Đa dạng hóa thu nhập và rủi ro hoạt động: Bằng chứng từ các ngân hàng thương mại niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 17:17 | 29/10/2026
Để duy trì sức cạnh tranh và tối ưu hóa hiệu quả sinh lời, hệ thống ngân hàng đã và đang đẩy mạnh tái cấu trúc nguồn thu, mở rộng sang các dịch vụ phi tín dụng như dịch vụ thanh toán số, bảo hiểm qua ngân hàng, dịch vụ tư vấn tài chính và ngân hàng đầu tư.

Nguyễn Thanh Bình

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Lộc Phát Việt Nam; Email: [email protected]

Đàng Quang Vắng

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này kiểm định tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro hoạt động của 20 ngân hàng thương mại niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2020-2025. Nghiên cứu áp dụng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi làm mô hình ước lượng tối ưu sau khi đối chiếu với các phương pháp Pooled OLS, FEM và REM. Kết quả thực nghiệm cung cấp bằng chứng vững chắc về sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến hình chữ U giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro hoạt động. Cụ thể, trong giai đoạn đầu, đa dạng hóa ở mức độ vừa phải giúp các ngân hàng khai thác tối ưu tính kinh tế nhờ phạm vi, qua đó kéo giảm chi phí vận hành. Tuy nhiên, khi vượt qua ngưỡng tối ưu, sự phức tạp trong quản trị hệ thống và chi phí đại diện gia tăng sẽ làm rủi ro hoạt động tăng ngược trở lại. Bên cạnh đó, các yếu tố kiểm soát về quy mô ngân hàng, bộ đệm vốn và điều kiện vĩ mô đều thể hiện tác động đáng kể đến hiệu quả chi phí của hệ thống ngân hàng niêm yết.

Từ khóa: Đa dạng hóa thu nhập, rủi ro hoạt động, CIR, ngân hàng thương mại, phi tuyến tính

Abstract

This study examines the effect of income diversification on operational risk among 20 commercial banks listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) over the 2020-2025 period. Feasible generalized least squares (FGLS) is selected as the optimal estimation method after comparison with pooled ordinary least squares (Pooled OLS), the fixed effects model (FEM), and the random effects model (REM). The empirical results provide robust evidence of a nonlinear U-shaped relationship between income diversification and operational risk. Specifically, at the initial stage, moderate diversification enables banks to exploit economies of scope better, thereby reducing operating costs. However, beyond the optimal threshold, increased system management complexity and agency costs cause operational risk to rise again. In addition, control factors relating to bank size, capital buffers, and macroeconomic conditions have significant effects on the cost efficiency of the listed banking system.

Keywords: Income diversification, operational risk, cost-to-income ratio (CIR), commercial banks, nonlinearity

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh hội nhập tài chính toàn diện và xu hướng thu hẹp biên lãi ròng (NIM) từ mảng tín dụng truyền thống, các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam đang đứng trước áp lực chuyển dịch chiến lược mạnh mẽ. Để duy trì sức cạnh tranh và tối ưu hóa hiệu quả sinh lời, hệ thống ngân hàng đã và đang đẩy mạnh tái cấu trúc nguồn thu, mở rộng sang các dịch vụ phi tín dụng như dịch vụ thanh toán số, bảo hiểm qua ngân hàng, dịch vụ tư vấn tài chính và ngân hàng đầu tư. Chiến lược đa dạng hóa thu nhập này về mặt lý thuyết được kỳ vọng sẽ giúp ngân hàng phân tán rủi ro danh mục, gia tăng nguồn thu ổn định và cải thiện hiệu quả vận hành. Tuy nhiên, việc mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh phi truyền thống đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn vào hạ tầng công nghệ lõi, hệ thống quản trị rủi ro chuyên biệt và đội ngũ nhân sự chất lượng cao, qua đó đặt ra những thách thức chưa từng có đối với công tác quản trị chi phí và kiểm soát rủi ro hoạt động.

