​​​​​​​Đánh giá rủi ro chuỗi cung ứng bền vững ngành vải không dệt tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình kết hợp Fuzzy AHP và Fuzzy VIKOR

Nghiên cứu - Trao đổi 08:03 | 11/03/2026
Chuỗi cung ứng vải không dệt tại Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững của ngành. Do đó, quản trị rủi ro chuỗi cung ứng ngành vải không dệt là yêu cầu cấp thiết.

Nguyễn Minh Nhật

Khoa Kỹ thuật và Quản lý Công nghiệp,

Trường Công nghệ Văn Lang, Trường Đại học Văn Lang

Email: [email protected]

Dư Triệu Thảo

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Văn Lang

Email: [email protected]

Tóm tắt

Ngành vải không dệt tại Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng đáng kể nhờ vai trò là nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành then chốt và tính đa dạng của danh mục sản phẩm. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng của ngành vẫn đối mặt với nhiều rủi ro do mức độ lệ thuộc cao vào nguồn nguyên liệu, đặc thù công nghệ sản xuất phức tạp, cùng việc khó dự báo biến động thị trường. Để hỗ trợ quản trị các yếu tố rủi ro này, nghiên cứu đề xuất một khung ra quyết định đa tiêu chí, trong đó Fuzzy AHP được sử dụng để xác định trọng số các rủi ro, còn Fuzzy VIKOR được triển khai để xếp hạng các doanh nghiệp theo mức rủi ro tổng hợp. Kết quả cho thấy 3 nhóm rủi ro cần ưu tiên kiểm soát gồm: rủi ro cung ứng nguyên liệu, rủi ro nhu cầu thị trường và rủi ro hậu cần. Khung nghiên cứu này có khả năng hỗ trợ nhà quản trị trong việc phân bổ nguồn lực kiểm soát rủi ro theo thứ tự ưu tiên và lựa chọn chiến lược phù hợp với từng doanh nghiệp.

Từ khóa: Fuzzy AHP, Fuzzy VIKOR, MCDM, quản trị rủi ro, vải không dệt

Summary

The nonwoven fabric industry in Viet Nam possesses significant growth potential due to its role as an essential input for several key industries and the diversity of its product portfolio. However, the industry’s supply chain continues to face various risks, stemming from its high dependence on raw material sources, the complexity of production technologies, and the difficulty of forecasting market fluctuations. To support the management of these risks, this study proposes a multi-criteria decision-making framework. Specifically, the Fuzzy analytic hierarchy process (Fuzzy AHP) is employed to determine the weights of risk factors, while Fuzzy VIKOR is applied to rank firms according to their overall risk levels. The results indicate that three major categories of risks require priority control: raw material supply risk, market demand risk, and logistics risk. The proposed framework provides practical support for managers in allocating risk management resources according to priority levels and in selecting appropriate strategies tailored to individual firms.

Keywords: Fuzzy AHP, Fuzzy VIKOR, Multi-Criteria Decision-Making (MCDM), risk management, nonwoven fabrics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhờ các đặc tính kỹ thuật như độ bền, khả năng đáp ứng nhiều mục đích sử dụng khác nhau và mức độ tùy biến cao, vải không dệt đã trở thành nguyên liệu đầu vào quan trọng của nhiều lĩnh vực thiết yếu như y tế, thẩm mỹ, ô tô, nông nghiệp và vật liệu lọc (Su và cộng sự, 2023). Cùng với việc cải thiện mức sống và yêu cầu cao hơn về vệ sinh và an toàn y tế, nhu cầu đối với các sản phẩm vải không dệt có xu hướng gia tăng (Köklü và cộng sự, 2023). Tại Việt Nam, ngành vải không dệt đang mở rộng nhanh trong những năm gần đây, vừa phục vụ thị trường trong nước vừa gia tăng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, chuỗi cung ứng vải không dệt tại Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững của ngành. Ở thượng nguồn, sự phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu nhập khẩu khiến chuỗi cung ứng nhạy cảm trước các gián đoạn thương mại và biến động chi phí đầu vào (Gereffi, 2020). Ở hạ nguồn, nhu cầu có thể tăng đột biến trong các giai đoạn khủng hoảng y tế, kéo theo rủi ro gián đoạn cung ứng và mất cân đối cung cầu trong giai đoạn hậu khủng hoảng (Sigala và cộng sự, 2022). Ngoài ra, các doanh nghiệp trong ngành còn chịu áp lực rủi ro từ những yêu cầu tuân thủ quy định môi trường, hạn chế trong năng lực công nghệ và hệ thống quản lý chất lượng, áp lực tài chính, cùng những bất cập trong hệ thống quản trị và đội ngũ nhân sự. Do đó, quản trị rủi ro chuỗi cung ứng ngành vải không dệt là yêu cầu cấp thiết.

