Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Đường Tuấn Huy
Nhà máy Z153 – Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật
Email: [email protected]
Tóm tắt
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn vốn huy động cho doanh nghiệp, góp phần giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và thúc đẩy phát triển thị trường vốn. Bài viết phân tích thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021–2025 thông qua việc đánh giá quy mô phát hành, cơ cấu thị trường và những biến động nổi bật trong quá trình phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường đã có bước phát triển đáng kể nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế như tính minh bạch thông tin chưa cao, chất lượng tổ chức phát hành chưa đồng đều, thanh khoản thị trường còn hạn chế và niềm tin của nhà đầu tư chưa thực sự ổn định. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch, phát triển nhà đầu tư tổ chức và tăng cường hiệu quả giám sát thị trường, qua đó thúc đẩy sự phát triển ổn định, minh bạch và bền vững của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Trái phiếu doanh nghiệp, hoàn thiện thị trường vốn, hiệu quả phân bổ
Abstract
The corporate bond market plays a crucial role in diversifying funding sources for enterprises, thereby reducing dependence on bank credit and promoting the development of the capital market. This paper analyzes the current state of Vietnam's corporate bond market during the 2021–2025 period by examining issuance scale, market structure, and major developments throughout its growth process. The findings indicate that the market has achieved significant progress; however, several limitations remain, including insufficient information transparency, uneven quality among issuers, limited market liquidity, and unstable investor confidence. Based on these findings, the paper proposes several solutions to improve the legal framework, enhance transparency, develop institutional investors, and strengthen market supervision efficiency. These measures are expected to promote the stable, transparent, and sustainable development of Vietnam's corporate bond market in the coming years.
Keywords: Corporate bonds, capital market development, allocation efficiency
ĐẶT VẤN ĐỀ
So với kênh tín dụng ngân hàng vốn thường chịu áp lực về rủi ro kỳ hạn và thanh khoản, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tạo ra một không gian huy động vốn linh hoạt, giúp doanh nghiệp chủ động trong các kế hoạch đầu tư chiến lược, đồng thời giảm bớt sự lệ thuộc quá mức vào hệ thống ngân hàng. Bắt đầu hình thành từ năm 2000, song phải từ năm 2011 với sự phát triển của nền kinh tế và hoàn thiện về khung khổ pháp lý, thị trường TPDN Việt Nam mới bắt đầu phát triển. Đặc biệt từ năm 2017 đến nay thị trường phát triển nhanh trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng bên cạnh kênh huy động vốn tín dụng ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy mô thị trường TPDN vẫn còn nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng; thị trường còn nhiều bất cập cần được nghiên cứu, nhận diện để từ đó đề xuất giải pháp để thị trường TPDN có thể bền vững, minh bạch và là nguồn vốn quan trọng giúp doanh nghiệp phát triển.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
Về quy mô thị trường
Giai đoạn 2021–2025 (Bảng), quy mô phát hành TPDN nhìn chung có xu hướng tăng, ngoại trừ năm 2022 do tác động của việc siết chặt quản lý thị trường (VBMA). Năm 2021, giá trị phát hành đạt 658.009 tỷ đồng, tăng 63% so với năm 2020. Sang năm 2022, thị trường giảm mạnh xuống còn 255.163 tỷ đồng, giảm 61,2% so với năm trước.
Từ năm 2023, thị trường bắt đầu phục hồi nhờ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, với giá trị phát hành đạt 321.000 tỷ đồng. Năm 2024, tổng giá trị phát hành đạt khoảng 443.458 tỷ đồng, gồm cả phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng. Đến năm 2025, thị trường tiếp tục tăng trưởng với tổng giá trị phát hành đạt 629.910 tỷ đồng, tăng 33,5% so với năm 2024, cho thấy xu hướng phục hồi rõ nét của thị trường TPDN.
Bảng: Quy mô phát hành TPDN tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025
Đơn vị: Tỷ đồng
|
Năm |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|
Quy mô phát hành đại chúng |
30.136 |
10.589 |
34.000 |
32.914 |
55.354 |
|
Quy mô phát hành riêng lẻ |
627.873 |
244.574 |
287.000 |
410.544 |
574.556 |
|
Tổng quy mô phát hành |
658.009 |
255.163 |
321.000 |
443.458 |
629.910 |
|
Tỷ lệ phát hành đại chúng (%) |
4,58 |
4,15 |
10,6 |
7,4 |
8,6 |
|
Tỷ lệ phát hành riêng lẻ (%) |
95,42 |
95,85 |
89,4 |
92,6 |
91,4 |
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của VBMA
Đối với mảng phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế (trái phiếu ngoại tệ), giai đoạn 2021-2025 đã chứng kiến sự trưởng thành của các doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam, khi đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về minh bạch thông tin của quốc tế. Đặc biệt, năm 2021, khi mặt bằng lãi suất USD toàn cầu duy trì ở mức thấp kỷ lục, các tập đoàn tư nhân lớn của Việt Nam đã nhanh chóng tận dụng cơ hội để gọi vốn quốc tế. Đơn cử, Vingroup phát hành thành công 500 triệu USD trái phiếu quốc tế, quyền chọn nhận cổ phiếu Vinhomes (VHM), niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore (SGX) vào tháng 4/2021 (Minh Anh, 2021). BIM Land (thành viên BIM Group) là doanh nghiệp chưa đại chúng đầu tiên tại Việt Nam phát hành thành công 200 triệu USD trái phiếu quốc tế niêm yết trên SGX vào tháng 5/2021(Nguyễn Huyền, 2021). Đây là lô trái phiếu xanh (Green bond) đầu tiên của một doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, lãi suất 7,375%/năm, kỳ hạn 5 năm, đáo hạn năm 2026.
Giai đoạn 2022-2023 ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng của hoạt động phát hành TPDN ra quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam. Giai đoạn này chỉ có Tập đoàn Vingroup (VIC) đã phát hành trái phiếu doanh nghiệp thành công với 2 đợt phát hành đạt tổng giá trị 625 triệu USD trên cơ sở quy định của Đạo luật Chứng khoán 1933 của Hoa Kỳ vào năm 2022 và 1 đợt năm 2023 với giá trị 250 USD tại thị trường Singapore vào ngày 25/10/2023 (Nguyên Minh, 2025). Theo quan sát và tổng hợp của tác giả, nguyên nhân chủ yếu là do: Trên thị trường tài chính quốc tế, FED liên tục tăng mạnh lãi suất USD khiến chi phí huy động vốn ngoại trở nên quá đắt đỏ, cộng thêm rủi ro tỷ giá lớn khi đồng VND mất giá; Tại thị trường nội địa, các vụ xử lý sai phạm lớn cuối năm 2022 (Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh) khiến nhà đầu tư quốc tế e ngại rủi ro; trong khi phần lớn tổ chức phát hành trong nước chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về minh bạch tài chính và xếp hạng tín nhiệm quốc tế.
Giai đoạn 2024-2025 cũng được coi là chu kỳ phục hồi của phát hành trái phiếu ngoại tệ. Đặc biệt, thị trường có chuyển biến rõ rệt vào năm 2025, với 5 đợt phát hành trái phiếu quốc tế, có tổng giá trị đạt 875 triệu USD. Con số này thực sự cho thấy sự bùng nổ so với năm 2024 (vốn chỉ đạt mức khiêm tốn khoảng 180 triệu USD), tương ứng với mức tăng khoảng 4,8 lần (VBMA, 2026). Trong đó, trái phiếu do các ngân hàng phát hành chiếm chủ yếu (Vietcombank phát hành 300 triệu USD trái phiếu xanh tại thị trường Singapore, nhằm tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường; BIDV phát hành 150 triệu USD trái phiếu bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế; Techcombank phát hành 75 triệu USD trái phiếu tập trung vào các nhà đầu tư tổ chức chuyên biệt).
