Vai trò của nguồn lực tài chính trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu - Trao đổi 08:39 | 09/09/2026
Ở Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, bao quát nhiều nhóm đối tượng và nhiều lĩnh vực như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản.

ThS. Trần Thị Phương Lan

Khoa Lý luận chính trị, Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh

Email: lan.tranthiphuong@uah.edu.vn

Tóm tắt

Bài viết phân tích vai trò của nguồn lực tài chính trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở làm rõ ý nghĩa của nguồn lực tài chính đối với bảo đảm mức sống, mở rộng độ bao phủ và nâng cao khả năng ứng phó với các rủi ro xã hội; đánh giá những kết quả, hạn chế trong huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực; bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ, tăng cường minh bạch và bảo đảm tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội.

Từ khóa: Nguồn lực tài chính, chính sách an sinh xã hội, thực thi chính sách

Abstract

This article analyzes the role of financial resources in implementing social security policies in Viet Nam today. Based on clarifying the significance of financial resources in ensuring living standards, expanding coverage, and enhancing the capacity to respond to social risks, as well as assessing the achievements and limitations in mobilizing, allocating, and utilizing resources, the article proposes several solutions to diversify financial resources, improve allocation efficiency, enhance transparency, and ensure the sustainability of the social security system.

Keywords: Financial resources, social security policies, policy implementation

ĐẶT VẤN ĐỀ

An sinh xã hội là một trong những trụ cột quan trọng trong bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thúc đẩy phát triển bền vững. Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính sách an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, bao quát nhiều nhóm đối tượng và nhiều lĩnh vực như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), trợ giúp xã hội, giảm nghèo, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi các chính sách này phụ thuộc rất lớn vào khả năng huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính. Trong bối cảnh nhu cầu an sinh ngày càng gia tăng do già hóa dân số, biến đổi cơ cấu lao động, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và những tác động của chuyển đổi số, sức ép đối với ngân sách nhà nước cũng như các quỹ an sinh xã hội ngày càng lớn. Bên cạnh đó, tình trạng phân bổ nguồn lực chưa đồng đều, hiệu quả sử dụng ở một số chương trình còn hạn chế và khả năng huy động nguồn lực ngoài Nhà nước chưa tương xứng với tiềm năng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản trị tài chính an sinh xã hội. Vì vậy, nghiên cứu vai trò của nguồn lực tài chính trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Hiện nay, quy mô huy động và chi tiêu cho an sinh xã hội ở Việt Nam ngày càng được mở rộng, cơ cấu nguồn lực từng bước đa dạng hơn, tạo nền tảng quan trọng cho việc bảo đảm đời sống và phòng ngừa các rủi ro xã hội.

Nguồn lực từ ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò nền tảng và được ưu tiên đáng kể cho các chính sách an sinh xã hội. Ngân sách nhà nước trực tiếp bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công, giảm nghèo, cứu trợ đột xuất và hỗ trợ các nhóm yếu thế. Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025, tổng số tiền hỗ trợ cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng đạt gần 50.300 tỷ đồng; hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP hơn 34.200 tỷ đồng; hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và hộ chính sách xã hội gần 4.700 tỷ đồng; hỗ trợ bất thường phát sinh tại các địa phương hơn 3.200 tỷ đồng. Như vậy, riêng 4 nhóm hỗ trợ trên đã đạt hơn 92.000 tỷ đồng trong năm 2025. Cùng với việc tăng cường các nguồn lực hỗ trợ, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2025 còn khoảng 1,3%, giảm 1 điểm phần trăm so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026). Điều này cho thấy nguồn lực tài chính công tiếp tục đóng vai trò “bệ đỡ” quan trọng trong bảo đảm mức sống, hỗ trợ nhóm yếu thế và ứng phó với các rủi ro xã hội.

Cùng với đó, nguồn lực tài chính từ các quỹ BHXH, BHYT, BHTN ngày càng được củng cố, tạo thêm một trụ cột tài chính quan trọng bên cạnh ngân sách nhà nước. Năm 2025, số người tham gia BHXH đạt 21,530 triệu người, tăng khoảng 1,67 triệu người so với năm 2024; số người tham gia BHYT đạt 97,395 triệu người, tương đương 95,16% dân số. Đáng chú ý, tổng số tiền thu BHXH, BHYT lũy kế trong năm 2025 đạt khoảng 630,935 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán Chính phủ giao (BHXH Việt Nam, 2026). Sự gia tăng cả về số người tham gia và quy mô thu cho thấy khả năng huy động nguồn lực dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ rủi ro ngày càng được nâng lên, qua đó từng bước giảm áp lực phải tài trợ trực tiếp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện bảo đảm tính ổn định và bền vững hơn của hệ thống an sinh xã hội.

Thực tế cho thấy, nguồn lực tài chính huy động được đã chuyển hóa thành các khoản chi trả và dịch vụ an sinh trực tiếp cho người dân. Ước năm 2025, hệ thống BHXH đã giải quyết cho 186.119 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng; hơn 1,044 triệu người hưởng các chế độ BHXH một lần; trên 9,098 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức và phục hồi sức khỏe. Đặc biệt, cả nước có khoảng 195,5 triệu lượt khám, chữa bệnh BHYT, với chi phí đề nghị thanh toán khoảng 161,628 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3% so với năm 2024 (BHXH Việt Nam, 2026). Những con số này phản ánh vai trò thiết thực của nguồn lực tài chính trong việc biến các cam kết chính sách thành quyền lợi cụ thể, góp phần thay thế thu nhập khi người lao động gặp rủi ro và giảm gánh nặng chi phí y tế cho người dân.

Cơ cấu nguồn lực tài chính cho an sinh xã hội từng bước được đa dạng hóa, với sự kết hợp giữa ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, các quỹ bảo hiểm và nguồn lực xã hội hóa. Theo thông tin được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Nhà nước đã dành gần 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho an sinh xã hội. Bên cạnh nguồn lực công, trong giai đoạn 2012-2021, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên đã tiếp nhận hơn 57.318 tỷ đồng đóng góp từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước; trong đó, hơn 12.394 tỷ đồng được huy động qua Quỹ “Vì người nghèo” và trên 44.923 tỷ đồng được hỗ trợ trực tiếp cho các chương trình an sinh xã hội tại địa phương (Bùi Sỹ Lợi, 2023). Mặc dù đây là số liệu tích lũy của giai đoạn trước, nhưng kết quả này cho thấy nền tảng xã hội hóa nguồn lực cho an sinh xã hội đã được hình thành tương đối rõ nét, góp phần bổ sung cho nguồn lực Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nguồn lực tài chính cho thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam vẫn bộc lộ 3 hạn chế chủ yếu.

Thứ nhất, độ bao phủ BHXH chưa tương xứng với quy mô lực lượng lao động. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH mới đạt khoảng 45,1%, BHTN khoảng 35,07% (BHXH Việt Nam, 2026). Điều đó cho thấy một bộ phận lớn người lao động, nhất là lao động khu vực phi chính thức, vẫn chưa tham gia đầy đủ các cơ chế bảo hiểm và chưa tạo lập được nguồn tài chính dự phòng trước các rủi ro về tuổi già, mất việc làm hay suy giảm thu nhập.

Thứ hai, khả năng đáp ứng của nguồn lực tài chính đối với nhu cầu an sinh ngày càng lớn vẫn còn hạn chế. Quá trình già hóa dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường lao động và tỷ trọng lao động phi chính thức cao làm gia tăng nhu cầu chi, trong khi mức trợ giúp đối với một số nhóm đối tượng vẫn chưa đủ mạnh để bảo đảm mức sống tối thiểu một cách bền vững.

Thứ ba, việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực còn có biểu hiện phân tán, thiếu liên kết và chưa đồng đều giữa các địa phương. Khả năng cân đối ngân sách, huy động nguồn lực xã hội hóa và mức hỗ trợ bổ sung giữa các địa phương có sự khác biệt; sự kết nối giữa ngân sách nhà nước, các quỹ bảo hiểm và các nguồn xã hội hóa chưa thật sự đồng bộ. Nguồn lực đầu tư của Nhà nước và xã hội còn hạn chế, hiệu quả huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực ở một số nơi, một số lĩnh vực chưa cao, đồng thời chưa liên kết tốt nguồn lực của các chính sách an sinh với nguồn lực xã hội hóa (Bùi Sỹ Lợi, 2023).

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Để phát huy đầy đủ vai trò của nguồn lực tài chính trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội theo hướng đồng bộ, minh bạch và bền vững. Rà soát, hoàn thiện các quy định về ngân sách nhà nước, BHXH, BHYT, BHTN, trợ giúp xã hội và giảm nghèo để khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo giữa các chương trình, chính sách và nguồn kinh phí. Việc xây dựng chính sách cần gắn chặt quyền lợi an sinh với khả năng cân đối nguồn lực trong trung hạn và dài hạn. Xác định rõ trách nhiệm tài chính của Trung ương, địa phương, doanh nghiệp, người lao động và các chủ thể xã hội; tăng tính chủ động cho chính quyền địa phương nhưng phải gắn với các tiêu chuẩn tối thiểu thống nhất trên phạm vi cả nước, qua đó hạn chế sự chênh lệch về mức hưởng an sinh giữa các vùng, miền.

Hai là, đa dạng hóa và mở rộng các nguồn lực tài chính cho an sinh xã hội, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào ngân sách nhà nước. Tiếp tục ưu tiên một tỷ lệ ngân sách phù hợp cho các nhiệm vụ an sinh thiết yếu, Nhà nước cần tạo cơ chế thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng và người dân vào quá trình huy động nguồn lực. Khuyến khích phát triển các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tài chính cộng đồng và các hình thức hợp tác công - tư trong cung cấp một số dịch vụ xã hội phù hợp. Mở rộng diện tham gia BHXH tự nguyện, BHYT và BHTN đối với lao động phi chính thức, lao động tự do và các nhóm có thu nhập không ổn định. Nhà nước có thể thiết kế mức hỗ trợ đóng linh hoạt hơn đối với người thu nhập thấp, qua đó chuyển dần từ cơ chế hỗ trợ hoàn toàn bằng ngân sách sang cơ chế cùng đóng góp, cùng chia sẻ rủi ro, tạo nguồn tài chính ổn định và lâu dài cho hệ thống.

Ba là, đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính theo hướng lấy hiệu quả và mức độ bao phủ an sinh làm tiêu chí trọng tâm. Nguồn lực cần được ưu tiên cho những nhóm dễ bị tổn thương, địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, khu vực chịu nhiều tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và những nhóm có nguy cơ rơi vào nghèo đói hoặc mất thu nhập. Chuyển mạnh từ phương thức phân bổ bình quân, dựa chủ yếu vào đầu vào sang phân bổ theo kết quả đầu ra, mức độ hoàn thành mục tiêu và hiệu quả thực tế của chương trình. Mỗi chương trình an sinh cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu cụ thể như số người được bao phủ, mức cải thiện thu nhập, khả năng tiếp cận y tế, giáo dục, nhà ở, việc làm và mức giảm nghèo bền vững. Tích hợp các chương trình có mục tiêu gần nhau, hạn chế phân tán nguồn vốn và giảm chi phí hành chính, qua đó dành nhiều nguồn lực hơn cho đối tượng thụ hưởng trực tiếp.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai, minh bạch và tăng cường kiểm tra, giám sát việc quản lý nguồn lực tài chính an sinh xã hội. Xây dựng cơ sở dữ liệu an sinh xã hội thống nhất, kết nối dữ liệu dân cư, bảo hiểm, thuế, lao động, hộ nghèo và trợ giúp xã hội để xác định đúng đối tượng, đúng mức hưởng và hạn chế trùng lặp chính sách. Việc chi trả trợ cấp, hỗ trợ xã hội cần từng bước thực hiện qua tài khoản, nền tảng số hoặc các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt nhằm giảm chi phí trung gian, nâng cao khả năng truy vết và kiểm soát dòng tiền. Phải công khai dự toán, phân bổ, giải ngân và kết quả sử dụng nguồn lực; tăng cường thanh tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức xã hội và Nhân dân. Cần xử lý nghiêm các hành vi trục lợi chính sách, thất thoát, chi sai đối tượng hoặc sử dụng nguồn lực kém hiệu quả.

Năm là, tăng cường năng lực dự báo và bảo đảm an toàn tài chính dài hạn của hệ thống an sinh xã hội. Nâng cao chất lượng dự báo thu - chi các quỹ bảo hiểm, thường xuyên đánh giá khả năng cân đối quỹ, xây dựng quỹ dự phòng cho các tình huống khẩn cấp và chủ động bố trí nguồn tài chính ứng phó với thiên tai, dịch bệnh, thất nghiệp quy mô lớn. Đồng thời, nâng cao hiệu quả đầu tư các quỹ an sinh theo nguyên tắc an toàn, minh bạch, bảo toàn và phát triển vốn.

Thực hiện đồng bộ 5 giải pháp trên sẽ giúp nguồn lực tài chính không chỉ đóng vai trò bảo đảm kinh phí mà còn trở thành công cụ quan trọng để mở rộng độ bao phủ, nâng cao chất lượng thực thi chính sách, tăng khả năng chống chịu của người dân trước rủi ro và củng cố tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

KẾT LUẬN

Nguồn lực tài chính giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, quyết định khả năng mở rộng độ bao phủ, bảo đảm quyền lợi và nâng cao mức sống của người dân. Thực tiễn cho thấy nguồn lực cho an sinh xã hội ngày càng được tăng cường và đa dạng hóa, song vẫn tồn tại những hạn chế về khả năng huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính, mở rộng nguồn lực xã hội, nâng cao tính minh bạch và bảo đảm an toàn, bền vững cho hệ thống an sinh xã hội trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2026). Báo cáo số 01/BC-CTK ngày 5/1/2026, Tình hình Kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.

2. BHXH Việt Nam (2026). Tạo nền tảng vững chắc, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu, phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp năm 2026. https://hungyen.baohiemxahoi.gov.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=6150&IsTA=False.

3. Bùi Sỹ Lợi (2023). Góc nhìn: an sinh xã hội phải bảo đảm ổn định và phát triển. https://quochoi.vn/pages/tim-kiem.aspx?ItemID=83459

Ngày nhận bài: 3/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/9/2026; Ngày duyệt đăng: 8/9/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"