Thí điểm áp dụng Công cụ đánh giá nhu cầu đào tạo của Mạng lưới các tổ chức đào tạo thống kê toàn cầu tại Cục Thống kê

Nghiên cứu - Trao đổi 20:08 | 20/10/2026
Trong bối cảnh nhu cầu thông tin ngày càng gia tăng, phạm vi thống kê mở rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, người làm công tác thống kê cần thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, kỹ năng khoa học dữ liệu và khả năng ứng dụng công nghệ.

ThS. Hoàng Thị Kim Chi

Email: [email protected]

Hà Thị Phương Thảo, Bùi Ngọc Tân, Lê Thu Hiền, Bùi Thị Hải Vân,

Đỗ Thu Hòa, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Thị Thu Hà, Dương Thị Hồng Anh

Cục Thống kê

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm thử nghiệm Công cụ đánh giá nhu cầu đào tạo thống kê (STAT) do Mạng lưới các tổ chức đào tạo thống kê toàn cầu (GIST) phát triển tại Cục Thống kê. Nghiên cứu kết hợp tổng quan tài liệu, tham vấn chuyên gia và khảo sát 131 người bằng bảng hỏi dành cho cá nhân của STAT. Kết quả khảo sát cung cấp thông tin ban đầu về trình độ kiến thức tự đánh giá, mức độ ưu tiên đào tạo và đánh giá của người tham gia đối với các phương thức học tập. Trong nhóm được khảo sát, phân tích dữ liệu là nội dung có nhu cầu ưu tiên đào tạo cao; học tập thông qua công việc và học hỏi đồng nghiệp được nhiều người đánh giá có hiệu quả. Kết quả cho thấy tiềm năng sử dụng STAT để hỗ trợ xác định nhu cầu đào tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu Việt hóa bảng hỏi, kết hợp đánh giá của cá nhân và cấp quản lý, cũng như hoàn thiện thiết kế khảo sát trước khi mở rộng triển khai. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng đào tạo và lộ trình áp dụng STAT tại Cục Thống kê.

Từ khóa: Công cụ STAT, GIST, nhu cầu đào tạo thống kê

Abstract

This study pilots the Statistical Training Needs Assessment Tool (STAT), developed by the Global Network of Institutions for Statistical Training (GIST), at the Statistics Office. The study combines a literature review, expert consultation, and a survey of 131 respondents using STAT's individual questionnaire. The survey results provide preliminary insights into respondents' self-assessed knowledge levels, training priorities, and perceptions of learning methods. Among the surveyed group, data analysis was identified as a high-priority training need, while on-the-job learning and peer learning were widely perceived as effective. The findings indicate the potential of STAT to support the identification of training needs, while highlighting the need to translate and adapt the questionnaire into Vietnamese, combine individual and managerial assessments, and refine the survey design before wider implementation. Accordingly, the study proposes training directions and an implementation roadmap for STAT at the Statistics Office.

Keywords: STAT tool, GIST, statistical training needs

GIỚI THIỆU

Năng lực của đội ngũ làm công tác thống kê là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thống kê và hiệu quả hoạt động của hệ thống thống kê quốc gia (NSS). Trong bối cảnh nhu cầu thông tin ngày càng gia tăng, phạm vi thống kê mở rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, người làm công tác thống kê cần thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, kỹ năng khoa học dữ liệu và khả năng ứng dụng công nghệ. Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan thống kê quốc gia (NSO), góp phần nâng cao năng suất, chất lượng công việc và khả năng đáp ứng những yêu cầu mới.

Việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cần dựa trên đánh giá nhu cầu học tập gắn với năng lực hiện có và yêu cầu công việc. Theo mô tả của nhóm tác giả, kế hoạch đào tạo tại Cục Thống kê hiện chủ yếu được xây dựng từ đăng ký của cá nhân và đơn vị theo biểu mẫu, đồng thời chịu sự chi phối của yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ và nguồn kinh phí được phân bổ. Cách thức này cần được bổ sung bằng thông tin có hệ thống về kiến thức, kỹ năng và mức độ ưu tiên đào tạo theo từng nhóm công việc, làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo hằng năm và định hướng phát triển năng lực dài hạn.