Cơ cấu doanh nghiệp phát hành trái phiếu
Trong giai đoạn 2021-2025, theo số liệu của VBMA, tổ chức tín dụng (TCTD) và doanh nghiệp bất động sản là các nhà phát hành lớn nhất trên thị trường TPDN tính theo cả 2 phương thức phát hành riêng lẻ và phát hành đại chúng. Cụ thể, năm 2021 là thời gian các doanh nghiệp bất động sản và xây dựng phát hành ồ ạt, chiếm tỷ trọng gần tương đương với nhóm ngân hàng.
Giai đoạn 2022-2023, thị trường “đóng băng” cục bộ sau các sai phạm lớn trong phát hành TPDN của nhiều doanh nghiệp bất động sản, cơ cấu dịch chuyển mạnh sang nhóm ngân hàng, trong khi nhóm phi tài chính gặp khó khăn trong việc tiếp cận nhà đầu tư.
Giai đoạn 2024-2025 chứng kiến xu hướng phục hồi rõ rệt. Năm 2024, nhóm ngân hàng tiếp tục duy trì sự áp đảo trong tỷ trọng phát hành riêng lẻ với 67% tổng giá trị phát hành đạt 300.000 tỷ đồng; nhóm bất động sản giảm 17,8%, chỉ đạt 62.310 tỷ đồng, chiếm 20% tổng giá trị phát hành. Năm 2025, nhóm ngân hàng và các doanh nghiệp bất động sản tiếp tục là những nhà phát hành lớn nhất trên thị trường TPDN, chiếm lần lượt 65,4% và 23,4% tổng giá trị phát hành. Nếu chỉ tính TPDN riêng lẻ, nhóm ngân hàng chiếm 64,1% và doanh nghiệp bất động sản chiếm 25,6% tổng giá trị phát hành năm 2025. Đối với trái phiếu đại chúng, giá trị phát hành tập trung 79,3% ở nhóm ngân hàng và 15% ở các công ty chứng khoán. Điều đáng lưu ý là trong giai đoạn này, chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ các doanh nghiệp lần đầu công bố xếp hạng tín nhiệm đã giúp các nhà đầu tư (đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức) có cơ sở đánh giá rủi ro chính xác hơn.
Mức độ phát triển của thị trường thứ cấp
Giai đoạn 2021-2025 cho thấy thị trường thứ cấp TPDN tại Việt Nam từng bước phát triển theo hướng minh bạch và chuyên nghiệp hơn. Đến cuối năm 2025, tổng giá trị phát hành TPDN tăng 24,7% so với năm trước, trong đó phát hành riêng lẻ tăng 22,7%. So với đỉnh năm 2021, quy mô phát hành 2025 còn thấp hơn 20%. Ngân hàng vẫn đứng đầu về giá trị phát hành khi chiếm tỷ trọng 2/3, tiếp đến là các doanh nghiệp bất động sản với giá trị phát hành 137 ngàn tỷ đồng, tương đương 23%. Bên cạnh quy mô phát hành, thị trường giao dịch được thể hiện qua mức độ sôi động của giao dịch thứ cấp, chỉ tính giao dịch TPDN riêng lẻ đạt xấp xỉ 1,4 triệu tỷ đồng, trung bình hơn 5, 6 ngàn tỷ mỗi phiên, tăng trưởng 28,8% so với năm 2024 (Cầm Thanh, 2026).
