Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi 15:59 | 09/10/2026
Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.

Đỗ Hoàng Thái

Email: [email protected]

Đậu Vĩnh Phúc

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Tóm tắt

Liên kết kinh tế là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của du lịch sinh thái. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Ninh Bình có không gian và nguồn lực du lịch đa dạng hơn, tạo điều kiện mở rộng các quan hệ liên kết. Dưới góc độ kinh tế chính trị, bài viết phân tích liên kết trong phát triển hạ tầng, tổ chức sản phẩm, đào tạo nhân lực và phân phối sản phẩm; chỉ ra rằng quy mô du lịch tăng nhanh nhưng chiều sâu liên kết giữa các chủ thể còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng nâng cao chất lượng liên kết và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

Từ khóa: Liên kết kinh tế, du lịch sinh thái, phát triển du lịch, quan hệ lợi ích, Ninh Bình

Abstract

Economic linkages are essential for improving the efficiency and sustainability of ecotourism development. Following the 2025 administrative reorganization of provincial-level units, Ninh Binh has gained a broader geographical scope and more diversified tourism resources, creating favorable conditions for expanding economic linkages. From a political economy perspective, this article analyzes linkages in infrastructure development, tourism product organization, human resource training, and product distribution. The findings indicate that although tourism has expanded rapidly, linkages among stakeholders remain limited in depth. On this basis, the article proposes strategic orientations for strengthening the quality of economic linkages and harmonizing the interests of the State, businesses, and local communities.

Keywords: Economic linkages, ecotourism, tourism development, interest relations, Ninh Binh

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, tỉnh Ninh Bình mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình (Quốc hội, 2025), tạo không gian du lịch đa dạng từ vùng di sản, núi đá vôi, rừng, đất ngập nước đến đồng bằng, làng nghề và ven biển. Năm 2026, Tỉnh đặt mục tiêu đón 20 triệu lượt khách, tổng thu 20.000 tỷ đồng; sau 7 tháng đã đón trên 18,727 triệu lượt khách, tổng thu hơn 19.348 tỷ đồng (Nguyễn Thơm, 2026). Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô du lịch mà còn phải nâng cao chất lượng liên kết, gia tăng giá trị và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI NINH BÌNH

Nội dung của liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái

Bài viết dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phân công lao động xã hội, hợp tác kinh tế và quan hệ lợi ích. C. Mác (1859) chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và phân công lao động xã hội. Khi phân công lao động phát triển, sự phụ thuộc và phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình sản xuất xã hội ngày càng gia tăng.

V.I. Lênin đặc biệt coi trọng các hình thức hợp tác và sự kết hợp lợi ích kinh tế, nhấn mạnh yêu cầu “kết hợp lợi ích tư nhân, lợi ích thương nghiệp tư nhân với việc nhà nước kiểm soát và kiểm tra lợi ích đó” (Lênin, 1923). Hồ Chí Minh đặt hoạt động kinh tế trong mục tiêu “ích quốc, lợi dân” (Hồ Chí Minh, n.d.), đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa các ngành và vai trò của hợp tác trong khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, huy động sức mạnh tập thể.

Việc vận dụng các nguyên lý kinh tế chính trị vào thực tiễn du lịch sinh thái, sự phân công lao động xã hội được cụ thể hóa thành cấu trúc chuỗi giá trị liên ngành. Khung phân tích sẽ tập trung vào 4 nội dung: liên kết trong phát triển kết cấu hạ tầng; tổ chức và cung ứng sản phẩm; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; phân phối sản phẩm du lịch sinh thái. Quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư được xem là yếu tố xuyên suốt, tác động trực tiếp đến tính ổn định và hiệu quả của liên kết.

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái xuất phát từ tính tổng hợp của sản phẩm du lịch. Một sản phẩm hoàn chỉnh là sự kết hợp của nhiều khâu như hạ tầng, vận tải, lưu trú, ăn uống, tham quan, trải nghiệm, quảng bá và phân phối. Giá trị của từng khâu chỉ được thực hiện đầy đủ khi tham gia vào một chuỗi liên kết tương đối thống nhất.