STAT do GIST phát triển có thể hỗ trợ quá trình này thông qua hệ thống bảng hỏi và các công cụ phân tích dữ liệu. Nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm triển khai STAT tại một số quốc gia và thí điểm sử dụng bảng hỏi dành cho cá nhân tại Cục Thống kê nhằm nhận diện nhu cầu đào tạo trong nhóm được khảo sát, xem xét khả năng áp dụng công cụ và những điều kiện cần hoàn thiện trước khi mở rộng triển khai. Kết quả nghiên cứu là cơ sở ban đầu để đề xuất lộ trình áp dụng STAT, hỗ trợ xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với yêu cầu công việc và nguồn lực của Cục Thống kê.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

STAT do GIST phát triển nhằm hỗ trợ NSO xác định nhu cầu đào tạo và xây dựng kế hoạch phát triển năng lực. Công cụ tiếp cận nhu cầu đào tạo thông qua thông tin về năng lực hiện có, yêu cầu công việc và mức độ ưu tiên bồi dưỡng. Trên cơ sở đó, STAT hỗ trợ nhận diện những kiến thức, kỹ năng cần bổ sung, xác định thứ tự ưu tiên và phân bổ nguồn lực đào tạo phù hợp (GIST, 2024). Việc xác định khoảng cách năng lực cần dựa trên đối chiếu giữa năng lực hiện có và năng lực yêu cầu đối với từng nhiệm vụ hoặc vị trí việc làm.

Bộ công cụ STAT gồm tài liệu hướng dẫn phương pháp luận, 3 bảng hỏi trực tuyến và các công cụ hỗ trợ xử lý, phân tích dữ liệu bằng ngôn ngữ lập trình R, đồng thời trực quan hóa kết quả bằng phần mềm Power BI. Các bảng hỏi lần lượt dành cho cá nhân làm việc tại NSO, cấp quản lý tại NSO và các tổ chức thuộc NSS. Nội dung khảo sát bao quát các nhóm kiến thức, kỹ năng về hành chính và thư ký, tài chính, quản trị nhân sự, công nghệ thông tin, quản lý, truyền thông và phổ biến thông tin thống kê, sản xuất thống kê, thống kê chuyên ngành và kỹ năng chung.

Trong bảng hỏi cá nhân, người trả lời tự đánh giá trình độ kiến thức theo 4 mức: không có kiến thức, cơ bản, trung cấp và nâng cao; đồng thời xác định mức độ ưu tiên đào tạo. Việc kết hợp thông tin từ các bảng hỏi cho phép xem xét nhu cầu ở cấp cá nhân, tổ chức và hệ thống, tạo điều kiện đối chiếu giữa nhu cầu học tập của người lao động với yêu cầu phát triển của cơ quan thống kê. Tuy nhiên, thông tin tự đánh giá vẫn có thể chịu ảnh hưởng của nhận thức chủ quan; do đó, cần được đối chiếu với đánh giá của cấp quản lý và yêu cầu thực hiện công việc khi sử dụng để lập kế hoạch đào tạo (UNSD, 2025b).

Kinh nghiệm triển khai tại Colombia, Ghana, Morocco và Seychelles cho thấy những cách thức khai thác STAT khác nhau, gắn với điều kiện tổ chức và mục tiêu phát triển năng lực của từng cơ quan thống kê.

Tại Colombia, Cơ quan Thống kê quốc gia (DANE) sử dụng kết quả thí điểm STAT để xem xét nhu cầu phát triển kỹ năng và điều chỉnh phương thức đào tạo trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Các hình thức được chú trọng gồm học tập thông qua công việc, học tập có người hướng dẫn và tự học trên các nền tảng trực tuyến như UN SDG: Learn. Đồng thời, việc huy động chuyên gia nội bộ được xem là một hướng khai thác nguồn lực phục vụ đào tạo (DANE, 2024).

Tại Ghana, Cơ quan Thống kê quốc gia (GSS) sử dụng thông tin từ bảng hỏi cá nhân và cấp quản lý để nhận diện nhu cầu phát triển năng lực theo nhóm chuyên môn, chức danh và vị trí việc làm. Kết quả khảo sát được khai thác để hỗ trợ xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhóm nhân sự, thiết lập hồ sơ học tập cá nhân và lựa chọn phương thức học tập. Kinh nghiệm của GSS nhấn mạnh việc kết hợp học qua công việc, học hỏi từ người khác và đào tạo chính quy theo mô hình 70-20-10, đồng thời gắn đánh giá nhu cầu với định hướng xây dựng chiến lược học tập của hệ thống thống kê (UNESCAP, 2024).

Tại Morocco, Cơ quan Thống kê quốc gia (HCP) điều chỉnh ngôn ngữ bảng hỏi sang tiếng Pháp để thuận tiện cho người tham gia. Việc áp dụng STAT gắn với định hướng xây dựng chiến lược đào tạo liên tục trong 3 năm, hoàn thiện khung năng lực thống kê và phát triển các hình thức học tập kết hợp. Trong đó, học tập thông qua công việc và các hoạt động học tập phi chính thức được xem xét cùng với các khóa đào tạo chính quy và nền tảng học trực tuyến (UNITAR, 2024).

Tại Seychelles, Cục Thống kê quốc gia (NBS) sử dụng STAT để nhận diện nhu cầu phát triển kỹ năng trong điều kiện quy mô nhân sự nhỏ. Bên cạnh nghiệp vụ thống kê, cơ quan này chú trọng những kỹ năng phục vụ truyền thông dữ liệu, như thiết kế đồ họa thông tin và kể chuyện bằng dữ liệu. Trường hợp này cho thấy, việc lựa chọn nội dung đào tạo cần gắn với nhiệm vụ chuyên môn và mục tiêu nâng cao khả năng phổ biến, sử dụng thông tin thống kê (UNSD, 2025a).

Các trường hợp trên gợi mở 3 vấn đề cần xem xét khi triển khai STAT: Thứ nhất, công cụ cần được điều chỉnh phù hợp với ngôn ngữ, đặc điểm công việc và điều kiện tổ chức; Thứ hai, kết quả khảo sát cần được đối chiếu với yêu cầu năng lực để xây dựng kế hoạch đào tạo theo nhóm nhân sự và mức độ ưu tiên; Thứ ba, việc khai thác kết quả cần có sự phối hợp giữa cấp quản lý, đơn vị phụ trách đào tạo và các đơn vị chuyên môn.

Đối với Cục Thống kê, những kinh nghiệm này cung cấp định hướng tham khảo cho việc thiết kế và tổ chức triển khai. Mức độ phù hợp của công cụ và các phương thức đào tạo cần tiếp tục được xem xét thông qua khảo sát thí điểm, đối chiếu với yêu cầu công việc và đánh giá điều kiện thực hiện tại cơ quan.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu kết hợp tổng quan tài liệu, khảo sát thí điểm và tham vấn chuyên gia.

Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu tài liệu được áp dụng để cung cấp cái nhìn tổng quan về công cụ STAT, phân tích kinh nghiệm áp dụng công cụ này từ các NSO như Colombia, Ghana, Morocco và Seychelles, từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi áp dụng.

Thứ hai, phương pháp điều tra chọn mẫu, thí điểm áp dụng 1 bảng hỏi điều tra dành cho cá nhân (bao gồm lãnh đạo và công chức, viên chức) đang làm việc tại Cục Thống kê, thuộc các lĩnh vực khác nhau để thu thập thông tin về năng lực thực tế và nhu cầu đào tạo của cá nhân. Tổng số đối tượng điều tra là 131 người. Việc thực hiện điều tra chọn mẫu thí điểm 1 bảng hỏi góp phần đánh giá công cụ STAT, có minh chứng để so sánh với phương thức xây dựng kế hoạch và tổ chức các khóa đào tạo hằng năm cho công chức Cục Thống kê.

Kết quả điều tra và phân tích là cơ sở thực tiễn để tham mưu đề xuất áp dụng công cụ STAT cũng như thiết lập lộ trình áp dụng phù hợp trong bối cảnh đặc thù của Thống kê Việt Nam. Ngoài ra, việc tham vấn các chuyên gia từ GIST trong quá trình nghiên cứu cũng được áp dụng để đảm bảo thực hiện đúng hướng dẫn mà tổ chức này đưa ra, phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.

KẾT QUẢ KHẢO SÁT THÍ ĐIỂM

Người tham gia khảo sát có trình độ chuyên môn rất cao với 2.3% (3 người) có trình độ tiến sĩ, 57.2% (75 người) có trình độ thạc sĩ, 37.4% (49 người) có trình độ cử nhân, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ 3.1% (4 người) ở trình độ khác do không điền thông tin trình độ học vấn khi tham gia trả lời bảng hỏi. Nền tảng học thuật này là lợi thế lớn, giúp người trả lời dễ dàng tiếp thu các phương pháp thống kê phức tạp và công nghệ mới.

Người tham gia trả lời có sự tích lũy kinh nghiệm rất cao. Nhóm có trên 16 năm kinh nghiệm làm việc thực tế chiếm số lượng lớn nhất (hơn 60 người), tiếp theo là nhóm có kinh nghiệm từ 7 đến dưới 16 năm (45 người). Nhóm người trả lời trẻ có dưới 4 năm kinh nghiệm chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn (26 người). Cơ cấu này đặt ra yêu cầu đào tạo không chỉ ở mức cơ bản mà phải tập trung vào việc cập nhật công nghệ hiện đại, chuyển đổi số và nâng cao năng lực chuyên sâu.

Về lĩnh vực công tác chính, phần lớn người tham gia khảo sát tập trung trong lĩnh vực sản xuất số liệu thống kê. Các lĩnh vực hỗ trợ như hành chính, công nghệ thông tin, truyền thông, nhân sự và tài chính có quy mô nhân sự nhỏ hơn nhiều, dao động từ 11 - 16 người cho từng lĩnh vực.

Hình 1: Trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc của người tham gia khảo sát

Thí điểm áp dụng Công cụ đánh giá nhu cầu đào tạo của Mạng lưới các tổ chức đào tạo thống kê toàn cầu tại Cục Thống kê

Nguồn: Dữ liệu điều tra thí điểm

Về đánh giá mức độ hiệu quả cao đối với các phương pháp học tập, có 95% người trả lời đánh giá học tập tại nơi làm việc là phương thức hiệu quả; tỷ lệ tương ứng đối với học hỏi đồng nghiệp, đào tạo trực tiếp và đào tạo có người hướng dẫn lần lượt là 88%, 75% và 72%. Kết quả này cung cấp bằng chứng cho sự cần thiết của việc chuyển sang mô hình học tập linh hoạt, kết hợp đào tạo chính quy với học tập tại chỗ và chia sẻ tri thức nội bộ. Điều này gợi ý rằng phát triển năng lực tại Cục Thống kê cần được tổ chức theo mô hình kết hợp giữa đào tạo chính quy và học tập trong môi trường làm việc.

Hình 2: Đánh giá mức độ hiệu quả của các phương pháp học tập

Thí điểm áp dụng Công cụ đánh giá nhu cầu đào tạo của Mạng lưới các tổ chức đào tạo thống kê toàn cầu tại Cục Thống kê

Nguồn: Dữ liệu điều tra thí điểm

Về kiến thức và mức độ ưu tiên đào tạo, kết quả điều tra cho thấy, mức độ ưu tiên đào tạo giữa các chuyên ngành có sự phân hóa mạnh mẽ, phản ánh định hướng nghiệp vụ và mong muốn cải thiện năng lực của người tham gia khảo sát.