Một số hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển thị trường TPDN tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế như sau:
(i) Quy mô thị trường vẫn còn quá nhỏ so với kênh tín dụng ngân hàng. Tỷ trọng thị trường trái phiếu của Việt Nam so với GDP vẫn ở mức tương đối thấp, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn. Tỷ lệ dư nợ TPDN trên GDP cũng có xu hướng giảm dần từ 17,1% năm 2020 xuống 15% năm 2021; 12,2%, 11,9% và 11,2% lần lượt trong các năm, từ 2022 đến 2024. Năm 2025, tỷ lệ dư nợ TPDN/GDP đạt 11,4% (FiinRatings, 2026). Con số này thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 20% GDP mà Chính phủ đặt ra cho giai đoạn cuối năm 2025. Cấu trúc thị trường phân mảnh và thiếu đa dạng. Đây là rào cản lớn nhất khiến thị trường chưa thể trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả. Cụ thể, với việc nhóm TCTD đang chiếm chủ yếu tới trên 64% tổng giá trị phát hành trái phiếu cho thấy thị trường vẫn tập trung nhiều trong khu vực trung gian tài chính cho thấy, nguồn vốn chưa lan tỏa rộng sang các ngành sản xuất, kinh doanh (Lục Giang, 2026). Bên cạnh đó, tình trạng phát hành riêng lẻ áp đảo (chiếm 91,4% tổng giá trị phát hành, trong khi phát hành đại chúng chỉ chiếm 8,6% năm 2025) mang tới các rủi ro về tính minh bạch đối với nhà đầu tư cá nhân. Tại thị trường thứ cấp, phần lớn các giao dịch vẫn do các ngân hàng và công ty chứng khoán thực hiện, trong khi các quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm – những chủ thể tạo sự ổn định dài hạn lại chưa tham gia nhiều khiến thị trường dễ bị tổn thương khi dòng tiền ngắn hạn của cá nhân rút lui.
(ii) Tính minh bạch và thanh khoản chưa cao. Dù đã có sàn HNX, nhưng thông tin chi tiết về dòng tiền, dự án cụ thể của tổ chức phát hành vẫn chưa được cập nhật “real-time” khiến nhà đầu tư bị mù mờ về thông tin. Hơn nữa, thị trường TPDN cũng đang thiếu một “hệ quy chiếu chuẩn” (đường cong lãi suất chuẩn, hệ thống xếp hạng tín nhiệm phổ quát…) khiến định giá sai lệch, dẫn đến tình trạng chiết khấu sâu mà vẫn khó tìm người mua, làm giảm tính thanh khoản của TPDN. Khi không có chuẩn đối sánh, nhà đầu tư khó có thể xác định liệu mức lãi suất của trái phiếu có tương xứng với rủi ro hay không. Việc thiếu hệ thống xếp hạng tín nhiệm cũng là lý do khiến các quỹ đầu tư ngoại hoặc quỹ hưu trí (vốn có nguyên tắc chỉ mua trái phiếu đạt chuẩn đầu tư - Investment Grade) không thể giải ngân vào thị trường Việt Nam. Đặc biệt, cơ chế bảo vệ trái chủ còn chưa hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Khi xảy ra tranh chấp, các tổ chức trung gian chưa thực hiện hết trách nhiệm giám sát mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp; Nhiều trái phiếu được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính doanh nghiệp hoặc các dự án chưa hình thành pháp lý, dẫn đến khi xảy ra sự cố, trái chủ không có khả năng thu hồi vốn; quy trình để các tổ chức trung gian đứng ra khởi kiện hay đại diện quyền lợi cho hàng nghìn trái chủ còn chồng chéo về pháp lý.
(iii) Sản phẩm TPDN còn khá đơn giản, chưa đa dạng hóa và chưa đủ hấp dẫn với nhà đầu tư. Trên thị trường, phần lớn là trái phiếu không chuyển đổi, có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán; sản phẩm trái phiếu xanh (Green Bonds) phục vụ dự án năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn còn ít… Bên cạnh đó, sản phẩm trái phiếu hiện có trên thị trường đang bị “lệch” về kỳ hạn ngắn và trung hạn, với khoảng 57% trái phiếu lưu hành có kỳ hạn chỉ từ 1-3 năm; thiếu trái phiếu dài hạn (trên 10 năm) (FiinRatings, 2026).
(iv) Hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động của thị trường TPDN vẫn chưa hoàn thiện. Theo FiinRatings (2026), hạ tầng thông tin hiện nay vẫn thiếu sự kết nối xuyên suốt, khiến việc tra cứu thông tin trở nên khó khăn. Nhiều công đoạn trong việc báo cáo, giám sát và thực thi quyền lợi trái chủ vẫn phụ thuộc vào thao tác con người.
GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
Để khắc phục các hạn chế, nhằm phát triển thị trường TPDN trở thành một kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, giảm bớt sự lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp từ hạ tầng kỹ thuật đến chính sách. Trong đó, cần lưu ý các giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, phát triển thị trường thứ cấp và nâng cao tính thanh khoản của thị trường TPDN. Cần khuyến khích các giao dịch TPDN được thực hiện thông qua hệ thống giao dịch tập trung tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) nhằm tăng cường tính minh bạch về giá cả và khối lượng giao dịch, đồng thời tạo điều kiện để nhà đầu tư dễ dàng thực hiện hoạt động mua bán trên thị trường thứ cấp. Bên cạnh đó, cần từng bước rút ngắn thời gian thanh toán từ cơ chế T 2 hoặc dài hơn xuống T 1, tiến tới áp dụng cơ chế T 0 (thanh toán trong ngày). Việc đẩy nhanh quá trình thanh toán sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng tính linh hoạt cho nhà đầu tư và khuyến khích hoạt động giao dịch diễn ra sôi động hơn, qua đó cải thiện tính thanh khoản của thị trường.
Thứ hai, đa dạng hóa cơ cấu nhà đầu tư và giảm sự phụ thuộc vào khối ngân hàng. Trước hết, cần phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường thông qua việc cho phép các công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại tham gia với vai trò nhà tạo lập thị trường, thực hiện cam kết chào giá mua và bán nhằm duy trì tính thanh khoản cho thị trường ngay cả trong điều kiện biến động mạnh. Bên cạnh đó, cần định hướng đa dạng hóa cơ cấu nhà đầu tư theo hướng hạn chế tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân không chuyên tham gia vào các trái phiếu có mức độ rủi ro cao, đồng thời khuyến khích nhà đầu tư tham gia thị trường thông qua các quỹ đầu tư trái phiếu chuyên nghiệp. Việc giảm sự lệ thuộc vào hệ thống ngân hàng cũng cần được thúc đẩy thông qua mở rộng sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức phi ngân hàng như quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện và các công ty quản lý quỹ. Các tổ chức này nên được khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào các trái phiếu doanh nghiệp có xếp hạng tín nhiệm cao nhằm hình thành nguồn cầu trung và dài hạn ổn định cho thị trường. Ngoài ra, việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế như International Financial Reporting Standards Foundation (IFRS) cùng với đẩy mạnh cải cách thủ tục thuế và đơn giản hóa quy trình tiếp cận thị trường sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng hội nhập của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam. Đây cũng là cơ sở quan trọng để thu hút dòng vốn từ các quỹ đầu tư quốc tế, đặc biệt là các quỹ chuyên đầu tư vào các thị trường mới nổi.
Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm trái phiếu và cơ cấu kỳ hạn phát hành. Trước hết, cần thúc đẩy đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp thông qua việc khuyến khích phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu hạ tầng và các loại trái phiếu có cấu trúc như chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (asset-backed securities). Việc phát triển các sản phẩm này không chỉ góp phần mở rộng kênh huy động vốn cho doanh nghiệp mà còn hỗ trợ thu hút dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, năng lượng tái tạo và phát triển cơ sở hạ tầng.
Bên cạnh đó, cần chú trọng kéo dài kỳ hạn phát hành trái phiếu thông qua việc xây dựng các cơ chế ưu đãi về thuế và phí phát hành đối với các trái phiếu có kỳ hạn dài, đặc biệt từ 10 năm trở lên. Chính sách này sẽ tạo điều kiện huy động nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, đồng thời góp phần hỗ trợ quá trình tái cơ cấu nợ theo hướng an toàn và bền vững hơn.
