Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường tài chính Việt Nam theo hướng hiện đại, đồng bộ trong bối cảnh mới

Tài chính - Ngân hàng 07:46 | 18/09/2026 Hoàng Đình Minh
Trong 40 năm đổi mới, thị trường tài chính Việt Nam từng bước phát triển, góp phần huy động vốn, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. Trên cơ sở kết quả phân tích, bài viết đề xuất các định hướng, giải pháp phát triển thị trường tài chính hiện đại, an toàn và hội nhập quốc tế.

TS. Hoàng Đình Minh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Email: [email protected]

ThS. Nguyễn Thị Thu Trang

Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng

ThS. Nguyễn Bá Hoàng Anh

Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam

ThS. Nguyễn Thị Hương

Công ty cổ phần Bán lẻ Việt Moto

Tóm tắt

Trong 40 năm đổi mới, thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam từng bước hình thành, phát triển và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong huy động, phân bổ nguồn vốn, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, hội nhập tài chính sâu rộng, chuyển đổi số và mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế TTTC theo hướng đồng bộ, hiện đại, minh bạch, an toàn và hiệu quả. Bài viết khái quát cơ sở và quá trình hoàn thiện thể chế, phân tích thực trạng các cấu phần chủ yếu của TTTC Việt Nam, gồm thị trường vốn, thị trường tiền tệ – tín dụng và thị trường bảo hiểm, đồng thời xem xét tiến trình phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Trên cơ sở nhận diện những kết quả, hạn chế và yêu cầu mới, bài viết đề xuất các định hướng, nguyên tắc và nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển TTTC Việt Nam hiện đại, có khả năng chống chịu và hội nhập quốc tế, qua đó nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

Từ khóa: Thị trường tài chính, thể chế thị trường tài chính, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập tài chính quốc tế

Abstract

Over the past 40 years of reform, Viet Nam's financial market has gradually developed and assumed an increasingly important role in capital mobilization, resource allocation, macroeconomic stability, and economic growth. However, the demands of growth model transformation, deeper financial integration, digital transformation, and the goal of becoming a developed, high-income country by 2045 necessitate the continued improvement of the financial market institutional framework towards greater coherence, modernization, transparency, safety, and efficiency. This paper reviews the foundations and process of institutional development, analyzes the current state of Viet Nam's major financial market segments, including the capital market, money and credit market, and insurance market, and examines the development of an international financial centre in Viet Nam. Based on an assessment of achievements, limitations, and emerging requirements, the paper proposes key orientations, principles, and solutions to develop a modern, resilient, and internationally integrated financial market, thereby enhancing the efficiency of capital mobilization and resource allocation for socio-economic development.

Keywords: Financial market, financial market institutions, socialist-oriented market economy, international financial integration

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thị trường tài chính (TTTC) là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, thực hiện chức năng huy động, phân bổ và điều tiết các nguồn lực tài chính, đồng thời góp phần hình thành giá tài sản và truyền dẫn rủi ro giữa các chủ thể. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và hướng tới mục tiêu phát triển đến năm 2045, yêu cầu xây dựng TTTC hiện đại, đồng bộ, minh bạch và an toàn ngày càng trở nên cấp thiết. Các định hướng tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 và Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 đã đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình hoàn thiện thể chế và phát triển TTTC Việt Nam.

Trước hết, cần tiếp tục cơ cấu lại và đa dạng hóa các kênh huy động vốn, nâng cao vai trò của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các định chế tài chính trong cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Đồng thời, Việt Nam cần tăng cường hội nhập tài chính quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước phát triển trung tâm tài chính quốc tế. Bên cạnh đó, việc hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định của TTTC. Những yêu cầu này đòi hỏi khuôn khổ thể chế không chỉ dừng ở việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn phải gắn với hiệu quả thực thi, chất lượng cơ sở hạ tầng, năng lực của các tổ chức trung gian, cơ chế giám sát liên thông và ứng dụng công nghệ số.