Cụ thể, nhu cầu hiểu biết về ngành có trên 55% lựa chọn ưu tiên cao, trong khi thống kê năng lượng và môi trường đạt khoảng 40% (mức cao nhất trong số các mảng thống kê chuyên ngành). Nhu cầu đào tạo ưu tiên trung bình gồm: thống kê doanh nghiệp, nhân khẩu học và thống kê xã hội, thống kê kinh tế khác chiếm khoảng 50% - 55%. Điều này cho thấy nhu cầu bồi dưỡng ở các mảng này là thường xuyên, liên tục nhưng không quá dồn dập.

Hình 3: Tổng hợp mức độ ưu tiên đào tạo theo chuyên ngành

Thí điểm áp dụng Công cụ đánh giá nhu cầu đào tạo của Mạng lưới các tổ chức đào tạo thống kê toàn cầu tại Cục Thống kê

Nguồn: Dữ liệu điều tra thí điểm

Đối với nghiệp vụ sản xuất thống kê, khảo sát cho thấy tỷ lệ nhân sự trực tiếp tác nghiệp ở các khâu rất lớn. Mảng phân tích dữ liệu và xử lý dữ liệu ghi nhận sự tham gia của trên 65% người được khảo sát. Tuy nhiên, mức năng lực hiện tại chủ yếu tập trung ở mức cơ bản, tỷ lệ đạt trình độ nâng cao có khả năng tự giảng dạy hoặc biên soạn hướng dẫn chỉ chiếm chưa đầy 10%. Nhu cầu ưu tiên đào tạo cao nhất tập trung ở nội dung phân tích dữ liệu.

Hình 4: Nhu cầu đào tạo ưu tiên trong lĩnh vực sản xuất thống kê

Thí điểm áp dụng Công cụ đánh giá nhu cầu đào tạo của Mạng lưới các tổ chức đào tạo thống kê toàn cầu tại Cục Thống kê

Nguồn: Dữ liệu điều tra thí điểm

Ngoài ra, công cụ STAT được thiết kế để đánh giá năng lực của đội ngũ người làm công tác thống kê theo từng lĩnh vực công việc và nhóm kỹ năng cụ thể. Khung phân tích kỹ năng của công cụ gồm 157 kỹ năng, được phân thành các nhóm kỹ năng chính tương ứng với các chức năng công tác trong cơ quan thống kê như: hành chính và thư ký, nghiệp vụ tài chính, quản trị nhân sự, công nghệ thông tin, quản lý, truyền thông và phổ biến thông tin thống kê, sản xuất thống kê, thống kê chuyên ngành, nhóm kỹ năng chung cho các nhân viên. Bên cạnh các nhóm kiến thức và kỹ năng đã được đánh giá trong công cụ STAT, người tham gia khảo sát cũng được hỏi về các nhu cầu đào tạo bổ sung mà họ mong muốn. Kết quả thu thập được cho thấy sự quan tâm đa dạng, phản ánh xu hướng chuyển đổi số và nhu cầu nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ thống kê.

KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH ÁP DỤNG

Kết quả điều tra chọn mẫu thí điểm sử dụng công cụ STAT cho thấy, công cụ này có khả năng cung cấp cơ sở định lượng để nhận diện khoảng cách giữa năng lực hiện tại và năng lực cần thiết, đồng thời hỗ trợ xác định mức độ ưu tiên của nhu cầu đào tạo.

Trên cơ sở kết quả phân tích điều tra thí điểm, một số khuyến nghị được đề xuất như sau:

Một là, chuyển đổi sang mô hình học tập linh hoạt, giảm phụ thuộc vào đào tạo chính quy. Cục Thống kê có thể nghiên cứu áp dụng mô hình học tập 70-20-10; kết hợp linh hoạt giữa đào tạo chính quy, đào tạo tại chỗ, đào tạo có người hướng dẫn, và học trực tuyến. Cụ thể, cần xác định những nội dung phù hợp với từng hình thức, ví dụ các kỹ năng chuyên sâu có thể đào tạo có người hướng dẫn và đào tạo tại chỗ; các kiến thức nền tảng và công cụ mới (Python, R, AI) có thể học qua nền tảng trực tuyến miễn phí; chỉ những nội dung bắt buộc về tiêu chuẩn ngạch và các chủ đề chiến lược mới ưu tiên tổ chức lớp đào tạo chính quy.

Hai là, ưu tiên đào tạo theo nhóm vị trí việc làm và lĩnh vực thiếu hụt lớn. Cục Thống kê cần xây dựng kế hoạch đào tạo theo từng nhóm vị trí việc làm, ưu tiên các lĩnh vực còn thiếu hụt lớn và có nhu cầu cao như: khoa học dữ liệu, AI, dữ liệu lớn, dữ liệu hành chính, địa không gian, truyền thông thống kê, và các công cụ phân tích hiện đại. Đồng thời, cần lồng ghép và hợp nhất các chương trình đào tạo để tránh trùng lặp nội dung, tận dụng nguồn lực đào tạo hiện có và giảm chi phí.

Ba là, tăng cường sử dụng chuyên gia nội bộ và phát triển văn hóa học tập. Cục Thống kê cần nhận diện và phát huy vai trò của các chuyên gia nội bộ có trình độ cao trong từng lĩnh vực chuyên môn, để họ giữ vai trò là người hướng dẫn cho đồng nghiệp. Đồng thời, xây dựng và lan tỏa văn hóa học tập liên tục để phát triển năng lực, tạo môi trường khuyến khích chia sẻ kiến thức và học hỏi lẫn nhau.

Bốn là, xây dựng hồ sơ học tập cá nhân ghi nhận năng lực hiện có. Cục Thống kê cần triển khai xây dựng hồ sơ học tập cá nhân, để ghi chép năng lực hiện tại, năng lực cần đạt, khoảng cách năng lực, các khóa đào tạo đã tham gia và lộ trình phát triển năng lực trong tương lai của từng cá nhân. Đây là cơ sở để theo dõi sự phát triển chuyên môn, nghề nghiệp của mỗi người theo thời gian, từ đó bộ phận xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có căn cứ để xây dựng đội ngũ chuyên gia nội bộ cũng như khuyến khích văn hóa học tập tại cơ quan.

Năm là, xây dựng kế hoạch đào tạo hằng năm và trung hạn. Từ dữ liệu điều tra, Cục Thống kê cần sử dụng làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hằng năm và trung hạn, thay vì chỉ dựa trên mẫu biểu đăng ký truyền thống. Kế hoạch đào tạo cần được rà soát và điều chỉnh định kỳ dựa trên sự thay đổi của nhu cầu và yêu cầu công việc, đảm bảo tính cập nhật và phù hợp với định hướng hiện đại hóa ngành Thống kê và quá trình chuyển đổi số của NSS.

Sáu là, đảm bảo sự cam kết của lãnh đạo và phối hợp toàn hệ thống. Việc triển khai các khuyến nghị đào tạo tại Cục Thống kê cần có sự quan tâm, chỉ đạo thống nhất từ cấp Lãnh đạo Cục, sự tham gia tích cực của đơn vị phụ trách đào tạo, các đơn vị chuyên môn. Sự phối hợp này sẽ tạo điều kiện để kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo được khai thác hiệu quả trong quản trị nguồn nhân lực và chuyển hóa thành các hành động cụ thể.

Trên cơ sở phân tích kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm triển khai công cụ STAT tại một số quốc gia, đề xuất lộ trình áp dụng công cụ STAT tại Cục Thống kê theo 5 giai đoạn chính: (i) chuẩn bị và tham vấn, rà soát khung năng lực vị trí việc làm, Việt hóa và hiệu chỉnh công cụ; (ii) thực hiện khảo sát tại Cục Thống kê, sử dụng 2 bảng hỏi dành cho cá nhân và quản lý; (iii) thực hiện phân tích và xây dựng kế hoạch đào tạo; (iv) mở rộng khảo sát tới các cơ quan thống kê địa phương, thống kê bộ, ngành; (v) xây dựng chiến lược phát triển năng lực dài hạn.

Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả, công cụ STAT cần duy trì khảo sát định kỳ 2-3 năm/lần để cập nhật khoảng cách năng lực và điều chỉnh kế hoạch đào tạo phù hợp, đồng thời cần thiết lập hệ thống tài nguyên học tập để chia sẻ tài liệu các khóa đào tạo trong và ngoài nước giúp nhân sự tiếp cận tài liệu đào tạo một cách dễ dàng và đồng bộ.

KẾT LUẬN

Thực hiện điều tra thí điểm một bảng hỏi của công cụ STAT bước đầu cho thấy công cụ có tính khả thi và giá trị ứng dụng trong nhận diện khoảng cách năng lực và xác định ưu tiên đào tạo tại Cục Thống kê. Cụ thể, kết quả khảo sát cho thấy công cụ STAT đã cung cấp được một bộ dữ liệu định lượng có giá trị về khoảng trống năng lực của nhóm đối tượng điều tra.

Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu khẳng định công cụ STAT là một giải pháp mang tính hệ thống, giúp Cục Thống kê chuyển từ cách tiếp cận đào tạo mang tính bị động, dựa trên kinh nghiệm hoặc phụ thuộc vào nguồn cung sẵn có, sang cách tiếp cận chủ động, dựa trên bằng chứng và nhu cầu thực tế. Công cụ này không chỉ dừng lại ở việc xác định nhu cầu đào tạo mà còn hỗ trợ ưu tiên hóa, phân bổ nguồn lực hợp lý và xây dựng kế hoạch đào tạo có định hướng dài hạn, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa hệ thống thống kê quốc gia và quá trình chuyển đổi số.

Việc áp dụng công cụ STAT của GIST tại Cục Thống kê có thể là điểm khởi đầu cho quá trình chuyển đổi căn bản trong quản trị đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thống kê tại Việt Nam, là bước đi chiến lược nhằm chuyển đổi công tác đào tạo ngành thống kê dựa trên bằng chứng định lượng.

Tài liệu tham khảo:

1. DANE (2024). Experience of Colombia in the pilot test of the Statistical Training Assessment Tool Pilot STAT. https://unstats.un.org/UNSDWebsite/statcom/session_55/sideevents/gist_STAT/ColombiaExperience-STAT.pdf

2. GIST (2024). Statistical Training needs Assessment Tool (STAT). https://unstats.un.org/gist/resources/statistical-training-needs-assessment-tool/#overview

3. UNESCAP (2024). Staff skills and institutional transformation of national statistical offices: Experience of the Ghana Statistical Service using Statistical Training Needs Assessment Tool (STAT) in identifying staff skills gap for capacity strengthening. https://www.unescap.org/sites/default/d8files/event-documents/Ghana_STAT_StatsCafe_30Sep2024.pdf

4. UNITAR (2024). GIST empowers national statistical offices to adopt country-owned, innovative and sustainable approaches to capacity-building. https://unitar.org/about/news-stories/news/gist-empowers-national-statistical-offices-adopt-country-owned-innovative-and-sustainable-approaches

5. UNSD (2025a). Developing skills, telling stories: The Seychelles National Bureau of Statistics is enhancing its skills and visibility. https://unstats.un.org/UNSDWebsite/capacity-development/stories-blog-details/nso-data-viz-use

6. UNSD (2025b). Statistical Training needs Assessment Tool: Guidance document. https://unstats.un.org/gist/resources/STAT/Statistical-Training-needs-Assessment-Tool-STAT-clickable.pdf

Ngày nhận bài: 20/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026

Các tin khác

Thực tiễn xây dựng và thực thi chính sách phát triển bền vững tại Liên minh châu Âu giai đoạn 2015-2025 và hàm ý đối với Việt Nam

Thực tiễn xây dựng và thực thi chính sách phát triển bền vững tại Liên minh châu Âu giai đoạn 2015-2025 và hàm ý đối với Việt Nam

Giai đoạn 2015-2025, EU từng bước chuyển các cam kết phát triển bền vững thành nghĩa vụ pháp lý, tín hiệu thị trường và điều kiện tiếp cận vốn.
Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam

Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 528 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam để mô tả thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm, đối chiếu với thực trạng hoạt động đổi mới sản phẩm, từ đó gợi mở một số hàm ý quản trị và chính sách.
Thị trường lao động nghề môi giới bất động sản ở Việt Nam: Thực trạng và xu hướng chuyển dịch

Thị trường lao động nghề môi giới bất động sản ở Việt Nam: Thực trạng và xu hướng chuyển dịch

Nghề môi giới bất động sản đóng vai trò trung gian kết nối giữa cung - cầu, góp phần định hướng nhu cầu nhà ở, đầu tư phù hợp, giảm rủi ro giao dịch bất hợp pháp, đồng thời hỗ trợ quản lý thị trường cho cơ quan nhà nước thông qua dữ liệu và phản hồi thị trường.
Ưu tiên chính sách khuyến khích đầu tư công tư cho hạ tầng tái chế rơm rạ ở Đồng bằng sông Hồng: Tiếp cận từ mô hình phân tích thứ bậc

Ưu tiên chính sách khuyến khích đầu tư công tư cho hạ tầng tái chế rơm rạ ở Đồng bằng sông Hồng: Tiếp cận từ mô hình phân tích thứ bậc

Mặc dù có tiềm năng lớn về nguồn sinh khối nông nghiệp, song hiệu quả thu gom và sử dụng rơm rạ tại Đồng bằng sông Hồng vẫn còn hạn chế do tỷ lệ đốt bỏ và vùi trực tiếp tại ruộng còn cao, trong khi các hoạt động thu gom và tái sử dụng chưa được tổ chức rộng rãi.
Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk

Quản lý sản xuất sầu riêng theo hướng bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk

Sầu riêng là cây trồng quan trọng, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk. Quản lý sản xuất sầu riêng tại xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk có những kết quả tích cực, song còn hạn chế về an toàn lao động, sử dụng nước, xử lý chất thải và thực hiện cam kết tiêu thụ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái: Nghiên cứu trường hợp tại xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa

Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển du lịch nông thôn, du lịch sinh thái đang là xu thế phát triển bền vững tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Xã Ninh Hải (tỉnh Khánh Hòa) sở hữu những điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù, rất thích hợp cho việc phát triển cây nho - loại cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao và tạo cảnh quan độc đáo.
Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm

Từ nhận diện đến kết nối: Mô hình 4C thiết kế trải nghiệm điểm chạm tại Cù Lao Chàm

Tại điểm đến văn hóa - sinh thái, từng sản phẩm có thể hoạt động tốt nhưng hành trình vẫn đứt gãy nếu nhận diện thiếu nội dung xác thực, diễn giải không gắn đúng nơi, tương tác biến cư dân thành người trình diễn hoặc trải nghiệm không mở ra hành động tiếp theo.
Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Minh bạch hóa và quyền phản hồi trong quản lý rủi ro thuế ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Trong bối cảnh áp dụng cơ chế tự khai, tự tính và tự nộp, cơ quan Thuế không thể duy trì nguồn lực để kiểm tra toàn diện mọi người nộp thuế với cùng một mức độ. Do đó, quản lý rủi ro trở thành phương thức cốt lõi để phân bổ hiệu quả nguồn lực: dữ liệu được thu thập và phân tích nhằm nhận diện khả năng không tuân thủ, xác định thứ tự ưu tiên thanh tra, kiểm tra và lựa chọn các biện pháp quản lý phù hợp.
Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của thanh toán số đến hành vi mua sắm trực tuyến của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh

Thanh toán số ngày càng tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến, góp phần thay đổi thói quen tiêu dùng và nâng cao trải nghiệm mua sắm của khách hàng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo: Nghiên cứu trường hợp Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Việc đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo không chỉ là một yêu cầu về mặt quản lý, mà còn là một chiến lược sống còn để thu hút và giữ chân người học, đảm bảo đầu ra đáp ứng được kỳ vọng của nhà tuyển dụng.