Hiện nay, các nghiên cứu về vấn đề này trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Nhằm khắc phục khoảng trống này, nghiên cứu đề xuất khung ra quyết định đa tiêu chí (MCDM), trong đó Fuzzy AHP được sử dụng để lượng hóa đánh giá của chuyên gia nhằm xác định trọng số các tiêu chí rủi ro; Fuzzy VIKOR được áp dụng để xếp hạng mức độ rủi ro tổng hợp giữa các doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quá trình ra quyết định, hỗ trợ nhà quản trị chuỗi cung ứng ngành vải không dệt tại Việt Nam thiết kế chiến lược ứng phó rủi ro và định hướng phát triển chuỗi cung ứng bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Quản trị rủi ro chuỗi cung ứng tập trung giảm thiểu các gián đoạn để duy trì tính liên tục của dòng vận hành (Ho và cộng sự, 2015). Khi tích hợp mục tiêu bền vững, Khung quản trị mở rộng theo nguyên tắc đồng thời xem xét các rủi ro kinh tế, môi trường và xã hội (Carter và Rogers, 2008). Tuy nhiên, đo lường rủi ro chuỗi cung ứng bền vững thường gặp khó khăn do các tiêu chí mang tính định tính và tồn tại mức độ mơ hồ trong đánh giá. Để khắc phục hạn chế này, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết tập mờ (Zadeh, 1965) nhằm nâng cao hiệu quả của khung ra quyết định đa tiêu chí thông qua 2 cấu phần:

- Fuzzy AHP (Fuzzy Analytic Hierarchy Process) (Buckley, 1985) được sử dụng để xác định trọng số rủi ro. So với AHP truyền thống dựa trên thang đo số nguyên (Saaty, 1980), Fuzzy AHP biểu diễn mức ưu tiên bằng số mờ tam giác, giúp lượng hóa nhất quán các nhận định ngôn ngữ và phản ánh tốt hơn tính bất định trong tư duy con người.

- Fuzzy VIKOR (Fuzzy VIseKriterijumska Optimizacija i KOmpromisno Resenje) (Opricovic, 2011) được triển khai nhằm lượng hóa và xếp hạng rủi ro tổng thể giữa các doanh nghiệp. Điểm ưu việt cốt lõi của VIKOR so với các phương pháp phổ biến khác nằm ở khả năng đề xuất giải pháp thỏa hiệp thông qua việc đồng thời tối đa hóa tiện ích nhóm và tối thiểu hóa sự hối tiếc cá nhân (Opricovic và Tzeng, 2004).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Xây dựng bộ tiêu chí rủi ro chuỗi cung ứng

Khung tiêu chí rủi ro chuỗi cung ứng được xây dựng từ kết quả rà soát tài liệu tham khảo và hiệu chỉnh thông qua tham vấn chuyên gia, được trình bày tại Bảng 1.

Bảng 1: Các tiêu chí rủi ro chuỗi cung ứng ngành vải không dệt tại Việt Nam

Tiêu chí

Ký hiệu

Nguồn tham khảo

1. Rủi ro cung ứng nguyên liệu

R1

Hằng và cộng sự, 2017

2. Rủi ro sản xuất

R2

3. Rủi ro chất lượng

R3

Ho và cộng sự, 2015

4. Rủi ro nhu cầu thị trường

R4

5. Rủi ro hậu cần

R5

Cavinato, 2004

6. Rủi ro tài chính

R6

Ivanov, 2024

7. Rủi ro hệ thống quản trị

R7

Christopher và Peck, 2004

8. Rủi ro môi trường

R8

Han và Um, 2024

9. Rủi ro nguồn nhân lực

R9

Gurtu và Johny, 2021

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu

Thiết kế khảo sát và thu thập dữ liệu

Cấu trúc nghiên cứu được minh họa tại Hình 1. Trên cơ sở cấu trúc này, khảo sát được thực hiện với 7 chuyên gia có kinh nghiệm về chuỗi cung ứng vải không dệt. Bảng câu hỏi gồm 2 phần: Phần 1 thu thập đánh giá so sánh cặp dưới dạng số mờ tam giác để xây dựng ma trận so sánh cặp mờ, từ đó suy ra trọng số của 9 tiêu chí rủi ro bằng phương pháp Fuzzy AHP; Phần 2 tiến hành đánh giá mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp theo từng tiêu chí, làm cơ sở tổng hợp và xếp hạng mức rủi ro tổng thể của các doanh nghiệp bằng Fuzzy VIKOR.