Từ yêu cầu thực tiễn đó, việc nghiên cứu thể chế phát triển TTTC Việt Nam theo hướng hiện đại, đồng bộ trong bối cảnh mới có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu tập trung khái quát cơ sở và quá trình hoàn thiện thể chế TTTC; phân tích những nội dung chủ yếu liên quan đến thị trường vốn, thị trường tiền tệ – tín dụng, thị trường bảo hiểm và các mô hình tài chính mới; đồng thời nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình vận hành và liên kết giữa các bộ phận của thị trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao tính đồng bộ, hiện đại, minh bạch, an toàn và hiệu quả của TTTC Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

THỰC TRẠNG VÀ THẢO LUẬN

Thể chế, chính sách tài chính trong bối cảnh mới

Khung pháp lý điều chỉnh thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam được hình thành từ hệ thống luật, pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành về ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, ngoại hối, kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, thuế, dữ liệu và công nghệ số. Cùng với đó, các chiến lược, đề án và chương trình phát triển từng cấu phần của TTTC đã tạo nền tảng cho quá trình cải cách. Đáng chú ý, Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 đã phê duyệt Đề án cải cách tổng thể TTTC Việt Nam gắn với mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045, tập trung vào cải cách thể chế, phát triển cân bằng các cấu phần thị trường, nâng cấp hạ tầng và tăng cường quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2026).

Về cơ bản, khung pháp lý đối với thị trường vốn, thị trường tiền tệ – ngân hàng và thị trường bảo hiểm đã được hình thành tương đối đầy đủ thông qua các đạo luật chuyên ngành, như Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (Quốc hội, 2019, 2022, 2024). Bên cạnh đó, một số cơ chế thử nghiệm và khung pháp lý đặc thù đã được ban hành nhằm thích ứng với các mô hình tài chính mới. Tiêu biểu là Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam và Nghị định số 329/2025/NĐ-CP về một số lĩnh vực ngân hàng, ngoại hối và phòng, chống rửa tiền tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (Chính phủ, 2025a, 2025b). Những văn bản này cho thấy định hướng mở rộng và hiện đại hóa thể chế tài chính, đồng thời từng bước tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động tài chính mới.

Tuy nhiên, quá trình phát triển TTTC vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát tính thống nhất và đồng bộ của các quy định có phạm vi điều chỉnh liên ngành, đặc biệt ở những lĩnh vực giao thoa giữa chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, dữ liệu, công nghệ thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Sự phát triển nhanh của chuyển đổi số và hội nhập quốc tế cũng làm xuất hiện các mô hình, sản phẩm và rủi ro mới, đòi hỏi cơ chế phối hợp quản lý, giám sát liên thị trường phải được hoàn thiện. Do đó, khung pháp lý cần được cập nhật thường xuyên nhằm xử lý kịp thời các vướng mắc, hạn chế khoảng trống pháp lý và bảo đảm khả năng thích ứng với tốc độ phát triển của TTTC Việt Nam (Chính phủ, 2025a, 2025b; Thủ tướng Chính phủ, 2026).

Cấu phần thị trường tài chính

Thị trường vốn

Giai đoạn 2021-2025 chứng kiến sự bước ngoặt của thị trường vốn. Các cấu phần cơ bản gồm thị trường cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái sinh; đồng thời, theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, Việt Nam triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa từ ngày 09/9/2025.

Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Minh Lâm, 2026), tính đến ngày 30/6/2026, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu trên HOSE, HNX và UPCoM đạt hơn 10,57 triệu tỷ đồng, tương đương 82,3% GDP, tăng khoảng 6% so với cuối năm 2025; giá trị giao dịch bình quân đạt 29.300 tỷ đồng/phiên và số tài khoản nhà đầu tư đạt hơn 13,16 triệu.

Ngày 07/10/2025, FTSE Russell công bố quyết định tái phân loại Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp (FTSE Russell, 2025). Tại kỳ rà soát ngày 07/4/2026, FTSE Russell tiếp tục xác nhận việc tái phân loại dự kiến có hiệu lực từ khi thị trường mở cửa ngày 21/9/2026 (FTSE Russell, 2026).

Đối với thị trường trái phiếu, thị trường trái phiếu Chính phủ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong huy động vốn cho ngân sách và hình thành đường cong lãi suất tham chiếu; trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp từng bước phục hồi sau giai đoạn điều chỉnh mạnh. Tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp lũy kế từ đầu năm 2026 đến cuối tháng 8/2026 đạt khoảng 348.980 tỷ đồng theo dữ liệu từ Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA, 2026), trong đó kênh riêng lẻ là 295.942 tỷ đồng (chiếm 84,8%) còn kênh ra công chúng là 53.038 tỷ đồng (chiếm 15,2%). Cơ cấu này cho thấy kênh phát hành riêng lẻ vẫn chiếm ưu thế, đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao minh bạch thông tin, chất lượng tổ chức phát hành và bảo vệ nhà đầu tư.

