Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại làng Quỳnh Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Nghiên cứu - Trao đổi 13:55 | 12/10/2026
Quỳnh Sơn là trường hợp có ý nghĩa nghiên cứu vì đã chuyển từ một sáng kiến địa phương thành điểm đến có thương hiệu quốc tế. Mô hình được hình thành từ năm 2010, đi vào hoạt động từ khoảng năm 2012 và được công nhận là điểm du lịch cấp tỉnh năm 2015.

ThS. Nguyễn Trường Huy

Bộ môn Du lịch, Khoa Quản trị kinh doanh, Học viện Phụ nữ Việt Nam

Email: [email protected]

Tóm tắt

Làng Quỳnh Sơn, xã Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn là một mô hình du lịch cộng đồng tiêu biểu của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, đã được nhận danh hiệu “Làng du lịch tốt nhất năm 2025” của UN Tourism. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của điểm đến này cũng làm bộc lộ rõ những hạn chế về hạ tầng, chất lượng dịch vụ, chiều sâu sản phẩm, thời gian lưu trú, nhân lực, chuyển đổi số và bằng chứng về phân phối lợi ích. Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp định tính, phân tích tài liệu chính sách, báo cáo địa phương và công trình khoa học để đánh giá Quỳnh Sơn theo 4 phương diện: tài nguyên và bản sắc; sản phẩm và thị trường; hạ tầng và môi trường; tổ chức cộng đồng và quản trị, kết quả nghiên cứu cho thấy, vấn đề trọng tâm của làng không còn là tạo nhận diện mà là chuyển danh hiệu thành năng lực quản trị. Từ đó, tác giả đề xuất bảo tồn không gian làng như một di sản sống; thiết kế sản phẩm theo chiều sâu; hoàn thiện hạ tầng thiết yếu; nâng vai trò của hợp tác xã; mở rộng chuỗi cung ứng địa phương; và quản trị dòng khách dựa trên dữ liệu.

Từ khóa: Du lịch cộng đồng, du lịch bền vững, quản trị điểm đến, bảo tồn văn hóa, Quỳnh Sơn

Abstract

Quynh Son Village, Bac Son Commune, Lang Son Province, is a typical community-based tourism destination in Viet Nam’s Northern Midlands and Mountainous Region. In 2025, it was recognized by UN Tourism as a “Best Tourism Village.” However, the destination’s rapid development has also revealed several limitations in infrastructure, service quality, product diversity and depth, length of stay, human resources, digital transformation, and evidence of benefit distribution. Using a qualitative case study approach, the study reviews policy documents, local reports, and academic research to assess Quynh Son Village from four aspects: resources and cultural identity; tourism products and markets; infrastructure and the environment; and community organization and governance. The findings indicate that the village’s main challenge is no longer gaining recognition as a tourism destination, but rather turning this recognition into stronger governance capacity. Based on these findings, the study proposes several solutions, including preserving the village landscape as a living heritage; developing more in-depth tourism products; improving essential infrastructure; strengthening the role of the cooperative; expanding local supply chains; and managing visitor flows based on data.

Keywords: Community-based tourism, sustainable tourism, destination governance, cultural conservation, Quynh Son Village

ĐẶT VẤN ĐỀ

Du lịch cộng đồng được xem là một phương thức phát triển, trong đó cư dân địa phương tham gia vào quá trình ra quyết định, cung ứng dịch vụ và hưởng lợi từ tài nguyên gắn với nơi cư trú. Điểm phân biệt của mô hình này không chỉ nằm ở quy mô nhỏ hay không gian nông thôn, mà ở quyền kiểm soát của cộng đồng và khả năng giữ lại giá trị tại địa phương (Scheyvens, 1999). Vì vậy, một điểm đến có nhiều khách, nhiều cơ sở lưu trú nhưng lợi ích tập trung, văn hóa bị thương mại hóa hoặc môi trường suy giảm chưa thể được coi là mô hình du lịch cộng đồng bền vững. Quan điểm này phù hợp với Luật Du lịch năm 2017 và Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam, trong đó bảo tồn tài nguyên, nâng cao đời sống cư dân và hài hòa lợi ích được xác định là yêu cầu cốt lõi (Quốc hội, 2017; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2024).