Đối với Ninh Bình, sự đa dạng về tài nguyên sau hợp nhất tạo điều kiện hình thành phân công theo không gian: vùng di sản phát triển du lịch văn hóa - sinh thái; khu vực nông thôn gắn du lịch với nông nghiệp, làng nghề; vùng ven biển phát triển sinh thái đất ngập nước, du lịch cộng đồng và nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, các lợi thế này chỉ có thể chuyển thành giá trị khi được kết nối thông qua hạ tầng, sản phẩm, nhân lực và thị trường.

Động lực của liên kết là lợi ích kinh tế. Nhà nước hướng tới tăng trưởng, việc làm và bảo vệ tài nguyên; doanh nghiệp hướng tới lợi nhuận, mở rộng thị trường; cộng đồng dân cư quan tâm đến thu nhập, sinh kế và khả năng hưởng lợi từ tài nguyên địa phương. Vì vậy, liên kết bền vững đòi hỏi vừa tạo ra giá trị gia tăng, vừa bảo đảm phân phối lợi ích hợp lý giữa các chủ thể.

Về cơ chế, liên kết được thực hiện chủ yếu trên 4 phương diện: kết hợp nguồn lực công và xã hội trong phát triển hạ tầng; kết nối các dịch vụ để hình thành chuỗi sản phẩm; phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng trong phát triển nhân lực; liên kết lữ hành, lưu trú, nền tảng số và xúc tiến trong phân phối sản phẩm.

Thực trạng liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch ở Ninh Bình đang được mở rộng cả về không gian, chủ thể và loại hình sản phẩm. Năm 2025, toàn tỉnh đón gần 19,42 triệu lượt khách, trong đó trên 2,2 triệu lượt khách quốc tế; tổng thu từ hoạt động du lịch đạt trên 21.278 tỷ đồng (Nguyễn Thị Phương Lan, 2026). Trong 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh đón trên 18,727 triệu lượt khách, tăng 23,34% so với cùng kỳ; tổng thu đạt trên 19.348 tỷ đồng, tăng 21,8%; khách nghỉ tại cơ sở lưu trú đạt trên 3,745 triệu lượt (Nguyễn Thơm, 2026).

Kết quả trên cho thấy dung lượng thị trường lớn, song cũng đặt ra yêu cầu chuyển từ tăng trưởng chủ yếu về lượng khách sang nâng cao giá trị trên mỗi khách, kéo dài thời gian lưu trú và phân bố hợp lý luồng khách.

Về liên kết phát triển kết cấu hạ tầng, một số khu vực trọng điểm đã được đầu tư với quy mô khá lớn. Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khu du lịch sinh thái Tràng An có tổng mức đầu tư trên 3.500 tỷ đồng; hạ tầng khu núi Chùa Bái Đính trên 3.000 tỷ đồng; dự án nạo vét tuyến giao thông thủy Bích Động - Hang Bụt - Thạch Bích - Thung Nắng trên 100 tỷ đồng. Năm 2025, toàn tỉnh có 846 cơ sở lưu trú (Nguyễn Thị Phương Lan, 2026).

Tuy nhiên, hạ tầng giữa các không gian phát triển chưa đồng đều. Các khu vực du lịch truyền thống có điều kiện tương đối thuận lợi, trong khi một số không gian mới, đặc biệt vùng ven biển và khu vực phát triển du lịch gắn với nông nghiệp, còn thiếu kết nối đồng bộ. Một số điểm du lịch sinh thái kết hợp kinh tế trang trại vẫn ở giai đoạn đầu, hạ tầng trải nghiệm chưa hoàn thiện, khách chủ yếu tham quan trong ngày (Nguyễn Thị Thu Trang, 2026).

Về liên kết tổ chức và cung ứng sản phẩm, xu hướng chuyển từ dịch vụ đơn lẻ sang tổ hợp dịch vụ ngày càng rõ. Toàn tỉnh hiện có 4 sân golf, từng bước được kết nối với lưu trú, nghỉ dưỡng, ẩm thực và vui chơi. Từ đầu năm đến tháng 7/2026, Legend Valley Country Club đón hơn 42.000 lượt khách; Legend Valley Hotel phục vụ trên 20.000 lượt khách; Công viên giải trí Bright Park đón khoảng 46.000 lượt khách. Còn tại khu vực ven biển, tuyến Thịnh Long - Quần Anh - Hành Thiện - Khu du lịch Giao Ninh kết nối biển, làng quê, di tích, văn hóa, ẩm thực và sản phẩm OCOP, thể hiện xu hướng chuyển từ khai thác điểm riêng lẻ sang hình thành chuỗi sản phẩm (Nguyễn Thơm, 2026).

Dù vậy, liên kết giữa du lịch với khu vực sản xuất địa phương còn hạn chế. Năm 2025, toàn tỉnh có 855 trang trại, tạo giá trị sản xuất gần 2.500 tỷ đồng nhưng mô hình trang trại kết hợp du lịch vẫn ở giai đoạn cực kỳ sơ khai, toàn tỉnh hiện chỉ có 3 trang trại tham gia du lịch nông nghiệp. Ninh Bình có 980 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, song khả năng đưa các sản phẩm này vào chuỗi du lịch chưa tương xứng. Quan hệ giữa trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú ở một số nơi còn lỏng lẻo, thậm chí dựa vào thỏa thuận ngắn hạn hoặc “hợp đồng miệng” (Nguyễn Thị Thu Trang, 2026). Điều này cho thấy điểm nghẽn không hẳn ở thiếu nguồn lực mà chủ yếu nằm ở khả năng kết nối nguồn lực vào chuỗi giá trị du lịch.

Về liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ khá cụ thể. Nghị quyết số 105/2023/NQ-HĐND quy định hỗ trợ 90% chi phí tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức du lịch, tối đa 50 triệu đồng/lớp; hỗ trợ đào tạo nghề du lịch cho người dân đủ điều kiện ở mức 4,5 triệu đồng/người/khóa (Nguyễn Thị Phương Lan, 2026).

Toàn tỉnh Ninh Bình hiện đang có trên 42.000 lao động tham gia trực tiếp và gián tiếp trong các lĩnh vực của du lịch (Hồng Quyên, 2025). Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là hạn chế. Một bộ phận lao động nông thôn, ven biển chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang dịch vụ còn yếu về nghiệp vụ, ngoại ngữ, quản trị và kỹ năng số. Liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp chưa sâu, ảnh hưởng đến khả năng cung ứng lao động có chất lượng cho các khâu giá trị cao.

Về liên kết phân phối và mở rộng thị trường, sự gia tăng lượng khách, khách lưu trú và tổng thu cho thấy kết nối giữa điểm đến, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và hoạt động xúc tiến đã phát huy hiệu quả nhất định. Ngành Du lịch đang định hướng liên kết vùng lõi di sản với Tam Chúc - Kim Bảng, các sân golf, khu nghỉ dưỡng và vùng ven biển nhằm xây dựng chương trình dài ngày, đồng thời tăng cường quảng bá tại các thị trường quốc tế (Nguyễn Thơm, 2026).

Hiện tỉnh có 15 khu, điểm du lịch được công nhận, gần 60 khu, điểm và địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch, 88 doanh nghiệp lữ hành (Thiên Anh, 2026). Tuy nhiên, việc mở rộng thị trường chưa đồng nghĩa với phân phối lợi ích tương xứng. Doanh nghiệp lớn và các chủ thể nắm giữ kênh phân phối thường có lợi thế ở những khâu giá trị cao, trong khi hộ dân và cơ sở sản xuất nhỏ chủ yếu cung cấp lao động, hàng hóa, ẩm thực hoặc dịch vụ tại chỗ. Tốc độ tăng khách nhanh cũng tạo sức ép lên tài nguyên, môi trường và sức chứa của điểm đến, đặt ra yêu cầu phải gắn lợi ích kinh tế với trách nhiệm bảo vệ và tái tạo tài nguyên.

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở TỈNH NINH BÌNH

Trên cơ sở thực trạng liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở Ninh Bình, bài viết đề xuất các giải pháp trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế điều phối liên kết trên toàn bộ không gian phát triển mới của tỉnh. Cần rà soát quy hoạch, xác định chức năng của từng không gian du lịch và hình thành các trục kết nối giữa vùng di sản, Tam Chúc - Kim Bảng, hệ thống sân golf, khu nghỉ dưỡng, nông nghiệp, làng nghề và vùng ven biển. Cơ chế phối hợp cần xác định rõ chủ thể, nguồn lực, trách nhiệm và lợi ích, hạn chế đầu tư trùng lặp và phát triển sản phẩm tương đồng.

Thứ hai, phát triển liên kết theo chuỗi giá trị, nhất là giữa du lịch với nông nghiệp, kinh tế trang trại, OCOP và làng nghề. Với 855 trang trại, gần 2.500 tỷ đồng giá trị sản xuất và 980 sản phẩm OCOP nhưng mới có 3 trang trại tham gia du lịch (Nguyễn Thị Thu Trang, 2026), dư địa liên kết còn rất lớn. Cần hình thành chuỗi giữa doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, hợp tác xã, trang trại và hộ dân; quy định rõ tiêu chuẩn, giá cả, phương thức cung ứng và trách nhiệm của các bên. Đồng thời, cần đưa OCOP, làng nghề và hoạt động sản xuất của người dân trở thành một bộ phận của trải nghiệm du lịch.

Thứ ba, nâng cao vị trí của cộng đồng dân cư gắn với phát triển nguồn nhân lực. Cần tạo điều kiện để người dân không chỉ tham gia với tư cách lao động mà trở thành chủ thể kinh doanh và đồng sáng tạo sản phẩm. Liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng cần tập trung vào nghiệp vụ, quản trị, ngoại ngữ, kỹ năng số, kiến thức sinh thái và văn hóa bản địa. Đồng thời, khuyến khích phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã du lịch nhằm tăng khả năng tham gia thị trường và sức thương lượng của cộng đồng.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết thị trường và chuyển đổi số gắn với bảo tồn tài nguyên. Cần tăng cường kết nối giữa khu, điểm du lịch với lữ hành, lưu trú, vận tải, nhà hàng, cơ sở OCOP và dịch vụ cộng đồng trên nền tảng số nhằm giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường và điều tiết luồng khách. Một phần giá trị tạo ra từ du lịch cần được tái đầu tư cho bảo tồn, bảo đảm Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Tiêu chí đánh giá hiệu quả phát triển du lịch cần chú trọng hơn đến thời gian lưu trú, mức chi tiêu, tỷ lệ lao động và sản phẩm địa phương tham gia chuỗi, thu nhập của cộng đồng và nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn, thay vì chỉ nhấn mạnh lượng khách và tổng thu.

Như vậy, liên kết kinh tế trong giai đoạn mới cần chuyển từ “liên kết để tăng lượng khách” sang “liên kết để tạo thêm giá trị, giữ lại giá trị và phân phối giá trị hiệu quả hơn”.

Tài liệu tham khảo:

1. HĐND tỉnh Ninh Bình (2023). Nghị quyết số 105/2023/NQ-HĐND về việc ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2023-2030.

2. Hồ Chí Minh (n.d.). Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Hồng Quyên (2025). Ninh Bình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. https://www.tinhuyninhbinh.vn/du-lich-ninh-binh/ninh-binh-nang-cao-chat-luong-nguon-50418

4. Lênin, V.I. (1923). Bàn về chế độ hợp tác xã. V.I. Lênin Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia.

5. Mác, C. (1859). Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa. C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia.

6. Nguyễn Thị Phương Lan (2026). Phát triển du lịch xanh của tỉnh Ninh Bình trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế xanh. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/phat-trien-du-lich-xanh-cua-tinh-ninh-binh-trong-boi-canh-chuyen-doi-kinh-te-xanh-155860.html

7. Nguyễn Thị Thu Trang (2026). Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình du lịch sinh thái kết hợp kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2025-2030. Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 9 năm 2026.

8. Nguyễn Thơm (2026). Du lịch Ninh Bình tăng tốc, phấn đấu về đích sớm kế hoạch năm 2026. https://baoninhbinh.org.vn/du-lich-ninh-binh-tang-toc-phan-dau-ve-dich-som-ke-hoach-nam-2026-260803080259326.html

9. Thiên Anh (2026). Ninh Bình đón hơn 18,7 triệu lượt khách trong 7 tháng. https://vneconomy.vn/ninh-binh-don-hon-187-trieu-luot-khach-trong-7-thang.htm

10. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Ngày nhận bài: 1/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 9/10/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.