Thứ tư, đầu tư sử dụng công nghệ, minh bạch hóa thông tin như:
- Số hóa hạ tầng thông tin: Đầu tư hệ thống công nghệ thông tin tập trung kết nối dữ liệu từ tổ chức phát hành, công ty chứng khoán và trung tâm lưu ký để nhà đầu tư tra cứu thông tin theo thời gian thực (real-time). Sử dụng AI và Big Data để kết nối dữ liệu thị trường, giảm thiểu các quy trình thủ công và nâng cao hiệu quả giám sát dòng tiền của doanh nghiệp phát hành. Đưa các nền tảng giao dịch thứ cấp lên môi trường kỹ thuật số hoàn toàn, giúp việc mua/bán trái phiếu trở nên dễ dàng.
- Phát triển văn hóa Xếp hạng tín nhiệm: Việc xếp hạng tín nhiệm phải trở thành một chuẩn mực bắt buộc và trở thành điểm số của TPDN giúp việc ra quyết định đầu tư sẽ nhanh chóng và minh bạch hơn.
- Yêu cầu doanh nghiệp cập nhật tình hình tài chính, tiến độ dự án định kỳ trên các trang tin của HNX một cách trung thực và kịp thời. Tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý mạnh tay các hành vi thao túng, gian lận thông tin để làm sạch thị trường./.
Tài liệu tham khảo:
1. Cầm Thanh (2026). Thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2025 qua 6 biểu đồ. https://fili.vn/2026/01/thi-truong-trai-phieu-doanh-nghiep-2025-qua-6-bieu-do-3118-1387452.htm.
2. FiinRatings (2026). Tài liệu thuyết trình Diễn đàn Thị trường TPDN Việt Nam năm 2026. https://fiinratings.vn/Data/pdf/FR/Event/Tai-lieu-Thuyet-trinh-Dien-dan.pdf.
3. Minh Anh (2011). Vingroup niêm yết 500 triệu USD trái phiếu có quyền chọn nhận cổ phiếu VHM tại Singapore. https://m.nhipcaudautu.vn/kinh-doanh/vingroup-niem-yet-500-trieu-usd-trai-phieu-co-quyen-chon-nhan-co-phieu-vhm-tai-singapore-3340254/.
4. Lục Giang (2026). Đa dạng sản phẩm để phát triển thị trường TPDN. https://laodong.vn/kinh-doanh/da-dang-san-pham-de-phat-trien-thi-truong-trai-phieu-doanh-nghiep-1672260.ldo.
5. Nguyễn Huyền (2021). BIM Land phát hành thành công 200 triệu USD trái phiếu quốc tế niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Singapore. https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/bim-land-phat-hanh-thanh-cong-200-trieu-usd-trai-phieu-quoc-te-niem-yet-tren-so-giao-dich-chung-khoan-singapore-post268530.html.
6. Nguyên Minh (2025). Vingroup tính huy động thêm 325 triệu USD bằng trái phiếu quốc tế. https://baodautu.vn/vingroup-tinh-huy-dong-them-325-trieu-usd-bang-trai-phieu-quoc-te-d415961.html.
7. VBMA (Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam, 2022-2026). Báo cáo phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam các năm, từ năm 2021 đến năm 2025.
| Ngày nhận bài: 22/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 06/5/2026; Ngày duyệt đăng: 19/5/2026 |
Các tin khác
Phát triển tài chính xanh tại Việt Nam giai đoạn 2025-2030: Thách thức và triển vọng
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính của khách hàng cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh
Giải pháp tăng cường đa dạng hóa thu nhập tại các ngân hàng thương mại niêm yết ở Việt Nam
Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường tài chính Việt Nam theo hướng hiện đại, đồng bộ trong bối cảnh mới
Tác động của chuyển đổi số đến đổi mới mô hình kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô tại khu vực TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của vốn tri thức
Năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò trung gian của năng lực đổi mới và năng lực thích ứng
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đổi mới sáng tạo số của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần khu vực TP. Hồ Chí Minh
Tác động của các yếu tố vĩ mô, đặc thù doanh nghiệp và năng lực nguồn nhân lực đến cấu trúc vốn của công ty chứng khoán niêm yết tại Việt Nam