Đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch biển đảo ở tỉnh Quảng Ninh

Nghiên cứu - Trao đổi 19:44 | 12/04/2026
Bài viết phân tích thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch biển đảo tại Quảng Ninh dựa trên các số liệu và báo cáo mới nhất của Tỉnh giai đoạn 2021-2025, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, hướng tới phát triển bền vững.

ThS. Đàm Thị Thư

Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ Quảng Ninh

Tóm tắt

Phát triển du lịch biển đảo được xác định là một trong những trụ cột then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Quá trình này tạo ra sự đan xen lợi ích đa chiều giữa các chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và khách du lịch. Bài viết phân tích thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch biển đảo tại Quảng Ninh dựa trên các số liệu và báo cáo mới nhất của tỉnh giai đoạn 2021-2025, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, hướng tới phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh và Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Từ khóa: Quan hệ lợi ích, du lịch biển đảo, phát triển bền vững, tỉnh Quảng Ninh

Abstract

The development of marine and island tourism has been identified as one of the key pillars in the socio-economic development strategy of Quang Ninh Province. This process creates a multidimensional interaction of interests among various stakeholders, including the State, enterprises, local communities, and tourists. This paper analyzes the current state of interest relations in the development of marine and island tourism in Quang Ninh Province, based on the most recent statistical data and official reports of the province for the 2021-2025 period. It identifies key achievements and existing limitations, and proposes several solutions to ensure a harmonious balance of interests among stakeholders, thereby promoting sustainable development in line with the Resolution of the 16th Congress of the Quang Ninh Provincial Party Committee and the Quang Ninh Provincial Master Plan for the 2021-2030 period, with a vision to 2045.

Keywords: Interest relations, marine and island tourism, sustainable development, Quang Ninh Province.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, sở hữu đường bờ biển dài trên 250 km với 2.077 hòn đảo, chiếm phần lớn số đảo của cả nước (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2025). Nơi đây có Vịnh Hạ Long được UNESCO 3 lần vinh danh là Di sản thiên nhiên thế giới, cùng Vịnh Bái Tử Long, quần đảo Cô Tô, Vân Đồn, Trà Cổ - những khu vực giàu tiềm năng phát triển du lịch biển đảo. Với lợi thế này, phát triển du lịch biển đảo đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, phát triển du lịch biển đảo không đơn thuần là vấn đề kinh tế - kỹ thuật mà còn là quá trình xã hội sâu sắc, làm nảy sinh các quan hệ lợi ích phức tạp giữa nhiều chủ thể. Bài viết vận dụng phương pháp luận của kinh tế chính trị và tiếp cận liên ngành, sử dụng các số liệu từ báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025, Đề án phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch kết nối khu vực và thế giới đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cùng các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, để phân tích thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch biển đảo ở Quảng Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần phát triển bền vững ngành kinh tế quan trọng này.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐẢO

Bản chất của quan hệ lợi ích trong lĩnh vực du lịch là sự kết nối giữa con người với nhau để thỏa mãn các nhu cầu đời sống, từ vật chất đến tinh thần. Nó được thể hiện qua sự phối hợp giữa các chủ thể trong toàn bộ chuỗi hoạt động, từ sản xuất đến tiêu dùng dịch vụ du lịch. Trong mối liên kết đó, lợi ích giữa các chủ thể vừa có tính tương đồng, vừa tiềm ẩn khả năng xảy ra xung đột. Trong phát triển du lịch biển đảo, có 4 nhóm chủ thể chính với những lợi ích đặc thù:

Một là, Nhà nước (chính quyền các cấp): Lợi ích của Nhà nước bao gồm tăng thu ngân sách từ các hoạt động du lịch; giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân; bảo tồn tài nguyên, môi trường; bảo đảm quốc phòng - an ninh trên vùng biển đảo; quảng bá hình ảnh địa phương.

Hai là, doanh nghiệp du lịch: Lợi ích cốt lõi là tối đa hóa lợi nhuận thông qua khai thác tài nguyên và phục vụ khách du lịch; mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu.

Ba là, cộng đồng dân cư địa phương: Lợi ích của cộng đồng bao gồm việc làm và thu nhập từ các hoạt động liên quan đến du lịch; cơ hội phát triển kinh tế hộ gia đình; bảo tồn bản sắc văn hóa và không gian sống; thụ hưởng từ cơ sở hạ tầng được đầu tư.

Bốn là, khách du lịch: Lợi ích của khách du lịch là được trải nghiệm chất lượng với chi phí hợp lý; được đảm bảo an toàn, an ninh; được tiếp cận với môi trường tự nhiên trong lành, văn hóa đặc sắc.

THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐẢO Ở TỈNH QUẢNG NINH

Những kết quả đạt được trong bảo đảm hài hòa lợi ích

Lợi ích kinh tế - xã hội

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh (2025), hoạt động du lịch Quảng Ninh năm 2025 đã ghi nhận sự phục hồi và bứt phá với 21,28 triệu lượt khách (tăng 12%), trong đó khách quốc tế tăng cao nhất ở mức 18,4%; tổng thu từ du lịch đạt 57.084 tỷ đồng, tăng gần 23% so với năm trước. Đáng chú ý, di sản vịnh Hạ Long tiếp tục là điểm sáng khi đón 3,4 triệu lượt khách, đóng góp hơn 988 tỷ đồng từ phí tham quan. Mức chi tiêu bình quân của du khách có sự cải thiện rõ rệt, đạt 2,68 triệu đồng/lượt, đặc biệt chi tiêu của khách nội địa tăng 11,25%. Thời gian lưu trú được duy trì ở mức 2,56 ngày. Về mặt kinh tế vĩ mô, ngành du lịch đóng góp 9,26% vào GRDP, tạo ra giá trị gia tăng 34.131 tỷ đồng và góp phần giải quyết việc làm cho hơn 54.000 lao động trong Tỉnh.

Những số liệu trên phản ánh rõ nét lợi ích kinh tế mà ngành du lịch nói chung và du lịch biển đảo nói riêng mang lại cho ngân sách địa phương, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của du lịch trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh.

Lợi ích của doanh nghiệp và nhà đầu tư

Nhờ tạo dựng được môi trường đầu tư thông thoáng và minh bạch, tỉnh Quảng Ninh đã thu hút thành công nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư vào du lịch biển đảo, thể hiện qua sự phát triển vượt bậc của hạ tầng dịch vụ. Tính đến năm 2025, toàn Tỉnh có 1.633 cơ sở lưu trú với 36.718 phòng, bao gồm 20 khách sạn 5 sao, 28 khách sạn 4 sao và 34 khách sạn 3 sao. Đặc biệt, đội tàu thủy lưu trú du lịch đã được nâng cấp mạnh mẽ với 96 tàu, trong đó nhiều tàu vỏ thép mới có công suất phòng lớn và dịch vụ cao cấp ngang tầm khách sạn 5 sao. Hệ thống lữ hành cũng phát triển sôi động với 133 công ty và chi nhánh (96 lữ hành quốc tế, 24 nội địa, 13 chi nhánh) cùng đội ngũ 2.722 hướng dẫn viên được cấp thẻ. Bước sang năm 2025, ngành du lịch Tỉnh tập trung khai thác mạnh các thị trường Đông Bắc Á, Trung Quốc, Ấn Độ, đồng thời tích cực hiện thực hóa các thỏa thuận hợp tác đã ký với Sở Văn hóa và Du lịch Quảng Tây, Trung Quốc (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, 2025),.

Lợi ích của cộng đồng dân cư ven biển, hải đảo

Một trong những thành công quan trọng của Quảng Ninh là tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng biển đảo thông qua phát triển du lịch. Theo UBND tỉnh Quảng Ninh (2024), thu nhập bình quân của người dân vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo trong Tỉnh năm 2023 ước đạt 6,112 triệu đồng/người/tháng, cao hơn 1,23 lần so với thu nhập bình quân cả nước. Đây là minh chứng rõ nét cho sự cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, đặc biệt tại các khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo. Kết quả này cũng góp phần giúp Quảng Ninh về đích trước 3 năm Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 theo chuẩn nghèo đa chiều của Chính phủ.

Tại các địa phương có thế mạnh du lịch biển đảo như phường Bãi Cháy, đặc khu Cô Tô, đặc khu Vân Đồn, nhiều mô hình du lịch cộng đồng đã được hình thành và phát triển. Đề án phát triển du lịch cộng đồng bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2024 đã được triển khai, góp phần nâng cao năng lực tham gia và hưởng lợi của người dân địa phương từ hoạt động du lịch.

Lợi ích của khách du lịch

Theo kết quả điều tra của Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2026), khách du lịch đến Quảng Ninh với mục đích chính là du lịch nghỉ ngơi, tham quan, vui chơi giải trí (chiếm 95,1% đối với khách lưu trú và 99,8% đối với khách tại các khu điểm). Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch năm 2025 cho thấy sự đa dạng trong trải nghiệm: ăn uống chiếm 28,6% (16.304 tỷ đồng), mua hàng hóa chiếm 25,5% (14.571 tỷ đồng), vận tải chiếm 12,0% (6.840 tỷ đồng), lưu trú chiếm 10,7% (6.096 tỷ đồng), tham quan chiếm 9,7% (5.564 tỷ đồng), vui chơi giải trí chiếm 7,8% (4.435 tỷ đồng). Những ấn tượng tốt nhất của khách du lịch về Quảng Ninh là phong cảnh đẹp (Vịnh Hạ Long được 31,3% khách lựa chọn), sự mến khách và chất lượng phục vụ của cơ sở lưu trú.

Những hạn chế, mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích

Bên cạnh những kết quả đạt được, quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch biển đảo ở Quảng Ninh vẫn tồn tại một số hạn chế và mâu thuẫn cần được nhận diện:

Thứ nhất, mất cân đối trong phân bổ lợi ích theo vùng. Mặc dù du lịch phát triển mạnh, nhưng sự phát triển hạ tầng và đầu tư du lịch chủ yếu tập trung ở các điểm nổi bật như Vịnh Hạ Long, trong khi nhiều khu vực có tiềm năng như Vịnh Bái Tử Long, các đảo xa vẫn chưa được đầu tư thỏa đáng, sản phẩm du lịch và hạ tầng phục vụ du lịch trên Vịnh Bái Tử Long còn thiếu. Điều này dẫn đến sự mất cân đối trong phân bổ nguồn lực và cơ hội phát triển, khiến lợi ích từ du lịch không lan tỏa đồng đều đến các địa phương ven biển, hải đảo.

Thứ hai, du lịch biển đảo phát triển, nhưng lợi ích từ các dự án lớn chưa thực sự lan tỏa mạnh mẽ vào cộng đồng địa phương. Các doanh nghiệp nhỏ thiếu vốn, hạ tầng phụ trợ ở vùng xa còn yếu, sản phẩm đẳng cấp quốc tế chưa nhiều.

Thứ ba, xung đột giữa lợi ích kinh tế trước mắt và bảo tồn lâu dài, Quảng Ninh đang phải đối mặt với những thách thức về môi trường. Hiệu quả thu gom, xử lý nước thải tại các khu đô thị ở Hạ Long cho thấy, hiệu quả còn thấp; bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long còn nhiều thách thức (Hoàng Nga, 2024). Vấn đề quản lý rác thải, nước thải, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm từ hoạt động khai thác than vẫn là những vấn đề nan giải.

Thứ tư, tính mùa vụ là thách thức rõ nét đối với du lịch biển đảo Quảng Ninh khi phần lớn hoạt động chỉ tập trung vào mùa Hè. Tiềm năng du lịch vào mùa Đông, sức sống của các khu phố đi bộ và các dịch vụ về đêm vẫn chưa thực sự được đánh thức để níu chân du khách. Hệ quả kéo theo là sự mất cân đối trong việc thụ hưởng lợi ích từ du lịch, cả về mặt thời gian lẫn không gian.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Nhằm bảo đảm hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển du lịch biển đảo ở Quảng Ninh, theo tác giả, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện thể chế, chính sách về phân phối lợi ích. Tỉnh Quảng Ninh cần xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách rõ ràng về phân phối lợi ích từ du lịch biển đảo. Cần nghiên cứu theo thẩm quyền ban hành, kiến nghị ban hành và thực thi chính sách ưu tiên đặc thù thúc đẩy mạnh mẽ du lịch cỉa Tỉnh. Đồng thời, xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư phát triển du lịch đẳng cấp, chất lượng cao, đặc biệt tại một số đảo và quần đảo trên cơ sở đảm bảo vững chắc quốc phòng - an ninh.

Hai là, xây dựng một danh mục sản phẩm du lịch vừa phong phú, vừa có chất lượng cao, qua đó tạo ra nhiều điểm đến và cơ hội kinh doanh mới. Cần tập trung đầu tư vào các dòng sản phẩm chủ lực như du lịch sinh thái biển đảo, nghỉ dưỡng cao cấp, giải trí hiện đại và các hành trình văn hóa tâm linh - vốn là những ưu thế nổi bật của Quảng Ninh.

Ba là, phát triển du lịch cộng đồng gắn với sinh kế bền vững. Cần nhân rộng các mô hình du lịch cộng đồng thành công, hỗ trợ cộng đồng về vốn, kỹ năng quản lý, tiếp thị để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thương lượng với các đối tác du lịch. Đồng thời, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của cư dân vùng biển đảo.

Bốn là, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế địa phương. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là thực hiện tốt các biện pháp ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái và giảm thiểu ô nhiễm từ rác thải nhựa. Đồng thời, cần khuyến khích phát triển các sản phẩm làng nghề, nông sản đặc trưng (OCOP) và nhân rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản gắn với hoạt động du lịch trải nghiệm, tạo thêm giá trị gia tăng cho cộng đồng.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực. Chuyển đổi số cần được triển khai với các trọng tâm như: xây dựng hệ thống dữ liệu số về điểm đến và cơ sở dịch vụ; phát triển các nền tảng tương tác số giúp du khách dễ dàng tiếp cận thông tin, chia sẻ trải nghiệm và gửi kiến nghị đến cơ quan quản lý. Song song đó, việc đầu tư vào các sản phẩm du lịch số và nâng cao chất lượng thống kê ngành cũng là những nhiệm vụ cần được ưu tiên.

Về nhân lực, cần có chiến lược tổng thể nhằm phát triển đội ngũ lao động du lịch lành nghề, gắn với nhu cầu thực tế của địa phương và doanh nghiệp. Khuyến khích khu vực tư nhân đồng hành trong đào tạo, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp thu các chương trình đào tạo tiên tiến, đặc biệt từ các tập đoàn quản lý du lịch hàng đầu thế giới.

Sáu là, tăng cường vai trò của Nhà nước trong điều tiết quan hệ lợi ích. Chính quyền Tỉnh cần đóng vai trò trung gian, điều tiết các quan hệ lợi ích thông qua: quy hoạch tổng thể phát triển du lịch biển đảo gắn với chiến lược phát triển kinh tế biển; thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường, xây dựng trái phép; xây dựng cơ chế đối thoại, thương lượng giữa các bên liên quan khi có xung đột lợi ích. Cần tăng cường các biện pháp bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh trật tự tại khu vực biên giới và hải đảo. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động xuất nhập cảnh của du khách qua các cửa khẩu và cảng biển quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Nga (2024). Hạ Long: Cần giải pháp hiệu quả xử lý nước thải đô thị. https://baoquangninh.vn/ha-long-can-giai-phap-hieu-qua-xu-ly-nuoc-thai-do-thi-3316413.html

2. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển du lịch Quảng Ninh năm 2025; phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.

3. Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2026). Báo cáo kết quả điều tra khách du lịch tại Quảng Ninh năm 2025.

4. UBND tỉnh Quảng Ninh (2025). Quyết định số 1169/QĐ-UBND ngày 17/4/2025 phê duyệt Đề án Phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch kết nối khu vực và thế giới đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

5. UBND tỉnh Quảng Ninh (2024). Kế hoạch số 177/KH-UBND ngày 6/8/2024 triển khai các giải pháp thu hút thêm 2 triệu lượt khách du lịch trong năm 2024.

Ngày nhận bài: 25/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 31/3/2026; Ngày duyệt đăng: 9/4/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tại Việt Nam: Các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị

Cấu trúc vốn là một trong những vấn đề trung tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ cho tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, khả năng sinh lời, mức độ tự chủ tài chính, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của doanh nghiệp.