Quỳnh Sơn là trường hợp có ý nghĩa nghiên cứu vì đã chuyển từ một sáng kiến địa phương thành điểm đến có thương hiệu quốc tế. Mô hình được hình thành từ năm 2010, đi vào hoạt động từ khoảng năm 2012 và được công nhận là điểm du lịch cấp tỉnh năm 2015 (UBND tỉnh Lạng Sơn, 2026). Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, làng thuộc xã Bắc Sơn mới, được hình thành từ thị trấn Bắc Sơn, xã Long Đống và xã Bắc Quỳnh cũ (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Tháng 10/2025, Quỳnh Sơn được UN Tourism ghi danh trong 52 “Làng du lịch tốt nhất năm 2025” (UN Tourism, 2025). Cùng với việc Lạng Sơn trở thành Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, danh hiệu này mở ra khả năng kết nối Quỳnh Sơn với thị trường và mạng lưới điểm đến quốc tế (UNESCO, 2025).

Tuy nhiên, sự gia tăng nhận diện không đồng nghĩa với việc các điều kiện phát triển đã hoàn thiện. Lượng khách đến đây tăng từ khoảng 44.800 lượt năm 2020 lên 161.450 lượt năm 2025; doanh thu tăng từ gần 10,1 tỷ đồng lên khoảng 80,7 tỷ đồng, trong khi thời gian lưu trú trung bình mới đạt khoảng 1-1,5 ngày (UBND tỉnh Lạng Sơn, 2026). Hạ tầng chưa đồng bộ, thiếu bãi đỗ xe và nhà vệ sinh công cộng, sản phẩm chưa đủ đa dạng, chuyển đổi số còn hạn chế và nguồn nhân lực chuyên môn còn thiếu (UBND xã Bắc Sơn, 2026). Do đó, nghiên cứu tập trung trả lời 3 câu hỏi: Quỳnh Sơn có những lợi thế phát triển nào; thực trạng đang đặt ra những vấn đề gì; và cần ưu tiên giải pháp nào để chuyển từ tăng trưởng theo lượng khách sang phát triển bền vững theo giá trị?

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG QUỲNH SƠN

Lợi thế nổi bật trước hết là cảnh quan thung lũng Bắc Sơn, nơi các dãy núi đá vôi, ruộng lúa, dòng suối và không gian cư trú tạo thành một chỉnh thể có giá trị thẩm mỹ cao. Đỉnh Nà Lay cao trên 600m phù hợp với đi bộ, nhiếp ảnh và diễn giải địa chất. Cảnh quan mùa vụ giúp điểm đến xây dựng nhiều chủ đề trải nghiệm, đồng thời kết nối với các di tích, vườn quýt và điểm cảnh quan trong hệ thống du lịch Bắc Sơn. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn còn tạo cơ sở gắn câu chuyện địa chất với lịch sử cư trú, nông nghiệp và văn hóa bản địa (UNESCO, 2025).

Không gian nhà sàn Tày là tài sản khác biệt nhất của Quỳnh Sơn. Hơn 400 ngôi nhà sàn truyền thống, chủ yếu bằng gỗ, lợp ngói âm dương và phân bố tương đối hài hòa trong thung lũng (UBND tỉnh Lạng Sơn, 2025). Giá trị du lịch không nằm riêng ở từng ngôi nhà mà ở tổng thể đường làng, hàng rào, sân vườn, cánh đồng và nhịp sinh hoạt. Đây là một dạng cảnh quan văn hóa sống: nhà sàn vừa là nơi cư trú, vừa là không gian giao tiếp gia đình, sản xuất, ẩm thực và tiếp đón khách.

