Tín chỉ carbon rừng Lâm Đồng: Thực trạng, tiềm năng và mức độ sẵn sàng tham gia thị trường carbon giai đoạn 2026-2030
TS. Đào Dũng Trí
Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Lâm Đồng
Lê Văn Trung
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng
PGS.TS. Nguyễn Văn Anh (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Đà Lạt
Email: [email protected]
Tóm tắt
Sau hợp nhất hành chính 3 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận, tỉnh Lâm Đồng hiện có 1.112.836 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 45,91% (theo Quyết định số 690/QĐ-UBND ngày 27/02/2026), trong đó rừng tự nhiên chiếm 930.156 ha với cơ cấu đa dạng: rừng lá rộng, rừng lá kim, rừng hỗn giao và rừng tre nứa, tạo tiềm năng đáng kể cho phát triển carbon rừng. Bài viết phân tích thực trạng tài nguyên rừng, đánh giá tiềm năng carbon trên cơ sở cơ cấu trạng thái rừng, xem xét bối cảnh pháp lý trong nước và quốc tế cùng tiến trình 2 Chương trình ERPA (Thỏa thuận mua bán giảm phát thải) Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, từ đó đánh giá mức độ sẵn sàng của tỉnh Lâm Đồng về thể chế, dữ liệu, năng lực kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn tham gia thị trường carbon. Kết quả cho thấy Lâm Đồng đã hình thành nền tảng quan trọng thông qua PFES, REDD+ và việc tham gia Chương trình ERPA Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, song hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), cơ sở dữ liệu carbon và cơ chế chia sẻ lợi ích vẫn cần tiếp tục hoàn thiện; đồng thời phải đối mặt với áp lực chuyển đổi đất rừng, vi phạm pháp luật lâm nghiệp và rủi ro cháy rừng lá kim. Nghiên cứu nhận định giai đoạn 2026-2030 chủ yếu là giai đoạn xây dựng nền tảng cho kinh tế carbon hơn là giai đoạn tạo nguồn thu lớn từ tín chỉ carbon, trong đó chất lượng dữ liệu, năng lực của hệ thống MRV cũng như mức độ sẵn sàng của các chủ thể sẽ quyết định khả năng tham gia hiệu quả thị trường carbon trong tương lai.
Từ khóa: Tín chỉ carbon, carbon rừng, thị trường carbon, ERPA, ART-TREES, MRV, Lâm Đồng, kinh tế xanh
Abstract
Following the administrative merger of Lam Dong, Dak Nong, and Binh Thuan provinces, Lam Dong Province now possesses 1,112,836 hectares of forest, with a forest coverage rate of 45.91% (Decision No. 690/QD-UBND dated February 27, 2026). Natural forests cover 930,156 hectares and comprise a diverse range of forest types, including broadleaf, coniferous, mixed, and bamboo forests, offering considerable potential for forest carbon development. This study analyzes the current status of forest resources, assesses forest carbon potential based on forest composition and conditions, examines the domestic and international regulatory framework, and reviews the implementation of the North Central Region and the South Central Highlands Emission Reduction Payment Agreement (ERPA) programs. It further evaluates the province's readiness across institutional capacity, data availability, technical capability, and practical experience. The findings indicate that Lam Dong has established an important foundation through the Payment for Forest Environmental Services (PFES) scheme, REDD+ initiatives, and its participation in the South Central Highlands ERPA program. However, the Measurement, Reporting, and Verification (MRV) system, forest carbon databases, and benefit-sharing mechanisms require further improvement. The province also faces challenges related to forest land conversion, violations of forestry regulations, and the increasing risk of wildfires in coniferous forests. The study concludes that the 2026–2030 period should primarily be regarded as a foundation-building phase for the forest carbon economy rather than a period of substantial carbon credit revenue generation. The quality of forest carbon data, the effectiveness of the MRV system, and the preparedness of relevant stakeholders will be critical determinants of Lam Dong's future participation in carbon markets.
Keywords: Carbon credits, forest carbon, carbon market, ERPA, ART-TREES, MRV, Lam Dong, green economy
BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC
Hiệp định Paris năm 2015, đặc biệt Điều 6, thiết lập khuôn khổ hợp tác quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, cho phép chuyển giao kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon giữa các quốc gia nhằm hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không. Trên nền tảng đó, các công cụ thị trường carbon phát triển nhanh trên toàn cầu: theo World Bank (2024), hiện có 36 hệ thống mua bán phát thải (ETS) đang vận hành và 14 hệ thống khác đang được xây dựng, bên cạnh thị trường carbon tự nguyện với các bộ tiêu chuẩn như VCS, Gold Standard và ART-TREES, đây là các tiêu chuẩn được thiết kế riêng cho các chương trình giảm phát thải quy mô vùng dựa trên bảo vệ và quản lý rừng bền vững. Liên minh LEAF (Lowering Emissions by Accelerating Forest Finance) là một trong những cơ chế tài chính carbon rừng lớn nhất hiện nay, huy động nguồn lực từ chính phủ và doanh nghiệp quốc tế để hỗ trợ các chương trình giảm phát thải từ rừng đáp ứng tiêu chuẩn môi trường - xã hội nghiêm ngặt.
Việt Nam cam kết đạt Net Zero vào năm 2050 và xây dựng lộ trình thị trường carbon trong nước theo ba giai đoạn: chuẩn bị, thí điểm từ 2025; vận hành chính thức từ 2028; kết nối với thị trường quốc tế sau 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Nghị định số 29/2026/NĐ-CP (19/01/2026) quy định sàn giao dịch carbon trong nước vận hành trên hạ tầng thị trường chứng khoán, với HNX tổ chức giao dịch và VSDC thực hiện đăng ký, lưu ký, thanh toán; Thông tư số 48/2026/TT-BTC hướng dẫn giám sát và báo cáo giao dịch. Tuy nhiên, cần phân biệt việc hình thành khung pháp lý với việc thị trường vận hành thực tế: tính đến tháng 6/2026, sàn giao dịch carbon vẫn chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh giao dịch tín chỉ carbon; giai đoạn hiện nay chủ yếu là hoàn thiện thể chế và chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật.
KHUNG PHÁP LÝ VỀ CARBON RỪNG VÀ THỊ TRƯỜNG CARBON
Bốn nghị định tạo thành khung pháp lý chủ yếu điều chỉnh thị trường carbon tại Việt Nam, mỗi văn bản có phạm vi riêng nhưng bổ trợ lẫn nhau. Nghị định số 06/2022/NĐ-CP (Chính phủ Việt Nam, 2022) đặt nền tảng cho kiểm kê khí nhà kính, xây dựng hệ thống MRV và phân bổ hạn ngạch phát thải, qua đó hình thành nhu cầu mua hạn ngạch hoặc tín chỉ carbon khi phát thải thực tế vượt hạn ngạch được phân bổ. Nghị định số 29/2026/NĐ-CP thiết lập hạ tầng giao dịch carbon trong nước trên nền tảng HNX - VSDC (Chính phủ Việt Nam, 2026a; Bộ Tài chính, 2026). Nghị định số 180/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ 15/7/2026, là văn bản chuyên ngành đầu tiên quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, tạo cơ sở cho việc đo đạc, xác nhận kết quả và chia sẻ lợi ích (Chính phủ Việt Nam, 2026b); tuy nhiên khả năng tạo nguồn thu thực tế còn phụ thuộc vào việc đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, vận hành MRV hiệu quả và có đối tác giao dịch hợp pháp. Nghị định số 112/2026/NĐ-CP quy định cơ chế điều chỉnh tương ứng (Corresponding Adjustment) nhằm tránh tính trùng kết quả giảm phát thải khi chuyển giao quốc tế, bảo đảm phù hợp với NDC quốc gia (Chính phủ Việt Nam, 2026c).
Nhìn tổng thể, hệ thống 4 nghị định cho thấy Việt Nam đã hình thành khung pháp lý cơ bản, song nhiều nội dung kỹ thuật về hệ thống đăng ký quốc gia, phương pháp MRV và cơ chế vận hành thị trường vẫn đang tiếp tục hoàn thiện. Ở cấp địa phương, Đề án phát triển Kinh tế xanh và thị trường carbon tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2025-2035, với mô hình GreenLink liên kết vốn tự nhiên, nông nghiệp xanh, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo và tài chính carbon, là nền tảng bổ trợ quan trọng cho việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính xanh tại địa phương (UBND tỉnh Lâm Đồng, 2024).
CHƯƠNG TRÌNH ERPA VÀ TRIỂN VỌNG TÀI CHÍNH CARBON
ERPA (Emission Reductions Purchase Agreement) là thỏa thuận mua bán kết quả giảm phát thải giữa bên bán, thường là Chính phủ hoặc cơ quan được ủy quyền và bên mua, là tổ chức tài chính quốc tế, quỹ khí hậu hoặc doanh nghiệp, được xem là cơ chế chuyển tiếp giữa tài trợ dựa trên kết quả và thị trường carbon vận hành đầy đủ. Việt Nam đang triển khai 2 chương trình ERPA phản ánh sự tiến bộ từ thí điểm đến tiếp cận thị trường carbon tự nguyện chất lượng cao (Bảng 1).
Bảng 1: So sánh ERPA Bắc Trung Bộ và ERPA Nam Trung Bộ - Tây Nguyên
|
Tiêu chí |
ERPA Bắc Trung Bộ |
ERPA Nam Trung Bộ - Tây Nguyên |
|
Đối tác mua (bên mua tín chỉ) |
Ngân hàng Thế giới, thông qua Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp (FCPF) |
Liên minh LEAF (Liên minh các quốc gia và doanh nghiệp cùng góp vốn để mua giảm phát thải từ rừng), do tổ chức Emergent đại diện đàm phán và quản lý |
|
Trạng thái hiện tại |
Đã ký hợp đồng chính thức từ tháng 10/2020; đã nhận đủ 51,5 triệu USD tiền chi trả |
Mới ký Thư bày tỏ ý định (một dạng cam kết ban đầu, chưa ràng buộc pháp lý) tại Hội nghị khí hậu COP26 (tháng 10/2021); hai bên vẫn đang đàm phán, chưa ký hợp đồng chính thức |
|
Phạm vi và thời gian thực hiện |
6 tỉnh Bắc Trung Bộ, thực hiện trong giai đoạn 2018-2024 |
5 tỉnh (trong đó có Lâm Đồng), dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2022-2026 |
|
Khối lượng và đơn giá tín chỉ (đơn vị: tấn CO2 tương đương, viết tắt là tCO2e) (*) |
10,3 triệu tấn CO2 tương đương (thực tế đạt 16,21 triệu); giá 5 USD cho mỗi tấn |
5,15 triệu tấn CO2 tương đương (dự kiến); giá tối thiểu 10 USD cho mỗi tấn |
|
Tiêu chuẩn áp dụng và ý nghĩa |
Áp dụng tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới và Quỹ FCPF; đây là chương trình thí điểm đầu tiên, làm cơ sở để Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2022/NĐ-CP |
Áp dụng tiêu chuẩn ART-TREES (bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng môi trường cho các dự án giảm phát thải từ rừng); đây là cơ hội tiếp cận tài chính carbon rừng trực tiếp cho tỉnh Lâm Đồng |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả (2026)
(*): tCO₂e (tấn CO₂ tương đương) là đơn vị quy đổi các loại khí nhà kính về CO₂ để giao dịch trên thị trường carbon; đây cũng là đơn vị đo khối lượng và đơn giá tín chỉ theo các thỏa thuận ERPA.
Chương trình ERPA Nam Trung Bộ - Tây Nguyên trải qua các mốc chính: nộp đề xuất cho LEAF (7/2021) và ký Ý định thư với Emergent tại COP26, Glasgow (31/10/2021), dự kiến chuyển nhượng 5,15 triệu tCO₂e với giá tối thiểu 10 USD/tấn (LEAF Coalition/Emergent, 2021); hoàn thiện hồ sơ theo tiêu chuẩn ART-TREES và được Ban Thư ký ART chấp thuận (7/2024); xây dựng Báo cáo kết quả giảm phát thải kỳ 2 (2023-2025), dự kiến cấp tín chỉ giai đoạn 2021-2022 vào quý II/2026; và tiếp tục đàm phán để tiến tới ký kết ERPA chính thức trong giai đoạn 2026-2027. Đây hiện là cơ hội tiếp cận tài chính carbon rừng rõ nét nhất của tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2026-2030, với nguồn tài chính dự kiến được quản lý qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và cấp tỉnh. Tuy nhiên, khả năng hiện thực hóa vẫn phụ thuộc vào kết quả xác minh giảm phát thải, tiến độ đàm phán và việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật ART-TREES; do đó ERPA cần được nhìn nhận như một cơ hội đang hình thành hơn là nguồn thu đã được bảo đảm.
THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG CARBON RỪNG TỈNH LÂM ĐỒNG
Thực trạng diện tích và cơ cấu rừng theo trạng thái rừng
Theo Quyết định số 690/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 của tỉnh Lâm Đồng thì tổng diện tích có rừng toàn Tỉnh là 1.112.836 ha, tỷ lệ che phủ 45,91%, trong đó rừng tự nhiên 930.156 ha (83,6%) và rừng trồng 182.679 ha (16,4%); diện tích rừng giảm 19.275 ha so với kỳ trước, chủ yếu do khai thác rừng trồng và chuyển mục đích sử dụng. Về cơ cấu loài cây, đây là chỉ tiêu quan trọng để xác định sinh khối và hệ số hấp thụ carbon, hiện tỉnh Lâm Đồng có: rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá 456.142 ha (mật độ sinh khối và trữ lượng carbon cao nhất); rừng lá rộng rụng lá 133.941 ha; rừng lá kim (thông) 91.504 ha, đặc thù cao nguyên Đà Lạt, tích lũy carbon ổn định nhưng rủi ro cháy cao; rừng hỗn giao lá rộng - lá kim 37.923 ha; rừng hỗn giao gỗ - tre nứa 181.609 ha; và rừng tre nứa thuần loài 29.038 ha, chu kỳ sinh trưởng nhanh nhưng cần xử lý kỹ thuật riêng trong MRV. Diện tích chưa có rừng là 205.419 ha, trong đó khoảng 189.371 ha đất trống còn dư địa trồng rừng mới.
Theo mục đích sử dụng, rừng sản xuất chiếm 562.672 ha (50,6%), rừng phòng hộ 324.468 ha (29,2%), rừng đặc dụng 151.088 ha (13,6%) và rừng ngoài mục đích lâm nghiệp 74.609 ha (6,7%). Rừng đặc dụng và phòng hộ (475.556 ha) có điều kiện pháp lý thuận lợi nhất cho các dự án REDD+ (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng) và carbon rừng quốc tế nhờ tính ổn định lâu dài và khả năng kiểm soát nguy cơ mất rừng (leakage) cao hơn rừng sản xuất.
Tiềm năng hấp thụ CO₂ và ước tính tín chỉ carbon
Nhóm nghiên cứu áp dụng hệ số hấp thụ carbon theo hướng dẫn IPCC (2006) cho từng trạng thái rừng nhiệt đới, cận nhiệt đới (rừng lá rộng thường xanh: 3,5-5,0 tCO₂/ha/năm; rừng lá rộng rụng lá: 2,0-3,0; rừng lá kim: 2,5-3,5; rừng hỗn giao gỗ - tre nứa: 2,0-2,8); qua tính toán cho thấy, tổng lượng hấp thụ CO₂ từ phần rừng tự nhiên đủ điều kiện tham gia cơ chế carbon ước khoảng 2,0-2,8 triệu tCO₂/năm, tương đương 1,8-2,5 triệu tín chỉ carbon tiềm năng. Con số thực tế được công nhận sẽ thấp hơn sau khi trừ hạn mức dự phòng rủi ro (buffer pool), phần dành cho Trung tâm dữ liệu quốc gia (NDC) và các điều chỉnh tương ứng theo tiêu chuẩn ART-TREES và Nghị định số 112/2026/NĐ-CP (Bảng 2).
Bảng 2: Ước tính tiềm năng carbon rừng tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2025-2030
|
Chỉ tiêu |
Hiện trạng năm 2025 |
Giai đoạn 2026-2028 (xây dựng nền tảng) |
Giai đoạn 2028-2030 (vận hành thị trường) |
|
Tổng diện tích có rừng (ha) |
1.112.836 |
Duy trì ổn định, không thấp hơn 1.112.836 |
Khoảng 1.130.000, nhờ có thêm diện tích trồng rừng mới |
|
Lượng khí CO2 hấp thụ được (triệu tấn mỗi năm) |
2,0-2,8 |
2,0-2,8 (đang chờ hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định, gọi tắt là MRV) |
2,3-3,0 |
|
Số lượng tín chỉ carbon có thể tạo ra (triệu tín chỉ mỗi năm) |
1,4-2,0 (đây là số tính toán lý thuyết, chưa được xác nhận) |
Chưa phát hành tín chỉ nào; đang trong giai đoạn hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) |
1,8-2,5 (là số sau khi trừ đi phần dự phòng rủi ro và phần dành riêng để thực hiện cam kết giảm phát thải quốc gia) |
|
Giá trị kinh tế ước tính (triệu USD mỗi năm) |
14-20 (đây là ước tính lý thuyết, chưa phát sinh giao dịch thực tế) |
Phụ thuộc vào kết quả đàm phán hợp đồng mua bán giảm phát thải (ERPA), với mức giá tối thiểu 10 USD cho mỗi tấn CO2 tương đương |
18-25 |
Nguồn: Tổng hợp từ Quyết định số 690/QĐ-UBND (2026), IPCC (2006), LEAF/Emergent (2021), World Bank (2024)
Kinh nghiệm PFES, REDD+ và các chương trình giảm phát thải
Lâm Đồng là một trong những tỉnh tiên phong thực hiện Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) từ năm 2008, trước khi chính sách được luật hóa toàn quốc. Trong giai đoạn 2008-2022, cơ chế này mang lại trên 350 tỷ đồng/năm hỗ trợ chủ rừng và cộng đồng, đồng thời hình thành hệ thống theo dõi diễn biến rừng và cơ chế giải ngân, đây là nền tảng thể chế trực tiếp cho các dự án carbon rừng sau này. Tỉnh cũng tham gia REDD+ và Quỹ FCPF của Ngân hàng Thế giới, qua đó làm quen với xây dựng đường cơ sở phát thải rừng (FREL/FRL), vận hành MRV sơ bộ, tham vấn cộng đồng dân tộc thiểu số theo nguyên tắc FPIC (Đồng thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện, được thông báo trước và cung cấp thông tin đầy đủ) và xây dựng tài liệu an toàn môi trường - xã hội, đây là các điều kiện tiên quyết để được công nhận theo ART-TREES (Bộ tiêu chuẩn môi trường cho các giao dịch REDD+). Bên cạnh đó, các chương trình hợp tác quốc tế như iLandscape, GIZ và JICA đã hỗ trợ xây dựng năng lực về GIS (hệ thống thông tin địa lý), viễn thám, điều tra sinh khối và lập bản đồ carbon. Tuy nhiên, việc chuyển hóa các kinh nghiệm này thành năng lực vận hành thị trường carbon độc lập, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế vẫn là bài toán trung hạn, đòi hỏi đầu tư bền vững về nhân lực, tài chính và hạ tầng số trong giai đoạn 2026-2030.
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ SẴN SÀNG CỦA TỈNH LÂM ĐỒNG
Trên cơ sở các điều kiện về thể chế, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực kỹ thuật và mức độ tham gia các cơ chế carbon hiện có, mức độ sẵn sàng của tỉnh được xem xét theo ba cấp độ tăng dần. Ở cấp độ 1 (nhận thức và năng lực nền tảng), Lâm Đồng đã tích lũy kinh nghiệm đáng kể qua PFES, REDD+, FCPF, iLandscape, GIZ và JICA, hình thành nền tảng ban đầu về thể chế và kỹ thuật. Ở cấp độ 2 (tham gia cơ chế giảm phát thải và tài chính carbon quốc tế), tỉnh đang tham gia ERPA Nam Trung Bộ - Tây Nguyên thuộc khuôn khổ LEAF/Emergent, song tín chỉ carbon chưa được phát hành và hồ sơ ART-TREES, hệ thống MRV vẫn đang hoàn thiện. Ở cấp độ 3 (thị trường carbon trong nước), khung pháp lý đã được ban hành (Nghị định số 29/2026/NĐ-CP) nhưng sàn giao dịch chưa vận hành, hạn ngạch phát thải chưa được phân bổ đầy đủ và chưa hình thành giá carbon tham chiếu. Đây là tình trạng chung của cả nước ta hiện nay, không riêng ở tỉnh Lâm Đồng.
Bảng 3: Xếp hạng mức độ sẵn sàng triển khai của tỉnh Lâm Đồng (từ cao đến thấp)
|
TT |
Lĩnh vực |
Đánh giá |
|
1 |
Nhận thức và kinh nghiệm về carbon rừng |
Đầy đủ, chủ động; tích lũy nhiều kinh nghiệm qua PFES, REDD+, FCPF, iLandscape |
|
2 |
Dữ liệu tài nguyên và quản lý rừng |
Hệ thống ngày càng hoàn thiện; nền tảng cho kiểm kê và MRV |
|
3 |
Kinh nghiệm PFES, REDD+, ERPA |
Đã triển khai hiệu quả các cơ chế và chương trình quốc tế |
|
4 |
Năng lực xây dựng, vận hành MRV |
Đã bước đầu vận hành; cần tiếp tục củng cố năng lực độc lập |
|
5 |
Tiếp cận thị trường carbon tự nguyện |
Đã tham gia các chương trình carbon tự nguyện trong và ngoài nước |
|
6 |
Xây dựng dự án tín chỉ carbon độc lập |
Đã chuẩn bị bước đầu; cần nâng cao năng lực theo chuẩn quốc tế |
|
7 |
Điều kiện tham gia thị trường bắt buộc |
Khung pháp lý hoàn thiện (NĐ 29/2026); sàn chưa vận hành, thí điểm cuối 2026 |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả (2026)
CÁC VƯỚNG MẮC VÀ THUẬN LỢI
Vướng mắc chính
- Thể chế và chính sách: quy định về tiêu chuẩn tín chỉ, cơ chế kết nối thị trường tự nguyện - bắt buộc và cơ chế xác lập quyền, chia sẻ lợi ích (theo Nghị định số 180/2026/NĐ-CP) còn đang hoàn thiện; rủi ro tính trùng (double counting) đòi hỏi hệ thống đăng ký quốc gia và cơ chế điều chỉnh tương ứng vận hành đồng bộ.
- Kỹ thuật và MRV: Dữ liệu tài nguyên rừng, đất đai, phát thải còn phân tán, chưa thống nhất chuẩn; nguồn nhân lực chuyên sâu về viễn thám, GIS, mô hình hóa carbon, đánh giá tính bổ sung (additionality) và kiểm soát rò rỉ (leakage) còn hạn chế.
- Tổ chức và tài chính: Cơ chế phối hợp liên ngành cần được củng cố; chi phí xây dựng, thẩm định và xác minh dự án theo chuẩn quốc tế còn cao, nhất là với dự án quy mô nhỏ; rủi ro về uy tín và chất lượng tín chỉ trong bối cảnh tiêu chuẩn quốc tế ngày càng siết chặt.
- Thách thức đặc thù của Lâm Đồng: Áp lực chuyển đổi đất lâm nghiệp sang cây công nghiệp, cây ăn trái giá trị cao (sầu riêng, cà phê, mắc ca) khiến diện tích rừng giảm 19.275 ha so với kỳ trước; vi phạm pháp Luật Lâm nghiệp và phá rừng làm phát sinh yêu cầu bù đắp từ buffer pool; rủi ro cháy rừng đặc thù với 91.504 ha rừng thông trong mùa khô; và nguồn lực tài chính đầu tư cho quản lý bảo vệ rừng, xây dựng MRV còn hạn chế.
Thuận lợi
- Định hướng chính sách rõ ràng hướng tới Net Zero 2050 và phát triển thị trường carbon; khung pháp lý đã hình thành các thành phần cơ bản.
- Hạ tầng giao dịch trên nền tảng HNX - VSDC tận dụng được công nghệ và kinh nghiệm quản lý sẵn có của thị trường chứng khoán.
- Tiềm năng tài nguyên rừng lớn (1.112.836 ha, che phủ 45,91%) với hệ sinh thái đa dạng, cùng kinh nghiệm thực tiễn từ ERPA Bắc Trung Bộ, PFES, REDD+ và FCPF.
- Xu thế tài chính xanh, ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) và EUDR (Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu) giúp gia tăng nhu cầu từ doanh nghiệp xuất khẩu về sản phẩm không gây mất rừng, giảm phát thải và truy xuất nguồn gốc, đây là điều kiện thuận lợi để nâng giá trị các chương trình bảo vệ rừng.
CÁC ĐIỀU KIỆN NỀN TẢNG CHO PHÁT TRIỂN TÍN CHỈ CARBON
Khung pháp lý được ban hành nhưng không có nghĩa là tín chỉ carbon có thể hình thành và giao dịch ngay. Trên thực tế, để kết quả giảm phát thải được công nhận và tham gia thị trường, cần bảo đảm đồng thời chuỗi điều kiện: xác định rõ quyền, trách nhiệm và lợi ích của các bên liên quan (chủ rừng, cơ quan quản lý, cộng đồng, đơn vị xác minh); xây dựng cơ sở dữ liệu nền về tài nguyên rừng, sinh khối và phát thải; thiết lập hệ thống MRV theo quy trình được công nhận; xây dựng và đăng ký chương trình/dự án phù hợp tiêu chuẩn áp dụng (ART-TREES, VCS, Gold Standard); xác nhận độc lập kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ; thực hiện các yêu cầu quản lý kết quả giảm phát thải (NDC, buffer pool); chuẩn bị hạ tầng đăng ký, giao dịch trên nền tảng HNX - VSDC; hoàn thiện thủ tục chuyển giao trong nước hoặc quốc tế theo cơ chế điều chỉnh tương ứng; và thiết lập cơ chế tài chính, chia sẻ lợi ích minh bạch, bảo đảm tái đầu tư cho bảo vệ rừng và sinh kế cộng đồng. Các điều kiện này phải tuân thủ nguyên tắc minh bạch, chính xác, có thể kiểm chứng và tránh tính trùng.
Đối với Lâm Đồng, nhiều dữ liệu kỹ thuật quan trọng đã và đang được quản lý qua hệ thống theo dõi diễn biến rừng, cơ sở dữ liệu lâm nghiệp và PFES là nền tảng thuận lợi cho xây dựng MRV. Tuy nhiên, các nội dung về an toàn môi trường - xã hội, đặc biệt là FPIC, bình đẳng giới, quyền lợi đồng bào dân tộc thiểu số và cơ chế giải quyết khiếu nại vẫn cần tiếp tục hoàn thiện, vì đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với khả năng được công nhận kết quả giảm phát thải theo ART-TREES. Nhìn tổng thể, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là tìm kiếm người mua tín chỉ carbon, mà là tiếp tục hoàn thiện các điều kiện nền tảng về dữ liệu, MRV, quản trị và chia sẻ lợi ích.
CÁC NHÓM GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GIAI ĐOẠN 2026-2030
Nghiên cứu nhận định, giai đoạn 2026-2030, đối với Lâm Đồng, trọng tâm không phải là tối đa hóa doanh thu từ tín chỉ carbon trong ngắn hạn mà là chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia hiệu quả thị trường carbon trong tương lai. Cụ thể:
Thể chế và điều phối: Củng cố vai trò đầu mối của Sở Nông nghiệp và Môi trường; kiện toàn cơ chế phối hợp liên ngành; lồng ghép mục tiêu carbon vào quy hoạch lâm nghiệp, sử dụng đất, PFES và EUDR; chủ động chuẩn bị nhân lực và năng lực quản trị để tham gia thị trường trong nước khi đủ điều kiện.
Chất lượng rừng và sinh kế: Ưu tiên bảo vệ rừng có giá trị đa dạng sinh học, phòng hộ và hấp thụ carbon cao; đẩy mạnh phục hồi rừng suy thoái; hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích từ PFES, ERPA bảo đảm sự tham gia thực chất của cộng đồng và đồng bào dân tộc thiểu số.
Nông nghiệp carbon thấp, EUDR và du lịch xanh: Thúc đẩy nông nghiệp tái sinh, không gây mất rừng với các ngành hàng chủ lực (cà phê, hồ tiêu, mắc ca, rau, hoa); nghiên cứu lượng hóa giảm phát thải trong chuỗi giá trị nông nghiệp và khả năng bù đắp carbon tự nguyện trong du lịch sinh thái.
Dữ liệu, MRV và hạ tầng số: Xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu địa không gian về tài nguyên rừng; nâng cao năng lực viễn thám, GIS, xây dựng đường cơ sở; hoàn thiện Hệ thống thông tin bảo đảm an toàn (SIS) theo chuẩn ART-TREES.
Tài chính xanh và hợp tác quốc tế: Xây dựng danh mục dự án ưu tiên để huy động ODA và các quỹ tài chính xanh; tăng cường hợp tác quốc tế về giảm phát thải; đẩy mạnh tổng kết, chia sẻ kinh nghiệm từ PFES, REDD+ và ERPA.
KẾT LUẬN
Với 1.112.836 ha rừng sau hợp nhất hành chính (tỷ lệ che phủ 45,91% theo Quyết định số 690/QĐ-UBND), Lâm Đồng sở hữu nguồn tài nguyên rừng lớn của khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đây là nền tảng cho bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, sinh kế bền vững và tham gia các cơ chế tài chính carbon trong tương lai. Việt Nam đã từng bước hình thành khung pháp lý cơ bản cho carbon rừng và thị trường carbon, trong đó việc xây dựng sàn giao dịch trên hạ tầng thị trường chứng khoán là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa khung pháp lý đã ban hành và thị trường đã vận hành thực tế: tính đến tháng 6/2026, sàn giao dịch carbon trong nước chưa đi vào hoạt động và Chương trình ERPA Nam Trung Bộ - Tây Nguyên vẫn đang hoàn thiện các điều kiện kỹ thuật, pháp lý để tiến tới ký kết chính thức. Trong bối cảnh đó, thành công của địa phương không nên được đánh giá chủ yếu bằng số lượng tín chỉ carbon giao dịch hay doanh thu tài chính, mà bằng mức độ hoàn thiện của hệ thống dữ liệu, năng lực MRV, cơ chế quản trị, chất lượng bảo vệ rừng và khả năng đáp ứng yêu cầu của các cơ chế carbon trong nước và quốc tế. Nếu tận dụng tốt lợi thế tài nguyên rừng và kinh nghiệm từ PFES, REDD+, ERPA, đồng thời tiếp tục hoàn thiện dữ liệu, thể chế và nguồn nhân lực, Lâm Đồng có cơ hội trở thành một trong những địa phương đi đầu về carbon rừng và tài chính xanh của Việt Nam sau năm 2030, đóng góp thiết thực vào mục tiêu Net Zero năm 2050. Giai đoạn hiện nay chưa phải là giai đoạn thu hoạch lớn từ tín chỉ carbon mà là giai đoạn gieo trồng những điều kiện cần thiết cho tương lai, chính chất lượng của quá trình chuẩn bị hôm nay sẽ quyết định khả năng tham gia và hưởng lợi từ nền kinh tế carbon trong những năm tiếp theo.
Tài liệu tham khảo:
1. ART Secretariat (2022). ART-TREES Standard: The REDD+ Environmental Excellence Standard (Version 2.0). Architecture for REDD+ Transactions.
2. Bộ Tài chính (2026). Thông tư số 48/2026/TT-BTC hướng dẫn giám sát giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon trên sàn giao dịch carbon trong nước và chế độ báo cáo của Sở Giao dịch Chứng khoán, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (hiệu lực từ 12/05/2026).
3. Chính phủ Việt Nam (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
4. Chính phủ Việt Nam (2025). Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP.
5. Chính phủ Việt Nam (2026a). Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 về sàn giao dịch carbon trong nước.
6. Chính phủ Việt Nam (2026b). Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
7. Chính phủ Việt Nam (2026c). Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 22/5/2026 về chuyển giao quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon.
8. Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024). Chính sách quản lý và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.
9. LEAF Coalition/Emergent. (2021, October). Letter of intent between the Ministry of Agriculture and Rural Development of Vietnam and Emergent Forest Finance Accelerator. Signed at COP26, Glasgow.
10. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng (2026). Báo cáo tóm tắt các nội dung về định hướng phát triển tín chỉ carbon trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới.
11. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án phát triển thị trường carbon trong nước.
12. UBND tỉnh Lâm Đồng (2026). Quyết định số 690/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 về việc công bố hiện trạng rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2025.
13. World Bank (2024). State and trends of carbon pricing 2024. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-2007-5
|
Ngày nhận bài: 25/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/7/2026; Ngày duyệt đăng: 18/7/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa
Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm
Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện
Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Trí tuệ nhân tạo và thách thức trong kỷ nguyên số: Bối cảnh kế toán và kiểm toán
Từ kế toán số đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Đề xuất mô hình về vai trò trung gian của chuyển đổi số và điều tiết của phong cách lãnh đạo chuyển đổi
Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng
Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra