Phát triển nông nghiệp xanh tại Trung Quốc và hàm ý chính sách cho Việt Nam
NCS. Trần Thị Đào
Trường Đại học Công đoàn
Email: [email protected]
Tóm tắt
Phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành hướng chuyển đổi tất yếu của hệ thống nông nghiệp toàn cầu. Bài viết tổng quan kinh nghiệm triển khai phát triển nông nghiệp xanh tại Trung Quốc - quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về cấu trúc nông hộ nhỏ, truyền thống thâm canh và áp lực an ninh lương thực. Kết quả cho thấy, phát triển nông nghiệp xanh tại Trung Quốc được triển khai thông qua 4 trụ cột nội dung, một hỗn hợp chính sách phân tầng và mô hình thể chế kết hợp 2 chiều từ trên xuống và từ dưới lên, trong đó Mô hình sân sau khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt. Số hóa nông nghiệp được nhận diện là cơ chế thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh với hiệu ứng lan tỏa không gian tích cực. Đối chiếu với thực trạng Việt Nam, bài viết đề xuất 5 nhóm hàm ý chính sách: hoàn thiện thể chế và khung pháp lý; xây dựng hỗn hợp chính sách kinh tế phân tầng; phát triển mô hình liên kết nghiên cứu - khuyến nông - sản xuất; thúc đẩy số hóa nông nghiệp và tích hợp yêu cầu xanh hóa vào chuỗi giá trị xuất khẩu nông sản.
Từ khóa: Phát triển nông nghiệp xanh, chính sách nông nghiệp bền vững, kinh nghiệm Trung Quốc, số hóa nông nghiệp
Abstract
Green agricultural development becomes an inevitable direction of transformation for agricultural systems worldwide. The article reviews China’s experience in promoting green agricultural development, as China shares several similarities with Viet Nam in terms of smallholder farming structures, intensive farming traditions, and food security pressures. The findings show that green agricultural development in China is implemented through four substantive pillars, a tiered policy mix, and an institutional model that combines top-down and bottom-up approaches, with the Science and Technology Backyard model playing a pivotal role. Agricultural digitalization is identified as a mechanism for promoting green agricultural development, with positive spatial spillover effects. Based on a comparison with Viet Nam’s current situation, the article proposes five groups of policy implications: strengthening institutions and the legal framework; developing a tiered mix of economic policies; fostering linkages among research, agricultural extension, and production; promoting agricultural digitalization; and integrating green transition requirements into agricultural export value chains.
Keywords: Green agricultural development, sustainable agricultural policy, China’s experience, agricultural digitalization
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình tăng trưởng nông nghiệp dựa trên thâm canh cao, sử dụng nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đã bảo đảm an ninh lương thực cho dân số thế giới ngày càng tăng, nhưng đồng thời gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái và đặt ra thách thức căn bản về tính bền vững trong dài hạn (Shen và cộng sự, 2020). Trong bối cảnh đó, phát triển nông nghiệp xanh nổi lên như một hướng tiếp cận tất yếu, hướng đến sự chuyển đổi từ nền nông nghiệp tiêu hao nhiều tài nguyên và chi phí môi trường cao sang nền nông nghiệp có năng suất cao, hiệu quả sử dụng tài nguyên cao và rủi ro môi trường thấp (Shen và cộng sự, 2020; Smith, 2020).
Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hướng đến nông nghiệp bền vững, tiêu biểu là Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tế vẫn gặp nhiều hạn chế về thể chế, công cụ kinh tế và năng lực khuyến nông. Trong khi đó, nền nông nghiệp vẫn mang đặc trưng phát triển theo chiều rộng, thâm dụng đầu vào hóa học, phân tán về quy mô sản xuất và lỏng lẻo trong liên kết chuỗi giá trị.
Trung Quốc là trường hợp tham chiếu phù hợp vì 2 lý do: cả 2 đều là quốc gia có nền nông nghiệp nông hộ nhỏ với truyền thống thâm canh lâu đời và cùng đối mặt mâu thuẫn giữa an ninh lương thực với bảo vệ môi trường; đồng thời Trung Quốc đã triển khai phát triển nông nghiệp xanh có hệ thống trong hơn một thập kỷ, tích lũy đủ kinh nghiệm cả về thành công lẫn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ 3 vấn đề: (1) Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp xanh từ góc độ quản lý kinh tế; (2) Kinh nghiệm thực tiễn của Trung Quốc trong triển khai Phát triển nông nghiệp xanh và (3) Hàm ý chính sách cho Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi nông nghiệp bền vững.
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP XANH TẠI TRUNG QUỐC
Bối cảnh và áp lực chuyển đổi
Kể từ cải cách mở cửa năm 1978, Trung Quốc đã đạt những thành tựu nông nghiệp đáng kể, với sản lượng lương thực tăng gấp đôi từ năm 1978 đến năm 2015 và duy trì ổn định trên 650 triệu tấn trong 8 năm liên tiếp (Shen và cộng sự, 2024). Tuy nhiên, thành tựu này đi kèm cái giá môi trường lớn. Từ năm 1978 đến năm 2014, lượng phân đạm sử dụng tăng gấp 3, phân lân tăng gấp 11 lần và lượng nước tưới tăng 50%. Hiệu quả sử dụng phân đạm giảm mạnh từ 34 kg/kg năm 1980 xuống 18,5 kg/kg năm 2010, trong khi lượng đạm dư thừa tích lũy hằng năm tăng từ 69 lên 203 kg/ha (Shen và cộng sự, 2020). Đây chính là biểu hiện điển hình của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng: sản lượng tăng nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực suy giảm.
Trước bối cảnh đó, Chính phủ Trung Quốc chính thức công nhận phát triển nông nghiệp xanh là con đường tất yếu và ban hành hàng loạt văn bản chính sách, trong đó có “Ý kiến về đổi mới hệ thống và cơ chế thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh” bàn hành năm 2017 và Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 về phát triển xanh nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 (Meng và Li, 2025).
Kết quả triển khai 4 trụ cột
Về sản xuất cây trồng xanh, phương pháp quản lý cân bằng đạm bền vững do Đại học Nông nghiệp Trung Quốc phát triển cho phép giảm 20% lượng phân đạm trong khi vẫn duy trì hoặc tăng năng suất 6%-7% đối với hệ canh tác lúa mì - ngô trên diện tích hơn 1.000 ha do nông hộ nhỏ quản lý. Thiết kế hệ thống canh tác với xen canh và luân canh đa dạng cũng cho kết quả đáng kể, với mức tăng năng suất tuyệt đối 2 tấn/ha và tăng hàm lượng protein 10% so với trồng độc canh (Shen và cộng sự, 2024).
Về tích hợp trồng trọt - chăn nuôi, đây là trụ cột đặc biệt quan trọng khi chăn nuôi Trung Quốc thải ra khoảng 3,8 tỷ tấn chất thải mỗi năm nhưng hiệu quả tái sử dụng toàn diện chưa đến 60% (Shen và cộng sự, 2020). Chiến lược ghép nối 2 hệ thống thông qua tối ưu hóa phân bổ không gian vùng sản xuất thức ăn gia súc đã giúp tăng sản lượng thức ăn thêm 18-32% mà không cần mở rộng diện tích canh tác. Kết quả thực địa tại huyện Quzhou, tỉnh Hà Bắc cho thấy việc tích hợp các biện pháp giảm phát thải trong toàn chuỗi nuôi dưỡng - chuồng trại - lưu trữ - xử lý - bón phân đã giảm phát thải NH₃ tới 37% trong khi tăng năng suất trứng 10% (Shen và cộng sự, 2024).
Về thực phẩm và công nghiệp xanh, diện tích trồng sản phẩm dán nhãn xanh mở rộng từ 0,8 triệu ha những năm 1990 lên 11,1 triệu ha vào năm 2019, chiếm 8,2% tổng diện tích canh tác toàn quốc, với 15.984 doanh nghiệp cung cấp 36.345 sản phẩm. Điểm đáng chú ý là hệ thống này gắn nhãn với yêu cầu kỹ thuật cụ thể: nhà sản xuất phải giảm 50% lượng phân đạm vô cơ so với mức bón phổ biến tại địa phương và bị cấm sử dụng 72% loại thuốc bảo vệ thực vật đang thương mại hóa (Shen và cộng sự, 2024). Nhãn xanh vì vậy vừa là công cụ thị trường, vừa là công cụ quy định gián tiếp.
Về môi trường sinh thái, Trung Quốc đã phát triển hệ thống mô hình định lượng dòng chảy dinh dưỡng, đánh giá tác động của hoạt động nông nghiệp theo 4 chỉ tiêu cốt lõi: sức khỏe đất, chất lượng nước, chất lượng không khí và đa dạng sinh học (Shen và cộng sự, 2024). Việc lượng hóa này là điều kiện để chuyển mục tiêu môi trường trừu tượng thành chỉ tiêu đánh giá được.
Mô hình thể chế và phương thức triển khai
Thành công trong phát triển nông nghiệp xanh tại Trung Quốc không chỉ đến từ công nghệ mà chủ yếu từ mô hình thể chế kết hợp 2 chiều tiếp cận (Shen và cộng sự, 2024). Ở chiều từ trên xuống, Chính phủ đặt mục tiêu quốc gia, ban hành khung pháp lý, tiêu chuẩn môi trường và ưu đãi chính sách; 6 trung tâm nghiên cứu Phát triển nông nghiệp xanh vùng được thành lập trên toàn quốc; Bộ Sinh thái và Môi trường được thành lập năm 2018 nhằm tích hợp trách nhiệm bảo vệ môi trường và thống nhất công tác giám sát (Smith, 2020).
Ở chiều từ dưới lên, mô hình Sân sau khoa học công nghệ kết nối trực tiếp nhà nghiên cứu, chính quyền, doanh nghiệp và nông dân, trong đó nhà khoa học sống và làm việc ngay tại địa bàn nông thôn để chuyển giao công nghệ và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn sản xuất. Với sự hỗ trợ của các mô hình sân sau khoa học công nghệ, năng suất lúa mì và ngô kết hợp tại huyện Quzhou tăng từ 12,0 tấn/ha năm 2008 lên 15,6 tấn/ha năm 2013 trên 93.074 nông hộ (Shen và cộng sự, 2020). Đây là mô hình có giá trị tham chiếu cao nhất đối với Việt Nam, vì nó được thiết kế riêng cho bối cảnh nông hộ quy mô nhỏ.
Kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại
Sau hơn 5 năm triển khai có hệ thống, phát triển nông nghiệp xanh tại Trung Quốc đạt nhiều kết quả tích cực: năng suất cây trồng tăng, lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật giảm tại các vùng thí điểm, chuỗi giá trị thực phẩm xanh phát triển (Meng và Li, 2025). Tuy nhiên, 5 hạn chế vẫn tồn tại và có giá trị cảnh báo đối với Việt Nam (Smith, 2020; Shen và cộng sự, 2024), đó là: khoảng cách giữa chính sách trung ương và thực thi địa phương; lực lượng lao động nông nghiệp cao tuổi và thiếu kỹ năng; khó khăn trong giám sát kết quả môi trường; chi phí tuân thủ cao đối với nông hộ nhỏ; và thiếu tổ chức trung gian giữa nhà nước và nông dân.
THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Những đặc điểm nổi bật của nông nghiệp Việt Nam
Ba đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam có liên quan trực tiếp đến khả năng vận dụng kinh nghiệm Trung Quốc:
Thứ nhất, quy mô sản xuất phân tán ở mức cao. Tính đến năm 2016, 69% số hộ sử dụng dưới 0,5 ha đất canh tác và chỉ 6% đạt từ 2 ha trở lên (Tổng cục Thống kê, 2016). Mức độ manh mún phân hóa rõ giữa các vùng: năm 2011, tỷ lệ hộ nắm giữ trên 2 ha ở đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 10%, trong khi ở đồng bằng sông Hồng chỉ là 0,1% (World Bank, 2016). Liên kết sản xuất không những yếu mà còn có dấu hiệu thu hẹp: số cánh đồng lớn giảm từ 2.262 xuống 1.657 và diện tích gieo trồng theo mô hình này giảm từ 579.250 ha năm 2016 xuống 271.000 ha năm 2020 (Tổng cục Thống kê, 2021).
Thứ hai, nền sản xuất còn thâm dụng đầu vào hóa học. Cường độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tuy đã giảm từ 3,81 kg/ha năm 2020 xuống 3,19 kg/ha năm 2023 nhưng vẫn ở mức cao so với chuẩn canh tác bền vững, trong khi tỷ trọng thuốc sinh học mới đạt khoảng 18,5% năm 2022. Tình trạng lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật kéo dài tại các vùng thâm canh trọng điểm (Le và Umetsu, 2022).
Thứ ba, áp lực phát thải ở mức đáng kể. Theo kiểm kê khí nhà kính năm 2020, nông nghiệp đóng góp khoảng 116,51 triệu tấn CO₂ tương đương trong tổng phát thải quốc gia 454,6 triệu tấn, chiếm 25,6%; riêng trồng trọt chiếm 80% phát thải toàn ngành và sản xuất lúa chiếm 50,31% (Thanh Trà, 2025).
Tương đồng, khác biệt và những thách thức đặt ra
Ba điểm tương đồng giữa 2 quốc gia - cùng là nền nông nghiệp nông hộ nhỏ thâm canh, cùng đối mặt mâu thuẫn giữa an ninh lương thực và bảo vệ môi trường, cùng cần vai trò chủ đạo của nhà nước (Smith, 2020) là cơ sở để các bài học từ Trung Quốc có giá trị vận dụng.
Tuy nhiên, 4 khác biệt cần được lưu ý. Về nguồn lực, đầu tư ngân sách cho nghiên cứu nông nghiệp của Trung Quốc lớn hơn nhiều lần so với Việt Nam. Về thể chế, hệ thống khuyến nông Việt Nam còn thiếu cơ chế kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thực hành sản xuất như mô hình sân sau khoa học công nghệ. Về thị trường, hệ thống thực phẩm xanh tại Việt Nam còn sơ khai, thiếu tiêu chuẩn nhãn xanh quốc gia thống nhất và đáng tin cậy. Về số hóa, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu chuyển đổi số nông nghiệp với hạ tầng số nông thôn còn hạn chế, trong khi Trung Quốc đã xây dựng được hệ sinh thái số nông nghiệp tương đối toàn diện.
Một khác biệt mang tính lợi thế là định hướng xuất khẩu. Khác với Trung Quốc chủ yếu hướng đến thị trường nội địa rộng lớn, Việt Nam có tỷ trọng xuất khẩu nông sản cao, nên các tiêu chuẩn bền vững tại thị trường EU, Nhật Bản và Hàn Quốc tạo ra động lực thị trường trực tiếp cho chuyển đổi xanh - điều mà thị trường nội địa chưa tạo ra được.
Từ đó có thể xác định 4 nhóm thách thức. Về thể chế: thiếu khung pháp lý toàn diện và thiếu cơ chế giám sát, đánh giá kết quả môi trường theo hệ thống. Về kinh tế: chi phí chuyển đổi cao trong khi thu nhập nông hộ thấp, thiếu cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái hiệu quả. Về kỹ thuật: hệ thống khuyến nông thiếu nguồn lực chuyển giao công nghệ xanh tới quy mô nông hộ nhỏ. Về thị trường: người tiêu dùng trong nước chưa sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm xanh và hệ thống chứng nhận còn phân tán (Smith, 2020).
HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc và thực tiễn tại Việt Nam, có thể rút ra một số gợi ý cho Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệp xanh như sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý
Việt Nam cần một chiến lược quốc gia về phát triển nông nghiệp xanh với mục tiêu cụ thể, đo lường được và lộ trình rõ ràng theo từng giai đoạn. Kinh nghiệm thành lập Bộ Sinh thái và Môi trường Trung Quốc năm 2018 nhằm tích hợp trách nhiệm giám sát môi trường (Smith, 2020) có giá trị tham chiếu trong bối cảnh Việt Nam vừa hợp nhất quản lý nhà nước về nông nghiệp và môi trường vào một đầu mối. Cùng với đó, cần thiết lập hệ thống tiêu chuẩn nông nghiệp xanh quốc gia gồm tiêu chuẩn đầu vào, quy trình canh tác theo vùng sinh thái và tiêu chuẩn đầu ra.
Hai là, xây dựng hỗn hợp chính sách kinh tế phân tầng
Dựa trên khung phân tích của Smith (2020), Việt Nam cần thiết kế hỗn hợp chính sách phân tầng thay vì dựa vào công cụ đơn lẻ. Ở tầng cơ sở, các chuẩn thực hành nông nghiệp tốt nên được quy định như điều kiện cần để tiếp cận hỗ trợ của Nhà nước. Ở tầng ưu đãi kinh tế, cần mở rộng chi trả dịch vụ hệ sinh thái sang lĩnh vực trồng trọt - hiện cơ chế này mới áp dụng chủ yếu cho rừng - và phát triển tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho đầu tư vào công nghệ canh tác bền vững. Ở tầng cao nhất, cần cơ chế thưởng - phạt dựa trên kết quả môi trường đo lường được, ưu tiên áp dụng tại các vùng thâm canh cao.
Ba là, phát triển mô hình liên kết nghiên cứu - khuyến nông - sản xuất
Mô hình mô hình sân sau khoa học công nghệ là bài học có giá trị vận dụng cao nhất, vì được thiết kế riêng cho bối cảnh nông hộ nhỏ - đúng với cấu trúc sản xuất của Việt Nam. Các trường đại học nông nghiệp và viện nghiên cứu cần đặt trạm nghiên cứu thực nghiệm ngay tại vùng sản xuất, với cơ chế để nhà khoa học luân phiên làm việc tại cơ sở. Điểm then chốt cần lưu ý khi vận dụng là mô hình sân sau khoa học công nghệ giải quyết đồng thời 2 nhiệm vụ: chuyển giao tri thức và tạo ra dữ liệu đo lường tại thực địa. Nếu chỉ sao chép hình thức trạm nghiên cứu mà bỏ qua chức năng đo lường, mô hình sẽ mất đi phần giá trị quan trọng nhất.
Bốn là, thúc đẩy số hóa nông nghiệp như một đòn bẩy chính sách
Trong 3 kênh tác động của số hóa nông nghiệp tới phát triển nông nghiệp xanh mà Meng và Li (2025) xác định, kênh định hướng chính sách - cải thiện năng lực giám sát và thực thi của cơ quan quản lý - có ý nghĩa đặc biệt với Việt Nam, nơi giám sát kết quả môi trường trên nền nông hộ phân tán vượt quá khả năng ngân sách nếu dùng phương pháp truyền thống. Hiệu ứng lan tỏa không gian của số hóa cũng hàm ý đầu tư hạ tầng số cần được điều phối ở cấp vùng thay vì để từng tỉnh triển khai riêng lẻ.
Năm là, tích hợp yêu cầu xanh hóa vào chuỗi giá trị xuất khẩu
Các tiêu chuẩn bền vững đang trở thành rào cản thương mại thực chất tại nhiều thị trường xuất khẩu trọng điểm, và Việt Nam cần chuyển hóa yêu cầu này thành động lực cải cách nội bộ thay vì ứng phó bị động. Kinh nghiệm phát triển thực phẩm dán nhãn xanh của Trung Quốc (Shen và cộng sự, 2024) cho thấy bài học về xây dựng thị trường từng bước với hỗ trợ của nhà nước ở giai đoạn đầu, đồng thời gắn nhãn với yêu cầu kỹ thuật cụ thể để bảo đảm độ tin cậy - vì một hệ thống chứng nhận bị nghi ngờ sẽ không phát được tín hiệu chất lượng trên thị trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Le, C. B. T., & Umetsu, C. (2022). Sustainable farming techniques and farm size for rice smallholders in the Vietnamese Mekong Delta: A slack-based technical efficiency approach. Agriculture, Ecosystems & Environment, 326, 107775. https://doi.org/10.1016/j.agee.2021.107775
2. Meng, Y., & Li, D. (2025). Digital pathways to sustainable agriculture: Examining the role of agricultural digitalization in green development in China. Sustainability, 17(8), 3652. https://doi.org/10.3390/su17083652
3. Shen, J., Zhu, Q., Jiao, X., Ying, H., Wang, H., Wen, X., Xu, W., Li, T., Cong, W., Liu, X., Hou, Y., Cui, Z., Oenema, O., Davies, W. J., & Zhang, F. (2020). Agriculture Green Development: A model for China and the world. Frontiers of Agricultural Science and Engineering, 7(1), 5-13. https://doi.org/10.15302/J-FASE-2019300
4. Shen, J., Zhu, Q., Hou, Y., Cong, W., Xu, W., Xu, J., An, Z., Jiao, X., Zhang, K., Yu, T., Ma, L., Oenema, O., Davies, W. J., & Zhang, F. (2024). Agriculture green development in China: Insights and advances. Frontiers of Agricultural Science and Engineering, 11(1), 5-19. https://doi.org/10.15302/J-FASE-2024535
5. Smith, L. E. D. (2020). Policy options for Agriculture Green Development by farmers in China. Frontiers of Agricultural Science and Engineering, 7(1), 90-97. https://doi.org/10.15302/J-FASE-2019290
6. Thanh Trà (2025). Nông nghiệp xanh giảm phát thải hướng tới cạnh tranh toàn cầu, https://nhandan.vn/nong-nghiep-xanh-giam-phat-thai-huong-toi-canh-tranh-toan-cau-post897485.html
7. Tổng cục Thống kê (2016). Báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản năm 2016. Nxb Thống kê.
8. Tổng cục Thống kê (2021). Thông cáo báo chí kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020.
9. World Bank (2016). Vietnam Development Report 2016: Transforming Vietnamese agriculture - Gaining more from less. Hanoi: Hong Duc Publishing House.
| Ngày nhận bài: 1/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/9/2026; Ngày duyệt đăng: 16/10/2026 |
Các tin khác
Tác động bất đối xứng của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Việt Nam
Đồng tạo giá trị xã hội và kinh tế thông qua đào tạo gắn kết cộng đồng: Nghiên cứu tại Trường Đại học Văn Lang
Tác động của quản trị nguồn nhân lực xanh đến hành vi xanh tự nguyện của nhân viên tại các doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng kết quả công việc của người lao động tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chiến lược bảo đảm nguồn cung năng lượng của Chính quyền Trump 2.0: Ba trụ cột, tác động và hàm ý đối với Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách du lịch nội địa: Nghiên cứu tại Khu du lịch sinh thái Làng Yến, tỉnh Đồng Tháp
Marketing dịch vụ khám và chữa bệnh tại Bệnh viện E
Tác động của nền tảng công nghệ số và áp lực thể chế đến quyết định mua vật liệu xây dựng xanh của các chủ đầu tư bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh
Phát triển nhà ở xã hội theo mô hình đối tác công - tư tại Việt Nam: Thực trạng và định hướng đến năm 2030