Giai đoạn từ 2021 đến giữa năm 2026, quy mô thị trường vốn và khả năng huy động vốn tăng đáng kể, nhưng cơ cấu thị trường vẫn chưa cân bằng. Những hạn chế chủ yếu gồm: (i) sản phẩm và công cụ phòng ngừa rủi ro chưa thực sự đa dạng; (ii) nhà đầu tư cá nhân vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi cơ sở nhà đầu tư tổ chức còn mỏng; (iii) năng lực tài chính và chất lượng dịch vụ của một bộ phận định chế trung gian còn hạn chế; và (iv) cơ chế phối hợp quản lý ở một số lĩnh vực chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến tốc độ triển khai sản phẩm và nghiệp vụ mới.

Thị trường tiền tệ – tín dụng

Giai đoạn 2021-2025, tín dụng tăng trưởng ở mức cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và hỗ trợ phục hồi, tăng trưởng; tốc độ tăng bình quân đạt khoảng 15,15%/năm. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cuối năm 2025 dư nợ tín dụng đạt gần 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024, tương đương khoảng 144% GDP. Đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng đạt khoảng 19,42 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến ngày 31/12/2025 hệ thống ngân hàng có 127 tổ chức tín dụng với tổng tài sản gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024; huy động vốn tăng 15,42% trong cùng kỳ. Trong năm 2025, nợ xấu tiếp tục được tập trung xử lý và tỷ lệ nợ xấu nội bảng được kiểm soát dưới 2%. Các số liệu này cho thấy quy mô hệ thống tiếp tục mở rộng, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực vốn, quản trị rủi ro và chất lượng tài sản khi tín dụng tăng nhanh. Các dịch vụ và phương tiện thanh toán phát triển nhanh, đa dạng; nhiều phương thức thanh toán hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và viễn thông đã được ứng dụng rộng rãi, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và tiện ích tài chính.

Bên cạnh các kết quả tích cực, điều hành tiền tệ và hoạt động của hệ thống TCTD vẫn đối mặt với rủi ro từ biến động kinh tế – chính trị quốc tế, thay đổi công nghệ và các cú sốc phi truyền thống. Tỷ lệ tín dụng/GDP cuối năm 2025 ở mức khoảng 144%, trong khi tăng trưởng tín dụng (19,01%) cao hơn tăng trưởng huy động vốn (15,42%), tạo áp lực nhất định lên cân đối nguồn vốn và thanh khoản. Vì vậy, yêu cầu trọng tâm là kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế tập trung rủi ro, tăng năng lực vốn và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống.

Thị trường bảo hiểm

Theo Bộ Tài chính, đến hết năm 2025, thị trường có 86 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và 01 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 117.900 tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt khoảng 49.100 tỷ đồng, tăng 13,5%; tổng tài sản thị trường bảo hiểm đạt khoảng 1.187,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% (Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, 2026). Danh mục sản phẩm tiếp tục được mở rộng, trong đó các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm tín dụng và bảo hiểm xanh ngày càng được quan tâm.

Mặc dù tăng trưởng tương đối nhanh, quy mô thị trường bảo hiểm vẫn còn nhỏ; tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm/GDP thấp so với mức bình quân của khu vực ASEAN và thế giới. Danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm còn thiếu đa dạng, chưa bảo đảm mức độ tương thích cần thiết giữa tài sản đầu tư và nghĩa vụ dài hạn, đồng thời vẫn tập trung đáng kể vào tiền gửi tại các TCTD.

Trung tâm tài chính quốc tế

Việt Nam đang triển khai khung thể chế cho Trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT) theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội, với mô hình đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, hướng tới vận hành theo chuẩn mực quốc tế và tăng cường kết nối với các trung tâm tài chính lớn. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 quy định về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại TTTCQT.

Các cơ chế đặc thù này có thể hỗ trợ thu hút dòng vốn, dịch vụ và định chế tài chính quốc tế, đồng thời tăng mức độ liên thông với TTTC trong nước; tuy nhiên, hiệu quả thực tế phụ thuộc vào chất lượng triển khai, hạ tầng thị trường và năng lực quản lý, giám sát.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Định hướng và nguyên tắc

Trên cơ sở Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026, định hướng tổng quát là xây dựng TTTC Việt Nam phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập với khu vực, thế giới; có cơ cấu cân đối, khả năng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước, đồng thời phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Đến năm 2045, TTTC Việt Nam hướng tới trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường, với thể chế, hạ tầng, sản phẩm, cơ sở nhà đầu tư và cơ chế quản lý, giám sát từng bước đạt chuẩn quốc tế. Việc hoàn thiện thể chế cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Một là, cải cách TTTC phải được đặt trong tổng thể cải cách nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2045 và đồng bộ với cải cách khu vực thực, gồm doanh nghiệp, đất đai, lao động và hành chính.

Hai là, lấy ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống tài chính làm nền tảng, bảo đảm chủ quyền tài chính – tiền tệ quốc gia; đồng thời phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước và huy động hiệu quả nguồn lực từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế.

Ba là, phát triển TTTC theo hướng cân bằng, đồng bộ và liên thông giữa thị trường tiền tệ – ngân hàng, thị trường vốn và thị trường bảo hiểm.

Bốn là, hoàn thiện hạ tầng thị trường gắn với phát triển sản phẩm, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.

Năm là, cải cách phải dựa trên nâng cao chất lượng thể chế, tính minh bạch, kỷ luật thị trường, quản trị rủi ro và hiệu lực quản lý, giám sát nhà nước; có lộ trình phù hợp, khuyến khích thí điểm và kịp thời tổng kết thực tiễn nhưng kiên định mục tiêu dài hạn.

Giải pháp trọng tâm

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý: bám sát lộ trình của Đề án Cải cách tổng thể TTTC; rà soát, sửa đổi, bổ sung đồng bộ pháp luật chuyên ngành về chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, tài sản mã hóa và Trung tâm tài chính quốc tế; đồng thời nghiên cứu cơ chế phối hợp quản lý, giám sát liên thị trường phù hợp với mức độ phát triển của hệ thống tài chính.

Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên thị trường: thúc đẩy sản phẩm tài chính bền vững, công cụ huy động vốn cho hạ tầng và công cụ phòng ngừa rủi ro; nghiên cứu phát triển các sàn giao dịch chuyên biệt phù hợp với nhu cầu thị trường.

Thứ ba, mở rộng cơ sở nhà đầu tư: phát triển nhà đầu tư tổ chức trong nước, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài và nâng cao chất lượng nhà đầu tư cá nhân; chú trọng phát triển quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và tăng cường sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức hiện hữu như ngân hàng thương mại, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và doanh nghiệp bảo hiểm.

Thứ tư, nâng cao năng lực các định chế tài chính trung gian và tổ chức cung cấp dịch vụ: tiếp tục tái cơ cấu hệ thống TCTD, tổ chức kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm; tăng cường năng lực của VAMC; phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm và nâng cao chất lượng kế toán, kiểm toán.

Thứ năm, hoàn thiện hạ tầng thị trường và tăng cường ứng dụng công nghệ: hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống giao dịch, thanh toán và bù trừ chứng khoán; phát triển Fintech, Insurtech; ứng dụng AI, blockchain trong quản lý, giám sát và tăng cường kết nối dữ liệu giữa NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công an.

Thứ sáu, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và điều hành: tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, có tính dự báo và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, các chính sách vĩ mô; tăng cường giám sát theo chức năng kết hợp giám sát liên thông giữa ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm để hạn chế rủi ro lan truyền.

Thứ bảy, thúc đẩy hội nhập tài chính và triển khai Trung tâm tài chính quốc tế: đẩy mạnh hợp tác với TTTC, chứng khoán quốc tế; nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro; đồng thời hoàn thiện hạ tầng pháp lý đáp ứng yêu cầu về an ninh, an toàn tài chính và hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế.

Thứ tám, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiểu biết tài chính: xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao gắn với các trường đại học trọng điểm và hợp tác quốc tế; triển khai chiến lược tài chính toàn diện, phổ cập kiến thức tài chính và hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng tài chính.

KẾT LUẬN

Hoàn thiện thể chế là điều kiện quan trọng để phát triển TTTC Việt Nam hiện đại, an toàn và hội nhập quốc tế, qua đó nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng cao, bao trùm và bền vững đến năm 2045.

Trong bối cảnh Quyết định số 1413/QĐ-TTg đã xác lập khuôn khổ cải cách tổng thể, trọng tâm triển khai cần tập trung vào nâng cao tính đồng bộ của pháp luật, phát triển cân bằng các cấu phần thị trường, hiện đại hóa hạ tầng, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tăng cường phối hợp giám sát và kiểm soát rủi ro hệ thống. Hiệu quả cải cách sẽ phụ thuộc không chỉ vào chất lượng thiết kế chính sách mà còn vào năng lực thực thi, phối hợp liên ngành và cơ chế đánh giá, điều chỉnh kịp thời trong quá trình triển khai.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026–2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.

2. Chính phủ (2025a). Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

3. Chính phủ (2025b). Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

4. FTSE Russell (2025). FTSE classification of equity markets: FTSE equity country classification September 2025 announcement.