Hình 1: Khung Fuzzy AHP - Fuzzy VIKOR đánh giá rủi ro chuỗi cung ứng

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả xác định trọng số các tiêu chí rủi ro bằng Fuzzy AHP

Trọng số của 9 tiêu chí rủi ro chuỗi cung ứng ngành vải không dệt được xác định từ 7 bản đánh giá chuyên gia bằng Fuzzy AHP. Các phán đoán của chuyên gia được mô hình hóa dưới dạng số mờ tam giác, tổng hợp thành ma trận so sánh cặp tổng hợp, sau đó khử mờ và chuẩn hóa để suy ra trọng số. Ở cấp chuyên gia, các ma trận đều đạt mức nhất quán chấp nhận với CR trong khoảng 0,026-0,086 (CR < 0,10). Đối với ma trận tổng hợp, kiểm định trên ma trận khử mờ cho thấy λmax = 9,51, tương ứng CI = 0,063 và CR = 0,044 (RI = 1,45; n = 9), đáp ứng điều kiện sử dụng trong phân tích trọng số. Bảng 2 trình bày các đại lượng tính toán và trọng số cuối cùng sau chuẩn hóa.

Bảng 2: Kết quả tổng hợp, khử mờ và trọng số ưu tiên của các tiêu chí

Tiêu chí

GM(l)

GM(m)

GM(u)

Giá trị khử mờ

Trọng số (Wi)

Thứ hạng

R1

2,4328

3,3613

4,1891

0,2979

0,2714

1

R2

0,8557

1,1573

1,5389

0,1065

0,0970

4

R3

0,6237

0,8710

1,1975

0,0811

0,0739

5

R4

1,8651

2,5548

3,3028

0,2311

0,2105

2

R5

1,7354

2,2116

2,8893

0,2037

0,1856

3

R6

0,4120

0,4995

0,6211

0,0453

0,0413

7

R7

0,3365

0,4168

0,5333

0,0382

0,0348

8

R8

0,5168

0,6239

0,7706

0,0564

0,0514

6

R9

0,3378

0,4021

0,5229

0,0374

0,0341

9

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán và tổng hợp

Kết quả Fuzzy AHP cho thấy ba tiêu chí có trọng số vượt trội là Rủi ro cung ứng nguyên liệu (R1 = 0,2714), Rủi ro nhu cầu thị trường (R4 = 0,2105) và Rủi ro hậu cần (R5 = 0,1856), chiếm 0,6675 tổng trọng số, qua đó xác lập trọng tâm rủi ro nằm ở các khâu phụ thuộc mạnh vào điều kiện thị trường và sự thông suốt của dòng vật tư hàng hóa. Việc R1 đứng đầu hàm ý tính nhạy cảm cao của toàn bộ hệ thống trước gián đoạn nguyên liệu, từ biến động giá, thiếu hụt nguồn cung đến khác biệt chất lượng đầu vào; trong khi R4 và R5 có trọng số sát nhau cho thấy nhu cầu biến động và năng lực vận chuyển, lưu kho được xem là 2 yếu tố đồng thời quyết định mức độ ổn định của kế hoạch và hiệu quả đáp ứng. Ngược lại, Rủi ro sản xuất và Rủi ro chất lượng thuộc nhóm mức độ trung bình, cho thấy tuy quan trọng nhưng mức độ chi phối thấp hơn so với các nhóm rủi ro ưu tiên. Các nhóm còn lại gồm: Rủi ro môi trường, Rủi ro tài chính, Rủi ro hệ thống quản trị và Rủi ro nguồn nhân lực có trọng số thấp hơn, cho thấy trong bối cảnh hiện tại các yếu tố rủi ro này đóng vai trò hỗ trợ nhưng vẫn cần phải kiểm soát để không ảnh hưởng đến việc xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.

Kết quả xếp hạng mức rủi ro tổng thể của doanh nghiệp bằng Fuzzy VIKOR

Dữ liệu tổng hợp từ đánh giá của 7 chuyên gia được khử mờ để hình thành ma trận đánh giá rủi ro của 4 doanh nghiệp được trình bày tại Bảng 3. Quan sát dữ liệu cho thấy A2 có giá trị cao nhất trên toàn bộ tiêu chí, phản ánh mức độ rủi ro tổng thể cao nhất. Ngược lại, A3 có giá trị thấp nhất ở 7/9 tiêu chí (R1, R2, R3, R4, R6, R7, R8), trong khi A1 là tốt nhất ở R5 và R9.

Bảng 3: Ma trận đánh giá rủi ro sau khử mờ của các doanh nghiệp

Doanh nghiệp

R1

R2

R3

R4

R5

R6

R7

R8

R9

A1

3,71

5,29

5,43

4,86

4,29

5,57

5,29

5,43

4,57

A2

7,14

6,71

7,43

6,57

7,29

6,29

6,57

6,71

6,86

A3

3,57

4,57

4,71

3,71

4,57

4,14

5,14

4,43

5,14

A4

5,57

5,00

5,14

5,43

5,71

5,43

6,43

5,29

5,43

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán và tổng hợp

Trên cơ sở ma trận khử mờ, Fuzzy VIKOR với v = 0,5 cho ra 3 chỉ số gồm mức thiếu hụt tổng thể (S), mức thiếu hụt lớn nhất (R) và chỉ số thỏa hiệp (Q). Do các tiêu chí rủi ro được mô hình hóa theo hướng càng nhỏ càng tốt, doanh nghiệp có Q nhỏ hơn được xem là có mức rủi ro tổng thể thấp hơn; vì vậy hạng 1 tương ứng với mức rủi ro thấp nhất. Kết quả cho thấy A3 có Q nhỏ nhất nên đứng hạng 1 (ít rủi ro nhất), tiếp theo lần lượt là A1, A4 và A2; thứ tự theo S và R nhất quán với thứ tự theo Q (Bảng 4).

Bảng 4: Kết quả Fuzzy VIKOR và thứ hạng mức rủi ro tổng thể các doanh nghiệp

Doanh nghiệp

S

R

Q

Xếp hạng

A1

0,2004

0,0842

0,2206

2

A2

1,0000

0,2714

1,0000

4

A3

0,0262

0,0177

0,0000

1

A4

0,4861

0,1521

0,5011

3

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán và tổng hợp

Với 4 doanh nghiệp được phân tích, ngưỡng chênh lệch để xác nhận phương án dẫn đầu có ưu thế đủ lớn được xác định theo quy tắc VIKOR là DQ = 1/(m-1); với m = 4 suy ra DQ = 0,3333. Chênh lệch giữa doanh nghiệp hạng 2 và hạng 1 theo chỉ số thỏa hiệp là 0,2206, nhỏ hơn DQ, do đó điều kiện ưu thế chấp nhận được không được thỏa mãn. Tuy nhiên, A3 vẫn đồng thời đứng hạng 1 theo chỉ số thiếu hụt tổng thể và chỉ số thiếu hụt lớn nhất, nên thỏa điều kiện ổn định của nghiệm thỏa hiệp. Vì vậy, kết quả được báo cáo dưới dạng tập nghiệm thỏa hiệp gồm A3 và A1, đại diện cho nhóm doanh nghiệp có mức rủi ro chuỗi cung ứng thấp.

Kết quả cũng cho thấy A2 là doanh nghiệp rủi ro nhất do ghi nhận mức rủi ro cao trên toàn bộ tiêu chí. A3 là doanh nghiệp ít rủi ro nhất nhưng không tạo khoảng cách đủ rõ để kết luận trội tuyệt đối. Trật tự rủi ro tổng thể chịu chi phối chủ yếu bởi nhóm tiêu chí có trọng số lớn R1, R4 và R5: A1 bất lợi nổi bật ở R4 và đồng thời chịu tác động ở R2 và R6; A4 bất lợi đáng kể trên R1, R4 và R5 nên mức rủi ro tổng hợp cao hơn A1.

KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

Kết quả Fuzzy AHP - Fuzzy VIKOR cho thấy cấu trúc ưu tiên rủi ro trong chuỗi cung ứng vải không dệt tại Việt Nam chủ yếu chịu chi phối bởi 3 nhóm rủi ro trọng yếu gồm: Rủi ro nguyên liệu, Rủi ro nhu cầu và Rủi ro hậu cần. Vì vậy, các giải pháp quản trị nên ưu tiên phân bổ nguồn lực kiểm soát vào 3 nhóm này nhằm giảm mức rủi ro tổng thể. Theo kết quả xếp hạng, A3 là doanh nghiệp có mức rủi ro tổng thể thấp nhất; A1 có mức rủi ro gần tương đương và cùng A3 tạo thành tập phương án thỏa hiệp rủi ro thấp {A3, A1}. A4 nằm ở nhóm trung gian, trong khi A2 có mức rủi ro tổng thể cao nhất.

Trên cơ sở các kết quả phân tích, nhóm tác giả kiến nghị một số giải pháp quản trị rủi ro nhằm tăng cường tính bền vững của chuỗi cung ứng ngành vải không dệt tại Việt Nam. Theo đó:

Đối với rủi ro nguyên liệu, cần nâng cao độ tin cậy đầu vào thông qua đa dạng hóa nguồn cung, chuẩn hóa tiêu chuẩn nguyên liệu, đánh giá và xếp hạng nhà cung cấp định kỳ, thiết kế hợp đồng có cơ chế chia sẻ biến động giá, duy trì tồn kho an toàn và triển khai hệ thống cảnh báo sớm để kịp thời kích hoạt nguồn thay thế. Cùng với đó, doanh nghiệp nên tích hợp các tiêu chí môi trường vào quy trình lựa chọn và giám sát nhà cung cấp nguyên liệu, nhằm giảm rủi ro tuân thủ và cải thiện hiệu quả bền vững của chuỗi cung ứng.

Với rủi ro nhu cầu, cần cải thiện dự báo và ổn định kế hoạch bằng phân nhóm nhu cầu theo từng ngành và mức biến động, chính sách sản xuất linh hoạt theo dung sai sản lượng và hợp đồng khung, cùng cơ chế phân bổ khi thiếu hàng; giảm lãng phí bằng điều chỉnh danh mục sản phẩm theo hướng dễ tái sử dụng hoặc tái chế.

Với rủi ro hậu cần, cần tăng khả năng phục hồi bằng đa tuyến và đa nhà cung cấp dịch vụ hậu cần, chuẩn bị phương án thay thế cảng, kho, vận tải theo điểm nghẽn, chuẩn hóa chứng từ, theo dõi lô hàng; đồng thời tối ưu tải trọng, lộ trình và ưu tiên phương thức vận tải phát thải thấp để giảm rủi ro tuân thủ và nâng hiệu quả bền vững.

Hướng nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng dữ liệu và bối cảnh vận hành để phản ánh khác biệt theo khu vực, bổ sung phân tích nhạy cảm theo các kịch bản, đồng thời tích hợp dữ liệu thực để tăng độ tin cậy và khả năng khái quát của các khuyến nghị quản trị.

Tài liệu tham khảo:

1. Buckley, J. J. (1985). Fuzzy hierarchical analysis. Fuzzy Sets and Systems, 17(3), 233-247.

2. Carter, C. R., & Rogers, D. S. (2008). A framework of sustainable supply chain management: moving toward new theory. International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, 38(5), 360-387.

3. Cavinato, J. L. (2004). Supply chain logistics risks: From the back room to the board room. International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, 34(5), 383-387.

4. Christopher, M., & Peck, H. (2004). Building the resilient supply chain. The International Journal of Logistics Management, 15(2), 1-14.

5. Gereffi, G. (2020). What does the COVID-19 pandemic teach us about global value chains? The case of medical supplies. Journal of International Business Policy, 3(3), 287-301.

6. Gurtu, A., & Johny, J. (2021). Supply Chain Risk Management: Literature Review. Risks, 9(1), 16.

7. Han, N., & Um, J. (2024). Risk management strategy for supply chain sustainability and resilience capability. Risk Management, 26, 6.

8. Hằng, N. T. T., Lưu, D. T., & Loan, B. T. C. (2017). Các yếu tố rủi ro trong chuỗi cung ứng may mặc Việt Nam. Science and Technology Development Journal, 20(Q4), S62-S68.

9. Ho, W., Zheng, T., Yildiz, H., & Talluri, S. (2015). Supply chain risk management: a literature review. International Journal of Production Research, 53(16), 5031-5069.

10. Ivanov, D. (2024). Cash flow dynamics in the supply chain during and after disruptions. Transportation Research Part E: Logistics and Transportation Review, 185, 103526.

11. Köklü, R., Ateş, A., Deveci, E. Ü., & Sivri, N. (2023). Generic foresight model in changing hygiene habits with the pandemic: use of wet wipes in next generations. Journal of Material Cycles and Waste Management, 25, 74-85.

12. Opricovic, S. (2011). Fuzzy VIKOR with an Application to Water Resources Planning. Expert Systems with Applications, 38, 12983-12990.

13. Opricovic, S., & Tzeng, G. H. (2004). Compromise solution by MCDM methods: A comparative analysis of VIKOR and TOPSIS. European Journal of Operational Research, 156(2), 445-455.

14. Saaty, T. L. (1980). The Analytic Hierarchy Process: Planning, Priority Setting, Resource Allocation. McGraw-Hill, New York.

15. Sigala, I. F., Sirenko, M., Comes, T., & Kovács, G. (2022). Mitigating personal protective equipment (PPE) supply chain disruptions in pandemics-a system dynamics approach. International Journal of Operations & Production Management, 42(13), 128-154.

16. Su, X., Jia, C., Xiang, H., & Zhu, M. (2023). Research progress in preparation, properties, and applications of medical protective fiber materials. Applied Materials Today, 32, 101792.

17. Zadeh, L. A. (1965). Fuzzy sets. Information and Control, 8(3), 338-353.

Ngày nhận bài: 16/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/3/2026; Ngày nhận: 10/3/2026

Các tin khác

Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhà nước

Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhà nước

Chuyển đổi số đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức quản trị và hoạt động của doanh nghiệp, trong đó nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận, khai thác và chuyển hóa công nghệ thành hiệu quả tổ chức. Đối với doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu này càng cấp thiết khi doanh nghiệp vừa phải nâng cao hiệu quả hoạt động, vừa thích ứng với sự thay đổi nhanh của công nghệ và môi trường kinh doanh.
Nghiên cứu nhân tố tác động đến lòng trung thành thương hiệu: Tình huống nghiên cứu trong ngành thực phẩm

Nghiên cứu nhân tố tác động đến lòng trung thành thương hiệu: Tình huống nghiên cứu trong ngành thực phẩm

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, lòng trung thành thương hiệu trở thành một trong những tài sản quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì khách hàng, giảm chi phí thu hút khách hàng mới và củng cố vị thế trên thị trường
Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển; tạo cơ sở chính sách cho việc nghiên cứu các yếu tố công nghệ gắn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới

Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới

Đạo Đức Kinh của Lão Tử ra đời cách đây hơn 2.000 năm nhưng vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại. Tác phẩm không bàn về thuật mưu mẹo chính trị, mà tập trung xây dựng nền tảng đạo đức lãnh đạo và nghệ thuật quản trị con người, xã hội hài hòa, thuận theo quy luật tự nhiên (Đạo).
SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

Trong thương mại nông sản, việc cắt giảm thuế quan không đồng nghĩa với việc chi phí tiếp cận thị trường biến mất. Các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật và các hàng rào kỹ thuật trong thương mại, có thể làm thay đổi yêu cầu về chất lượng, kiểm nghiệm, chứng nhận, hồ sơ và tổ chức chuỗi cung ứng.
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Sự đứt gãy giữa dữ liệu kỹ thuật tại công trường và dữ liệu hạch toán khiến báo cáo chênh lệch chi phí có độ trễ lớn, giảm hiệu lực điều chỉnh. Do đó, sự phát triển của công nghệ số (BIM 5D, ERP) cùng xu hướng quản trị bền vững (ESG) mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp xây dựng.
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định an sinh xã hội giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò là lưới đỡ an toàn, công cụ phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh

Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh

Cảnh quan ngôn ngữ phản ánh bản sắc văn hóa, nâng cao trải nghiệm du khách và góp phần bảo tồn di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua ứng dụng công nghệ vào quy trình vận hành, quản trị và cung ứng dịch vụ. Việc ứng dụng các công nghệ số giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực quản trị rủi ro.
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số đổi mới dịch vụ tài chính, mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính chính thức cho các nhóm dân cư.