Từ góc độ học thuật, câu hỏi cốt lõi được đặt ra là liệu đa dạng hóa thu nhập tác động theo chiều hướng tuyến tính hay tồn tại một mối quan hệ phi tuyến? Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới thảo luận về cấu trúc thu nhập ngân hàng, song tại thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hậu đại dịch COVID-19 và những biến động kinh tế vĩ mô giai đoạn 2020-2025 các bằng chứng thực nghiệm chuyên sâu về tác động phi tuyến của đa dạng hóa đến rủi ro hoạt động vẫn còn để lại nhiều khoảng trống.

Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu lượng hóa chính xác tác động của đa dạng hóa thu nhập đến tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) của các NHTM niêm yết trên HOSE. Bằng việc áp dụng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) trên tập dữ liệu bảng cân bằng, nghiên cứu không chỉ cung cấp các hàm ý thực tiễn cho ban lãnh đạo ngân hàng trong việc thiết kế lộ trình mở rộng dịch vụ phi tín dụng, mà còn đóng góp thêm cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách an toàn vĩ mô.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết nền tảng

Mối quan hệ giữa cấu trúc thu nhập và rủi ro hoạt động của các tổ chức tín dụng được định hình bởi sự giao thoa của 3 luồng lý thuyết kinh tế học nền tảng:

Lý thuyết danh mục đầu tư của Markowitz (1952) lập luận rằng, việc kết hợp các tài sản hoặc dòng thu nhập có hệ số tương quan không hoàn hảo sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tổng thể của danh mục mà không làm hy sinh kỳ vọng sinh lời. Vận dụng vào lĩnh vực ngân hàng, thu nhập từ hoạt động tín dụng truyền thống và thu nhập ngoài lãi (phí, hoa hồng, kinh doanh ngoại tệ) thường chịu các tác động chu kỳ khác nhau. Việc gia tăng tỷ trọng thu nhập phi tín dụng được kỳ vọng sẽ làm ổn định dòng tổng thu nhập, qua đó hạn chế sự biến động của rủi ro hoạt động. Tuy nhiên, lý thuyết này vấp phải giới hạn khi áp dụng vào các nền kinh tế mới nổi, trong điều kiện khủng hoảng hoặc cú sốc vĩ mô toàn hệ thống, các dòng thu nhập thường có xu hướng hội tụ đồng pha (tương quan tăng mạnh), làm suy giảm đáng kể hiệu quả phòng ngừa rủi ro của danh mục.

Lý thuyết tính kinh tế nhờ phạm vi của Panzar và Willig (1981) khẳng định rằng, một tổ chức có thể đạt được hiệu quả chi phí biên thấp hơn khi cung cấp đồng thời nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ so với việc sản xuất độc lập, nhờ vào khả năng chia sẻ nguồn lực, hạ tầng công nghệ và cơ sở dữ liệu khách hàng. Đối với ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và nền tảng ngân hàng số sẵn có có thể được tận dụng tối đa để bán chéo các sản phẩm dịch vụ mới mà không làm phát sinh tương ứng chi phí cố định. Dù vậy, lý thuyết này thường bỏ qua chi phí chìm lớn ban đầu cho việc thiết lập hệ thống công nghệ và hành lang tuân thủ pháp lý. Nếu quy mô thị trường không đủ lớn để khai thác triệt để, chi phí khấu hao và vận hành sẽ lấn át hoàn toàn lợi ích biên của tính kinh tế nhờ phạm vi.

Lý thuyết chi phí đại diện và sự phức tạp tổ chức (Jensen và Meckling, 1976) cảnh báo rằng, khi ngân hàng mở rộng quá đà sang các mảng kinh doanh ngoại biên ngoài năng lực cốt lõi, cơ cấu tổ chức sẽ trở nên cồng kềnh, bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và ban điều hành gia tăng, từ đó thổi phồng chi phí đại diện và chi phí giám sát. Đây là cơ sở lý luận vững chắc nhất để giải thích cho mô hình quan hệ phi tuyến (hình chữ U): vượt qua ngưỡng đa dạng hóa tối ưu, những lợi thế ban đầu bị triệt tiêu hoàn toàn bởi sự quá tải trong bộ máy quản trị rủi ro, khiến rủi ro hoạt động và chi phí vận hành tăng nhanh.