5. FTSE Russell (2026a, April 15). Reclassification of Vietnam to Secondary Emerging Market Status FAQ. LSEG.

6. FTSE Russell (2026b). FTSE equity country classification: Interim review announcement—April 2026.

7. Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA, 2026). Báo cáo thị trường trái phiếu doanh nghiệp tháng 8/2026.

8. Minh Lâm (2026). Vốn hóa thị trường chứng khoán vượt 10,57 triệu tỷ đồng. https://tapchikinhtetaichinh.vn/von-hoa-thi-truong-chung-khoan-vuot-10-57-trieu-ty-dong-161064.html.

9. Quốc hội (2019). Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14.

10. Quốc hội (2022). Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15.

11. Quốc hội (2024). Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15.

12. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 222/2025/QH15 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

13. Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp (2026). Thị trường bảo hiểm 6 tháng đầu năm tăng trưởng 2,2%, phi nhân thọ tiếp tục bứt phá. https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/thi-truong-bao-hiem-6-thang-dau-nam-tang-truong-22-phi-nhan-tho-tiep-tuc-but-pha-d67983.html.

14. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045.

Ngày nhận bài: 12/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 13/9/2026; Ngày duyệt đăng: 17/9/2026

Các tin khác

Tác động của chuyển đổi số đến đổi mới mô hình kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô tại khu vực TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của vốn tri thức

Tác động của chuyển đổi số đến đổi mới mô hình kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô tại khu vực TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của vốn tri thức

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức hiện nay, vốn tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự thành công của doanh nghiệp, là nguồn lực nền tảng để các tổ chức, trong đó có tổ chức tài chính vi mô, triển khai thành công quá trình chuyển đổi số và đổi mới mô hình kinh doanh.
Năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò trung gian của năng lực đổi mới và năng lực thích ứng

Năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò trung gian của năng lực đổi mới và năng lực thích ứng

Năng lực quản trị giúp ngân hàng hoạch định, ra quyết định, quản trị rủi ro, tối ưu nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trên thực tế, nhiều khách hàng chỉ sử dụng ứng dụng ngân hàng số cho các giao dịch cơ bản như: kiểm tra số dư, chuyển khoản hoặc thanh toán hóa đơn, trong khi các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: đầu tư, bảo hiểm, tín dụng tiêu dùng hoặc quản lý tài chính cá nhân vẫn chưa được khai thác đầy đủ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đổi mới sáng tạo số của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần khu vực TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đổi mới sáng tạo số của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần khu vực TP. Hồ Chí Minh

Tại Việt Nam, ngành ngân hàng - đặc biệt là khối ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh - đang tiên phong trong tiến trình chuyển đổi số nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh.
Tác động của các yếu tố vĩ mô, đặc thù doanh nghiệp và năng lực nguồn nhân lực đến cấu trúc vốn của công ty chứng khoán niêm yết tại Việt Nam

Tác động của các yếu tố vĩ mô, đặc thù doanh nghiệp và năng lực nguồn nhân lực đến cấu trúc vốn của công ty chứng khoán niêm yết tại Việt Nam

Cấu trúc vốn đóng vai trò then chốt trong việc định hình sức khỏe tài chính và khả năng phát triển của một doanh nghiệp, thể hiện chiến lược tài chính tổng thể của công ty. Tại Việt Nam, công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt với đặc điểm vốn vay chiếm tỷ trọng lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Ước lượng tác động của tín dụng xanh và chất lượng tín dụng xanh đến hiệu quả sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ mô hình System GMM

Ước lượng tác động của tín dụng xanh và chất lượng tín dụng xanh đến hiệu quả sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ mô hình System GMM

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng carbon thấp nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris và mục tiêu Net Zero 2050, hệ thống ngân hàng thương mại giữ vai trò then chốt trong phân bổ vốn cho phát triển bền vững
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Đồng Nai

Đồng Nai là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị nhanh, mức độ phổ biến của công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng số, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh về trải nghiệm khách hàng.
Từ tự kiểm soát đến ý định đầu tư chứng khoán: Vai trò trung gian của hành vi tiết kiệm và vai trò điều tiết của ác cảm mất mát trong tài chính cá nhân tại Việt Nam

Từ tự kiểm soát đến ý định đầu tư chứng khoán: Vai trò trung gian của hành vi tiết kiệm và vai trò điều tiết của ác cảm mất mát trong tài chính cá nhân tại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích cơ chế từ tự kiểm soát đặc điểm đến ý định đầu tư chứng khoán thông qua hành vi tiết kiệm, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của ác cảm mất mát tại Việt Nam.