh và vai trò phản biện rủi ro giúp nâng cao tính khách quan trong ra quyết định.

Thứ tư, doanh nghiệp nên đưa nội dung nhận diện thiên kiến nhận thức vào đào tạo lãnh đạo và quản trị rủi ro. Các kỹ thuật như đánh giá nhiều kịch bản, phản biện đối nghịch và rà soát quyết định sau thực hiện có thể giúp giảm ảnh hưởng của thiên kiến đến khẩu vị rủi ro và hiệu quả quản trị rủi ro chiến lược.

Tài liệu tham khảo:

1. Bromiley, P., McShane, M., Nair, A., & Rustambekov, E. (2015). Enterprise risk management: Review, critique, and research directions. Long Range Planning, 48(4), 265-276.

2. Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission (2017). Enterprise risk management: Integrating with strategy and performance. https://www.coso.org/files/ugd/3059fc_61ea5985b03c4293960642fdce408eaa.pdf

3. Hambrick, D. C., & Mason, P. A. (1984). Upper echelons: The organization as a reflection of its top managers. Academy of Management Review, 9(2), 193-206.

4. Jones, B. D. (1999). Bounded rationality. Annual Review of Political Science, 2(1), 297-321.

5. Kahneman, D., & Tversky, A. (1979). Prospect theory: An analysis of decision under risk. Econometrica, 47(2), 263-291. https://web.mit.edu/curhan/www/docs/Articles/15341_Readings/Behavioral_Decision_Theory/Kahneman_Tversky_1979_Prospect_theory.pdf

6. Kahneman, D., & Tversky, A. (2013). Prospect theory: An analysis of decision under risk. In Handbook of the fundamentals of financial decision making: Part I (pp. 99-127).

7. Simon, H. A. (1955). A behavioral model of rational choice. The Quarterly Journal of Economics, 69(1), 99-118.

Ngày nhận bài: 26/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.