Tổng quan nghiên cứu

Bức tranh thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập ghi nhận nhiều luồng quan điểm trái chiều trên quy mô toàn cầu:

Nhóm nghiên cứu ủng hộ lợi ích đa dạng hóa

Chandramohan và cộng sự (2022) khi nghiên cứu tại Ấn Độ đã chứng minh rằng đa dạng hóa chức năng, địa lý và danh mục cho vay giúp củng cố sự ổn định của ngân hàng. Tại khu vực ASEAN-5, Duong và cộng sự (2025) tìm thấy bằng chứng cho thấy đa dạng hóa thu nhập giúp giảm rủi ro thanh khoản và tăng cường năng lực hấp thụ cú sốc. Tại thị trường châu Phi, Filatie và Sharma (2024) nhấn mạnh rằng chiến lược đa dạng hóa mang lại hiệu quả vượt trội khi có sự hậu thuẫn của vốn trí tuệ. Tại Việt Nam, Phan và Cao (2023) sử dụng mô hình PVAR đã ghi nhận mối quan hệ nhân quả tích cực giữa đa dạng hóa và hiệu quả sinh lời (ROA).

Nhóm nghiên cứu cảnh báo “Chiết khấu đa dạng hóa”

Ngược lại với các kết quả trên, Bashir và cộng sự (2026) khi khảo sát các NHTM tại Bangladesh lại chỉ ra rằng, việc theo đuổi thu nhập phi tín dụng làm gia tăng rủi ro mất khả năng thanh toán do tính bất định cao của dòng thu ngoài lãi. Octavianus và cộng sự (2026) tại ASEAN cũng kết luận chiến lược đa dạng hóa thu nhập làm suy giảm mức độ ổn định do chi phí phát sinh vượt trội so với giá trị gia tăng.

Xu hướng nghiên cứu phi tuyến và các yếu tố quản trị hiện đại

Lahouel và cộng sự (2024) sử dụng mô hình PSTR tại châu Âu đã khẳng định sự tồn tại của tính phi tuyến (hình chữ U) trong mối quan hệ giữa cấu trúc thu nhập và sự ổn định của tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam như Trang và cộng sự (2025) cho thấy các đặc điểm quản trị doanh nghiệp (như sự tham gia của nữ giới trong hội đồng quản trị hay cấu trúc sở hữu tư nhân/nước ngoài) đóng vai trò điều tiết quan trọng đối với mức độ chấp nhận rủi ro và hiệu quả của các hoạt động phi truyền thống.

GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Dựa trên nền tảng lý thuyết và các kết quả thực nghiệm đa dạng từ các thị trường mới nổi và phát triển, nghiên cứu đề xuất 2 giả thuyết chính:

H1: Có mối quan hệ tuyến tính có ý nghĩa thống kê giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro hoạt động (đa dạng hóa giúp tối ưu hóa và làm giảm tỷ lệ CIR).

Giả thuyết này dựa trên kỳ vọng về tính kinh tế nhờ phạm vi và Lý thuyết danh mục đầu tư (Markowitz, 1952), nơi việc tận dụng hạ tầng sẵn có giúp giảm chi phí đơn vị (chi phí trung bình) và ổn định dòng tiền.

H2: Tồn tại mối quan hệ phi tuyến (hình chữ U) có ý nghĩa thống kê giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro hoạt động của các NHTM.

Dựa trên Lý thuyết chi phí đại diện và sự phức tạp tổ chức (Jensen và Meckling, 1976), nghiên cứu kỳ vọng rằng lợi ích của đa dạng hóa chỉ mang tính cục bộ. Khi vượt qua điểm uốn tối ưu, gánh nặng chi phí vận hành, chi phí tuân thủ và rủi ro quản trị sẽ lấn át lợi ích biên, khiến rủi ro hoạt động (CIR) tăng ngược trở lại.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu và nguồn thu thập

Nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu bảng cân bằng bao gồm 120 quan sát được thu thập và xử lý từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của 20 NHTM cổ phần niêm yết trên HOSE xuyên suốt giai đoạn 6 năm từ 2020-2025.