Văn hóa Tày tạo cho Quỳnh Sơn một lớp sản phẩm giàu chiều sâu. Hát Then, đàn tính, lễ hội, ẩm thực, tri thức nông nghiệp và nghề làm ngói âm dương có thể được tổ chức thành trải nghiệm học tập thay vì chỉ trình diễn. Thực hành Then của người Tày, Nùng và Thái đã được UNESCO ghi danh, trong đó giá trị gắn với hệ thống tri thức, quan niệm và quan hệ cộng đồng (UNESCO, 2019). Vì vậy, việc khai thác Then cần phân biệt chương trình nghệ thuật với nghi lễ có ý nghĩa tâm linh; nghệ nhân và cộng đồng phải có quyền quyết định nội dung, bối cảnh, mức độ ghi hình và mức thù lao.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Quy mô khách và doanh thu cho thấy Quỳnh Sơn đã vượt giai đoạn thử nghiệm. Năm 2026, làng có 12 cơ sở lưu trú cộng đồng, trong đó 9 cơ sở đủ điều kiện kinh doanh; 26 hộ được chấp thuận hỗ trợ cải tạo, nâng cấp và đến tháng 8/2026 có 10 hộ hoàn thành (Báo và Phát thanh, Truyền hình Lạng Sơn, 2026). Hợp tác xã du lịch Quỳnh Sơn có 18 thành viên, đồng thời quản lý một số phương tiện và thiết bị dùng chung như xe đạp, thuyền SUP, áo phao, dụng cụ biểu diễn và y dược cổ truyền (UBND xã Bắc Sơn, 2026). Những kết quả này phản ánh sự chuyển dịch từ cung cấp ăn, nghỉ đơn lẻ sang phối hợp sản phẩm ở cấp điểm đến.

Sản phẩm hiện có gồm lưu trú nhà sàn, ẩm thực Tày, giao lưu văn nghệ, làm bánh, gặt lúa, đạp xe, chèo SUP, trải nghiệm y dược cổ truyền và leo Nà Lay. Các hoạt động dựa trên tài nguyên thật, tạo khả năng tiếp xúc trực tiếp giữa khách với cư dân. Tuy nhiên, thời gian lưu trú 1-1,5 ngày cho thấy sản phẩm chưa tạo được nhiều lý do để ở lại lâu. Trải nghiệm còn phụ thuộc mùa vụ, thời tiết hoặc đoàn khách; nội dung văn nghệ và ẩm thực có nguy cơ trùng lặp giữa các cơ sở. Các sản phẩm diễn giải địa chất, học nghề, du lịch giáo dục, tour lịch sử chuyên đề, chăm sóc sức khỏe bản địa và trải nghiệm buổi tối chưa được cấu trúc thành danh mục thống nhất về chủ đề, thời lượng, sức chứa và tiêu chuẩn phục vụ.

Hạ tầng là khoảng cách rõ nhất giữa thương hiệu và năng lực tiếp nhận. Địa phương vẫn thiếu bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng và một số hạng mục thiết yếu (UBND xã Bắc Sơn, 2026). Các dự án giao thông, thoát nước, trung tâm cộng đồng và đường lên Nà Lay đang được triển khai, nhưng còn cần hệ thống thoát và xử lý nước thải, thu gom và xử lý rác, phòng cháy chữa cháy, cứu hộ và bảo trì. Năm 2024, Quỳnh Sơn cơ bản đáp ứng 9/17 tiêu chí du lịch cộng đồng OCOP; 5 homestay hướng tới tiêu chuẩn ASEAN (UBND huyện Bắc Sơn, 2024). Đến năm 2026, vẫn còn 3/12 cơ sở lưu trú chưa đủ điều kiện. Danh hiệu cấp làng vì thế không thay thế việc chuẩn hóa từng cơ sở về vệ sinh, an toàn, niêm yết giá, bảo hiểm và xử lý khiếu nại.

Tổ chức cộng đồng đã có bước tiến nhưng phạm vi hưởng lợi chưa được chứng minh đầy đủ. Hợp tác xã là đầu mối phù hợp để tiếp thị chung, phân phối đoàn, quản lý tài sản và tái đầu tư, song 18 thành viên chưa đại diện cho toàn bộ không gian cư trú. Nguồn công khai chưa cho biết tỷ lệ doanh thu giữ lại tại làng, mức chênh lệch giữa các hộ, tỷ lệ sử dụng nông sản địa phương hoặc cơ hội của những hộ không có điều kiện kinh doanh lưu trú. Đây không phải bằng chứng về bất bình đẳng, nhưng là khoảng trống quản trị. Chuyển đổi số cũng mới thiên về truyền thông trên mạng xã hội, trong khi chưa hình thành hệ thống đặt dịch vụ chung, theo dõi công suất, phân luồng khách, phản hồi cư dân và cảnh báo quá tải.

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI

Nhằm phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại làng Quỳnh Sơn, tỉnh Lạng Sơn, theo tác giả, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Trước hết, Quỳnh Sơn cần được quản lý như một không gian sống và cảnh quan văn hóa thống nhất. Quy hoạch vi mô phải xác định khu vực ưu tiên bảo tồn, tuyến đi bộ, điểm đỗ xe ngoài lõi, khu dịch vụ, không gian riêng tư và điểm có nguy cơ cháy. Quy chế kiến trúc cần quy định vật liệu, chiều cao, mái, màu sắc, biển hiệu và nguyên tắc cải tạo nhà sàn. Các hạng mục chỉnh trang mới phải được đánh giá tác động thị giác để không cạnh tranh với cấu trúc truyền thống. Đối với Then và các tri thức bản địa, cần có sự đồng thuận của chủ thể văn hóa, quy định về ghi hình, mức trả công và quyền từ chối thương mại hóa nội dung không phù hợp.

Thứ hai, phát triển sản phẩm phải chuyển từ bổ sung hoạt động rời rạc sang thiết kế trải nghiệm có chủ đề. Danh mục có thể tổ chức theo 3 lớp: “sống cùng làng” gồm lưu trú, bữa ăn gia đình và nhịp sản xuất; “học từ làng” gồm Then - đàn tính có diễn giải, ẩm thực, nghề truyền thống, nông nghiệp và y dược; “đi từ làng” gồm Nà Lay, tuyến địa chất, vườn quýt và di tích lịch sử. Mỗi sản phẩm cần xác định người phụ trách, thời lượng, số khách tối đa, quy trình an toàn, giá sàn và tỷ lệ trả cho người cung ứng. Liên kết các lớp trải nghiệm thành chương trình 2 ngày 1 đêm hoặc 3 ngày 2 đêm là giải pháp trực tiếp để kéo dài lưu trú và tăng chi tiêu tại địa phương.

Thứ ba, hạ tầng phải được ưu tiên theo nhu cầu vận hành, không chỉ theo khả năng tạo hình ảnh. Bãi đỗ xe ngoài khu lõi, vệ sinh công cộng, thoát nước, xử lý nước thải, phân loại rác, phòng cháy chữa cháy và biển chỉ dẫn cần được hoàn thiện trước khi mở rộng công suất lưu trú. Điểm đến phải thiết lập quy trình an toàn cho leo núi, chèo SUP, hoạt động ban đêm và đón đoàn đông. Chất lượng cần được kiểm tra định kỳ ở từng cơ sở; cơ sở chưa đủ điều kiện phải có lộ trình khắc phục rõ ràng. Việc tăng phòng chỉ nên được chấp thuận khi năng lực hạ tầng chung có thể đáp ứng.

Thứ tư, hợp tác xã cần phát triển từ đầu mối cung ứng thành thiết chế quản trị điểm đến. Điều lệ nên công khai tiêu chí thành viên, quyền biểu quyết, nguyên tắc phân đoàn, mức hoa hồng, sử dụng tài sản chung và cơ chế giải quyết khiếu nại. Danh mục nhà cung ứng địa phương cần bao gồm nông sản, ẩm thực, thủ công, biểu diễn, dẫn đường, vận chuyển và vệ sinh để tạo “cửa vào” cho các hộ không kinh doanh homestay. Cơ chế luân phiên đoàn, giá sàn và quỹ cộng đồng giúp hạn chế tập trung lợi ích. Một phần phí trải nghiệm có thể được đưa vào quỹ để bảo tồn nhà sàn, hỗ trợ nghệ nhân, cải thiện môi trường và đào tạo thanh niên.

Thứ năm, chuyển đổi số phải phục vụ quản trị thay vì chỉ quảng bá. Cổng thông tin chung cần tích hợp đặt phòng, lịch trải nghiệm, số chỗ còn lại, quy tắc ứng xử và cảnh báo thời tiết; hệ thống nội bộ cần theo dõi công suất, phân bổ đoàn, khiếu nại và chỉ báo môi trường. Mùa cao điểm có thể áp dụng đặt trước, trung chuyển xe và giới hạn quy mô đoàn. Khi giao thông, rác, tiếng ồn, an toàn hoặc sự hài lòng của cư dân vượt ngưỡng, Quỳnh Sơn cần giảm khách, đổi tuyến hoặc tạm dừng hoạt động.

Thứ sáu, hiệu quả cần được đo bằng bộ chỉ số cân bằng. Ngoài lượt khách và doanh thu, cần theo dõi độ dài lưu trú, chi tiêu, tỷ lệ mua tại địa phương, số hộ tham gia, mức hài lòng cư dân, lượng rác và nước trên khách, số ngày quá tải, tình trạng nhà sàn và khiếu nại được giải quyết. Dữ liệu tổng hợp nên được công khai theo quý để cộng đồng giám sát và điều chỉnh chính sách. Chỉ số chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng trong quyết định, không phải để báo cáo thành tích.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2024). Quyết định số 3222/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2024 phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam.

2. Quốc hội (2017). Luật Du lịch, số 09/2017/QH14, ngày 19/6/2017.

3. Scheyvens, R. (1999). Ecotourism and the empowerment of local communities. Tourism Management, 20(2), 245-249. https://doi.org/10.1016/S0261-5177(98)00069-7

4. UBND huyện Bắc Sơn (2024). Báo cáo kết quả triển khai, áp dụng tiêu chí OCOP đối với du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Bắc Sơn.

5. UBND tỉnh Lạng Sơn (2025). Làng văn hóa du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn-bản sắc được tỏa sáng. https://langson.gov.vn/tinchuyende/lang-van-hoa-du-lich-cong-dong-quynh-son-ban-sac-duoc-toa-sang.html

6. UBND tỉnh Lạng Sơn (2026). Quyết định số 427/QĐ-UBND ngày 12/3/2026 phê duyệt Đề án phát triển Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn và Hữu Liên, giai đoạn 2026-2027.

7. UBND xã Bắc Sơn (2026). Triển khai giải pháp phát triển du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn theo hướng bền vững. https://bacson.langson.gov.vn/tin-tuc-su-kien/du-lich/ubnd-xa-bac-son-trien-khai-giai-phap-phat-trien-du-lich-cong-dong-quynh-son-theo-huong-ben-vung.html

8. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1672/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lạng Sơn năm 2025. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-1672-nq-ubtvqh15-sap-xep-cac-dvhc-cap-xa-cua-tinh-lang-son-nam-2025-119250616214533435.htm

9. UNESCO (2019). Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, ngày 12/12/2019.

10. UNESCO (2025). Lang Son UNESCO Global Geopark. https://www.unesco.org/en/iggp/lang-son-unesco-global-geopark.

11. UN Tourism (Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc) (2025). Danh sách Làng du lịch tốt nhất năm 2025, ngày 17/10/2025, Hồ Châu, Chiết Giang, Trung Quốc.

Ngày nhận bài: 20/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/9/2026; Ngày duyệt đăng: 5/10/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.