Đặc biệt, để kiểm soát toàn diện các biến động ngoại sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, nghiên cứu đã thu thập chuỗi dữ liệu vĩ mô chính thống bao gồm:

- Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội thực tế (GDP): Được thu thập từ cơ sở dữ liệu quốc gia của Cục Thống kê, phản ánh chu kỳ kinh tế và độ mở của thị trường tín dụng.

- Chỉ số giá tiêu dùng bình quân (CPI): Thu thập từ Cục Thống kê và báo cáo giám sát vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đại diện cho tỷ lệ lạm phát hàng năm để kiểm soát áp lực chi phí điều hành và chi phí nhân sự của hệ thống ngân hàng.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Để kiểm định đồng thời tác động tuyến tính và phi tuyến của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro hoạt động, nghiên cứu thiết lập phương trình hồi quy đa biến dạng dữ liệu bảng như sau:

CIRᵢₜ = β₀ + β₁DIVᵢₜ + β₂DIV²ᵢₜ + β₃SIZEᵢₜ + β₄CAPᵢₜ + β₅NPL_Ratioᵢₜ + β₆GDPₜ + β₇CPIₜ + εᵢₜ

Trong đó: i đại diện cho ngân hàng thứ i, t đại diện cho năm nghiên cứu (2020-2025); εᵢₜ là sai số ngẫu nhiên.

Đo lường các biến trong mô hình

Các biến số kinh tế lượng được định nghĩa chi tiết cùng kỳ vọng dấu tại Bảng 1 dưới đây.

Bảng 1: Thống kê các biến nghiên cứu

Tên biến

Ký hiệu

Phương pháp đo lường / Biểu thức tính toán

Kỳ vọng dấu

Rủi ro hoạt động

CIR

Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động (Operating Expenses/TOI)

Biến phụ thuộc

Đa dạng hóa thu nhập*

DIV

Chỉ số điều chỉnh Herfindahl-Hirschman: 1 - [(Net Interest / TOI)² + (Non Interest / TOI)²]

-

Bình phương đa dạng hóa

DIV²

Bình phương giá trị chỉ số đa dạng hóa (DIV × DIV)

+

Quy mô ngân hàng

SIZE

Logarit tự nhiên của tổng tài sản (ln(Total Assets))

-

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu

CAP

Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity / Total Assets)

-

Tỷ lệ nợ xấu

NPL_Ratio

Tỷ lệ dư nợ xấu (Nhóm 3, 4, 5) trên tổng dư nợ cho vay

+

Tăng trưởng kinh tế

GDP

Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế hàng năm

-

Lạm phát

CPI

Tỷ lệ lạm phát bình quân hàng năm

+

*Chỉ số đa dạng hóa thu nhập được đo lường thông qua chỉ số Herfindahl-Hirschman điều chỉnh (AHHI), được chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế lượng về ngân hàng bởi Stiroh (2004), Laeven và Levine (2007).

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả và kiểm định tương quan

Trước khi tiến hành hồi quy, tập dữ liệu được phân tích thống kê mô tả nhằm đánh giá các đặc trưng phân phối của mẫu nghiên cứu. Với 120 quan sát chuẩn hóa từ 20 ngân hàng trên sàn HOSE, các giá trị thống kê trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất được trình bày tại Bảng 2.

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình

Ký hiệu biến

Số quan sát (N)

Trung bình (Mean)

Độ lệch chuẩn (Std. Dev.)

Giá trị nhỏ nhất (Min)

Giá trị lớn nhất (Max)

CIR

120

0,373

0,098

0,221

0,874

DIV

120

0,341

0,071

0,168

0,485

DIV²

120

0,122

0,046

0,028

0,235

SIZE

120

33,743

0,920

31,679

35,742

CAP

120

0,090

0,029

0,049

0,171

NPL_Ratio

120

0,019

0,010

0,005

0,064

GDP

120

0,055

0,021

0,025

0,080

CPI

120

0,032

0,011

0,018

0,045

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ phần mềm Stata

Kết quả Bảng 1 cho thấy, tỷ lệ rủi ro hoạt động (CIR) trung bình toàn hệ thống đạt 37,3%, cho thấy các ngân hàng niêm yết duy trì hiệu quả chi phí tương đối tốt, song độ lệch chuẩn 0,098 phản ánh sự chênh lệch đáng kể về năng lực quản trị giữa các tổ chức tín dụng. Chỉ số đa dạng hóa (DIV) đạt trung bình 0,341, minh chứng rằng thu nhập lãi thuần vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhưng chiến lược dịch chuyển sang thu nhập ngoài lãi đang diễn ra ngày một rõ nét.

Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua ma trận tương quan Pearson và Hệ số nhân tử phương sai (VIF) cho kết quả VIF trung bình bằng 1,85 (tất cả các biến độc lập đều có VIF < 5), khẳng định mô hình hoàn toàn không gặp hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Kết quả hồi quy mô hình

Nhằm đảm bảo tính vững chắc của kết quả thực nghiệm, nghiên cứu tiến hành ước lượng qua 4 kỹ thuật kinh tế lượng bao gồm Pooled OLS, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM) và mô hình tối ưu cuối cùng là FGLS.

Bảng 3: Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy

Biến độc lập

Pooled OLS

FEM

REM

FGLS

(Mô hình tối ưu)

Cons

0,852***

0,912***

0,884***

0,865***

DIV

-0,315*

-0,428**

-0,385**

-0,452***

DIV²

0,380*

0,512**

0,465**

0,538***

SIZE

-0,018*

-0,025**

-0,021**

-0,024***

CAP

-0,152

-0,210**

-0,185*

-0,225***

NPL_Ratio

0,850**

1,120***

0,980***

1,050***

GDP

-0,012

-0,018*

-0,015*

-0,016**

CPI

0,008

0,014*

0,011

0,013**

Số quan sát

120

120

120

120

Kiểm định

R² = 0,42

F = 12,45***

LM test = 18,2***

Wald χ² = 145,8***

Ghi chú: *p < 0,1, **p < 0,05, ***p < 0,01

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ phần mềm Stata

Biện luận việc lựa chọn phương pháp ước lượng:

- Pooled OLS: Giả định các ngân hàng có cấu trúc đồng nhất, bỏ qua các đặc trưng cá thể không quan sát được theo thời gian, dễ dẫn đến hiện tượng chệch ước lượng.

- FEM và REM: Kiểm soát hiệu ứng cố định cá thể. Kết quả kiểm định Hausman cho giá trị p < 0,05, bác bỏ giả thuyết H₀ và xác nhận mô hình Fixed Effects Model (FEM) phù hợp hơn Random Effects.

- Lý do chuyển dịch sang FGLS: Mặc dù FEM đã kiểm soát tốt sai số cá thể, các kiểm định chẩn đoán chuyên sâu (gồm Modified Wald test kiểm tra phương sai thay đổi và Wooldridge test kiểm tra tự tương quan) phát hiện dữ liệu bảng vi phạm đồng thời cả 2 giả định quan trọng: Phương sai sai số thay đổi (do sự chênh lệch lớn về quy mô tài sản giữa các ngân hàng top đầu và nhóm nhỏ) và tự tương quan chuỗi thời gian. Do đó, nghiên cứu lựa chọn mô hình FGLS làm mô hình tối ưu cuối cùng. FGLS có khả năng khắc phục triệt để hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, mang lại các hệ số ước lượng có hiệu quả cao nhất và đáng tin cậy nhất.

Thảo luận

Dựa trên kết quả ước lượng từ mô hình FGLS tại Bảng 3, nghiên cứu ghi nhận các phát hiện những vấn đề sau:

Về tác động phi tuyến của đa dạng hóa thu nhập (giả thuyết H2)

Hệ số của biến DIV đạt mức -0,452 (p < 0,01) mang dấu âm, trong khi hệ số của bình phương đa dạng hóa (DIV²) đạt + 0,538 (p < 0,01) mang dấu dương. Kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc xác nhận giả thuyết H2: Mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro hoạt động (CIR) tuân theo đồ thị hình chữ U.

- Ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch cấu trúc thu nhập: Việc tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi giúp ngân hàng tối ưu hóa nguồn lực sẵn có, khai thác tối đa tính kinh tế nhờ phạm vi (Panzar và Willig, 1981) thông qua việc bán chéo sản phẩm trên nền tảng số và mạng lưới chi nhánh, qua đó kéo giảm đáng kể tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR).

- Khi vượt qua điểm uốn tối ưu: Nếu các ngân hàng tiếp tục mở rộng quá mức sang các dịch vụ phi truyền thống vượt quá năng lực kiểm soát, chi phí quản trị, chi phí đại diện và rủi ro tuân thủ (Jensen và Meckling, 1976) sẽ gia tăng đột biến, làm lấn át hoàn toàn lợi ích kinh tế ban đầu và đẩy rủi ro hoạt động tăng ngược trở lại. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với Lý thuyết chiết khấu đa dạng hóa và củng cố thêm các kết luận gần đây của Bashir và cộng sự (2026).

Về tác động của các biến kiểm soát vi mô

Biến quy mô ngân hàng (SIZE) có hệ số âm và có ý nghĩa thống kê (β = -0,024; p < 0,01), chứng minh các ngân hàng lớn có lợi thế kinh tế quy mô rõ rệt trong việc phân bổ chi phí cố định cho công nghệ và hạ tầng vận hành.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP) tác động nghịch chiều với CIR (β = -0,225; p < 0,01), phản ánh việc các ngân hàng có bộ đệm vốn lớn thường có chiến lược quản trị chi phí vốn hiệu quả hơn và ít chịu áp lực chi phí lãi vay đắt đỏ.

Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu (NPL_Ratio) tác động cùng chiều mạnh mẽ đến CIR (β = 1,050; p < 0,01), minh chứng rằng chất lượng tài sản suy giảm làm phát sinh chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và chi phí xử lý tài sản bảo đảm lớn, trực tiếp làm tăng rủi ro hoạt động của ngân hàng.

Về tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô

Biến tăng trưởng GDP tác động giảm CIR (β = -0,016; p < 0,05), cho thấy trong điều kiện kinh tế tăng trưởng cao, hoạt động kinh doanh mở rộng giúp doanh thu tăng trưởng nhanh hơn chi phí. Trong khi đó, lạm phát (CPI) tác động dương đến CIR (β = 0,013; p < 0,05), phản ánh áp lực lạm phát làm gia tăng chi phí hành chính, chi phí vật tư và tiền lương nhân sự trong toàn hệ thống.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro hoạt động (đo lường qua tỷ lệ CIR) của 20 NHTM niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2020-2025. Sử dụng mô hình ước lượng tối ưu FGLS, kết quả đã xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến hình chữ U. Điều này cho thấy, chiến lược dịch chuyển sang thu nhập phi tín dụng thực sự mang lại hiệu quả tối ưu hóa chi phí và phân tán rủi ro ở giai đoạn đầu nhờ tận dụng tính kinh tế nhờ phạm vi. Tuy nhiên, khi vượt quá điểm uốn tối ưu, sự phức tạp trong bộ máy quản trị, chi phí đại diện và áp lực tuân thủ sẽ làm tăng chi phí vận hành, khiến rủi ro hoạt động gia tăng trở lại. Bên cạnh đó, các yếu tố về quy mô ngân hàng, bộ đệm vốn, chất lượng tài sản (nợ xấu) và điều kiện vĩ mô (GDP, lạm phát) cũng đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả chi phí của hệ thống ngân hàng niêm yết.

Hàm ý quản trị

Từ các phát hiện thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị như sau:

Đối với các cơ quan quản lý

Một là, hoàn thiện hành lang pháp lý cho các dịch vụ tài chính mới. Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý cần tiếp tục rà soát, bổ sung các khung khổ pháp lý minh bạch đối với các hoạt động phi truyền thống (như tài chính số, bảo hiểm ngân hàng, dịch vụ fintech, dịch vụ tư vấn…), giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ cho các tổ chức tín dụng.

Hai là, giám sát thận trọng vĩ mô gắn với cấu trúc thu nhập. Trong bối cảnh lạm phát và chu kỳ kinh tế biến động, cơ quan quản lý cần theo dõi sát sao tỷ trọng thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa để kịp thời cảnh báo rủi ro hoạt động, đảm bảo sự ổn định chung của toàn hệ thống tài chính.

Đối với các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, kiểm soát ngưỡng đa dạng hóa tối ưu (tránh “bẫy” đa dạng hóa quá mức). Ban lãnh đạo ngân hàng cần nhận thức rõ rằng đa dạng hóa thu nhập không phải là chiến lược càng nhiều càng tốt. Ngân hàng cần xác định điểm uốn giới hạn của riêng mình tùy thuộc vào năng lực công nghệ và nhân sự, tránh việc chạy đua mở rộng ồ ạt sang các lĩnh vực phi truyền thống khi chưa đủ tiềm lực, tránh rơi vào hiệu ứng chiết khấu đa dạng hóa làm gia tăng chi phí vận hành.

Thứ hai, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và kiểm soát chi phí đại diện. Khi các mảng dịch vụ phi tín dụng (như: bảo hiểm, thanh toán số, tư vấn tài chính) phát triển, cấu trúc tổ chức sẽ trở nên phức tạp hơn. Do đó, ngân hàng cần chuẩn hóa hệ thống kiểm soát nội bộ, ứng dụng công nghệ tự động hóa quy trình (RPA, AI) vào công tác vận hành để kìm hãm đà tăng của chi phí quản lý và chi phí nhân sự.

Thứ ba, củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm vốn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ nợ xấu (NPL) làm tăng mạnh rủi ro hoạt động và chi phí. Do đó, ngân hàng phải luôn duy trì tiêu chuẩn tín dụng chặt chẽ, kiểm soát nợ xấu kết hợp với việc duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP) an toàn để tạo lá chắn vững chắc trước các biến động bất lợi từ vĩ mô.

Tài liệu tham khảo:

1. Bashir, M. A., Rahman, M. F., Anisuzzaman, M., Ismail, H. B., Tabassum, R., & Rahaman, M. (2026). The impact of bank revenue diversification on insolvency risk and profitability: An empirical analysis of the listed private commercial banks in Bangladesh. International Journal of Academic Research in Business & Social Sciences, 16(6), 668-685.

2. Chandramohan, K., Lunawat, C. D., & Lunawat, C. A. (2022). The impact of diversification on bank stability in India. Cogent Business & Management, 9(1), 2094590.

3. Duong, Q. N., Tran, N. T. K., & Dang, T. P. T. (2025). Income diversification and liquidity risk in ASEAN-5 banks: A Bayesian perspective. PLOS ONE, 20(3), e0316949.

4. Filatie, Y. S., & Sharma, D. (2024). The mediating role of intellectual capital on the nexus between diversification, financial stability and efficiency of commercial banks in Ethiopia. Managerial Finance, 50(9), 1681-1701.

5. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360.

6. Laeven, L., & Levine, R. (2007). Is there a diversification discount in financial conglomerates? Journal of Financial Economics, 85(2), 331-367.

7. Lahouel, B. B., Taleb, L., Zaied, Y. B., & Managi, S. (2024). Financial stability, liquidity risk and income diversification: evidence from European banks using the CAMELS-DEA approach. Annals of Operations Research, 334, 391-422.

8. Markowitz, H. (1952). Portfolio selection. The Journal of Finance, 7(1), 77-91.

9. Octavianus, H., Sadalia, I., Fachrudin, K. A., & Syahyunan. (2026). Income diversification, bank risks, and stability: Joint interaction effects. Quality - Access to Success, 27(211), 441-449.

10. Panzar, J. C., & Willig, R. D. (1981). Economies of scope. The American Economic Review, 71(2), 268-272.

11. Phan, T. H., & Cao, T. H. (2023). Mối quan hệ giữa đa dạng hóa, rủi ro và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam: Tiếp cận từ mô hình PVAR. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing, 14(1), 14-25.

12. Stiroh, K. J. (2004). Diversification in banking: Is noninterest income the answer? Journal of Money, Credit and Banking, 36(5), 853-882.

13. Trang, D. D., Oanh, D. L. K., Trang, L. N. T., & Wong, W. K. (2025). The determinants of non-traditional activities of Vietnamese commercial banks: The role of women, private sector and foreign investors. Asian Academy of Management Journal of Accounting and Finance, 21(1), 123-152.

Ngày nhận bài: 10/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 13/10/2026; Ngày duyệt đăng: 25/10/2026

Các tin khác

Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số

Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số

Sự bùng nổ của tự động hóa, học máy và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình bộ phận kế toán từ vận hành thủ công sang chiến lược số hóa.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post

Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp logistics trong bối cảnh khối lượng giao dịch gia tăng, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và yêu cầu về tốc độ, độ chính xác của dịch vụ ngày càng cao.
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa

Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa

Trong kinh tế du lịch, các quần thể di sản văn hóa vừa là tài sản cần bảo tồn, vừa là nguồn lực tạo doanh thu và giá trị cho điểm đến.
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai

Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai

Thực hành Kế toán doanh nghiệp đóng vai trò cốt lõi trong việc trang bị năng lực nghề nghiệp, bao gồm các hợp phần: Tin học, soạn thảo văn bản, Excel, khai báo thuế, phần mềm kế toán và chuỗi chứng từ - sổ - báo cáo.
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam

Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp xanh và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, quản lý sản xuất giống cây trồng là nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của ngành trồng trọt.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đã tạo ra áp lực mạnh mẽ, buộc xu hướng tiêu dùng phải chuyển dịch từ thời trang nhanh sang tiêu dùng xanh và phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.
Lãnh đạo chuyển đổi và cam kết chất lượng dịch vụ: Vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi tại các khách sạn Việt Nam

Lãnh đạo chuyển đổi và cam kết chất lượng dịch vụ: Vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi tại các khách sạn Việt Nam

Mặc dù tác động tích cực của lãnh đạo chuyển đổi tới hiệu suất đã được ghi nhận, song vai trò trung gian của cam kết tình cảm với thay đổi trong việc kết nối phong cách lãnh đạo này với cam kết chất lượng dịch vụ tại ngành khách sạn Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ.
Góc nhìn lý thuyết về động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của nhà quản lý

Góc nhìn lý thuyết về động cơ thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của nhà quản lý

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt và phụ thuộc mạnh vào thông tin tài chính, lợi nhuận kế toán là chỉ tiêu then chốt, phản ánh toàn diện kết quả kinh doanh và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Tác động của ứng dụng IoT đến hiệu quả vận hành kho xanh: Vai trò trung gian của năng lực khai thác dữ liệu IoT

Tác động của ứng dụng IoT đến hiệu quả vận hành kho xanh: Vai trò trung gian của năng lực khai thác dữ liệu IoT

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử làm gia tăng đồng thời yêu cầu về tốc độ xử lý đơn hàng, độ chính xác tồn kho, khả năng truy xuất theo thời gian thực và hiệu quả sử dụng năng lượng tại các trung tâm phân phối.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ cho vay tại Vietcombank - Chi nhánh Sóc Trăng

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ cho vay tại Vietcombank - Chi nhánh Sóc Trăng

Sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ cho vay phản ánh chất lượng phục vụ và là cơ sở để ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh.