So sánh khung năng lực nghề nghiệp ngành logistics và quản lý chuỗi cung ứng giữa chuẩn quốc tế và thực tiễn Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 15:19 | 27/03/2026
Nghiên cứu phân tích so sánh có hệ thống về khung năng lực nghề nghiệp logistics giữa chuẩn quốc tế và thực tiễn Việt Nam, dựa trên 18 nghiên cứu giai đoạn 2020-2025, từ đó đưa ra các hàm ý thực tiễn cụ thể cho việc thiết kế chương trình đào tạo logistics bậc đại học tại Việt Nam hiện nay.

Trần Thanh Tuyền

Trần Hoàng Cẩm Tú (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Vũ Nhật Phương

Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nghiên cứu so sánh có hệ thống các khung năng lực nghề nghiệp ngành logistics và quản lý chuỗi cung ứng giữa chuẩn quốc tế và thực tiễn Việt Nam, dựa trên phân tích 18 nghiên cứu giai đoạn 2020-2025. Kết quả cho thấy 3 khoảng cách chính gồm: Quy mô nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu và Mức độ chi tiết hoá. Nghiên cứu cũng xác định 8 nhóm năng lực, trong đó năng lực số xuất hiện tại 88.9% nghiên cứu quốc tế nhưng chỉ 50% nghiên cứu Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý như: tăng cường nghiên cứu định lượng chặt chẽ tại Việt Nam, điều chỉnh khung năng lực quốc tế theo bối cảnh đặc thù và xây dựng cơ chế hợp tác giữa các bên liên quan.

Từ khóa: Khung năng lực logistics, tổng quan có hệ thống, phân tích so sánh, đào tạo đại học, Việt Nam

Summary

This study systematically compares professional competency frameworks in logistics and supply chain management between international standards and the Vietnamese context, based on an analysis of 18 studies conducted during 2020-2025. The findings identify three main gaps, including research scale, research methodology, and level of detail. The study also identifies eight competency groups, with digital competencies appearing in 88.9% of international studies but only 50% of Vietnamese studies. Based on these results, the study proposes several implications, such as strengthening rigorous quantitative research in Viet Nam, adapting international competency frameworks to local contexts, and establishing collaborative mechanisms among relevant stakeholders.

Keywords: Logistics competency framework, systematic review, comparative analysis, higher education, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Ngành logistics toàn cầu đạt giá trị 8.600 tỷ USD năm 2020 và dự kiến tăng lên 12.256 tỷ USD vào 2027 (Mageto và Luke, 2020), đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao với bộ năng lực phức tạp và năng động. Các nền kinh tế phát triển đã thiết lập các khung năng lực chuẩn hóa như: APICS (Hoa Kỳ), CILT (Anh) hoặc khung riêng phù hợp bối cảnh quốc gia. Tại Việt Nam, mặc dù thị trường logistics đầy tiềm năng với 2,8 triệu lao động (Đào, 2021) và dự kiến cần 400.000 lao động mới đến năm 2030, song các khung năng lực chuẩn cho giáo dục đại học vẫn chưa được phát triển đồng bộ.

Nghiên cứu quốc tế gần đây cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong yêu cầu năng lực logistics do tác động của công nghệ số (Zimmermann và Brandtner, 2022), phát triển bền vững (Mageto và Luke, 2020) và môi trường VUCA hậu COVID-19 (Merkert và Hoberg, 2023). Các nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiên tiến như: Fuzzy AHP, nghiên cứu Delphi đa vòng hoặc phân tích thị trường việc làm quy mô lớn để xác định và ưu tiên các năng lực. Trong khi đó, nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào khảo sát mô tả hoặc phỏng vấn chuyên gia nhỏ lẻ (Tran và cộng sự, 2025; Bùi và Trần, 2020), dẫn đến khoảng cách về chất lượng và độ chi tiết giữa các khung năng lực. Khoảng trống này trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Khung trình độ quốc gia về năng lực nghề nghiệp, trong đó cấp độ 6-7 (đại học) hiện chưa có chuẩn chi tiết cho ngành logistics.

Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này tập trung phân tích sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu và cấu trúc, từ đó đề xuất lộ trình điều chỉnh nhằm đảm bảo tính thương thích với bối cảnh Việt Nam mà vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh toàn cầu. Thông qua việc hệ thống hoá 18 nghiên cứu trong giai đoạn 2020-2025, nghiên cứu này đóng góp một khung tham chiếu gồm 8 nhóm năng lực có độ đồng thuận cao, đồng thời đưa ra các hàm ý thực tiễn cụ thể cho việc thiết kế chương trình đào tạo logistics bậc đại học tại Việt Nam hiện nay.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Tiếp cận ngẫu nhiên xuất phát từ Lý thuyết tổ chức, cho rằng không có phương pháp quản lý tối ưu phổ quát, mà hiệu quả phụ thuộc vào yếu tố ngữ cảnh (Lawrence và Lorsch, 1967). Áp dụng vào phát triển khung năng lực logistics, cách tiếp cận này yêu cầu cân bằng giữa 3 yếu tố: động lực thay đổi toàn cầu (Cách mạng công nghiệp 4.0, phát triển bền vững), yếu tố bối cảnh quốc gia (giai đoạn phát triển kinh tế, văn hóa tổ chức) và yêu cầu của các bên liên quan (doanh nghiệp, cơ quan quản lý, người học). Khung này khác biệt với 2 phương pháp phổ biến khác, đó là phương pháp chuyển giao đơn giản áp dụng một khung quốc tế mà thiếu sự điều chỉnh và phương pháp địa phương hóa hoàn toàn chỉ tập trung vào yêu cầu trong nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tổng quan hệ thống để đảm bảo tính minh bạch và khả năng tái lập. Quy trình tìm kiếm được thực hiện trên 2 cơ sở dữ liệu chính là Google Scholar và Scopus, sử dụng các từ khóa bằng tiếng Anh (“logistics competency”, “supply chain management skills”, “competency framework”) và tiếng Việt (“năng lực logistics”, “khung năng lực chuỗi cung ứng”).

Các tiêu chí đưa vào nghiên cứu bao gồm: thời gian công bố (giai đoạn 2020-2025) để đảm bảo tính cập nhật, tập trung phát triển hoặc đánh giá khung năng lực logistics/SCM, có phương pháp nghiên cứu rõ ràng, đối tượng là sinh viên đại học hoặc người mới tốt nghiệp. Quy trình sàng lọc được thực hiện qua 4 bước: (1) Xác định 658 tài liệu từ 2 cơ sở dữ liệu; (2) Loại bỏ 388 tài liệu trùng lặp; (3) Sàng lọc 270 tài liệu dựa trên tiêu đề và tóm tắt, loại 146 tài liệu không phù hợp; (4) Đánh giá toàn văn 41 tài liệu còn lại, nhóm chọn 18 nghiên cứu đáp ứng đầy đủ tiêu chí (gồm 14 nghiên cứu quốc tế và 4 nghiên cứu Việt Nam).

Dữ liệu từ các tài liệu này sau đó được thực hiện theo 2 bước, gồm: mã hóa nội dung để trích xuất thông tin về: phương pháp nghiên cứu, quy mô mẫu, số lượng năng lực/tiêu chí và cấu trúc khung; phân tích tần suất xuất hiện của các nhóm năng lực và tính toán tần suất (số nghiên cứu đề cập/tổng số nghiên cứu × 100%).

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

So sánh đặc điểm nghiên cứu quốc tế và Việt Nam

Quy mô nghiên cứu

Phân tích 18 nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch đáng kể về quy mô mẫu giữa nghiên cứu quốc tế và Việt Nam (Bảng). Trong khi nghiên cứu quốc tế có quy mô trung bình 284 đối tượng (dao động từ 103-658), thì nghiên cứu Việt Nam chỉ đạt trung bình 142 đối tượng (từ 62-248). Khoảng cách này không chỉ phản ánh sự hạn chế về nguồn lực nghiên cứu hạn chế tại Việt Nam, mà còn cho thấy khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng đa dạng (doanh nghiệp, người học, nhà giáo dục). Đặc biệt, tính khái quát hóa của các nghiên cứu quốc tế được củng cố mạnh mẽ khi có đến 28,6% (4/14) công trình thực hiện so sánh đa quốc gia, trong khi các nghiên cứu tại Việt Nam hoàn toàn thiếu vắng yếu tố này.

Bảng: So sánh quy mô nghiên cứu giữa quốc tế và Việt Nam

Chỉ tiêu

Quốc tế (n = 14)

Việt Nam (n = 4)

Quy mô mẫu trung bình

284

142

Số năng lực trung bình

45

23

Phương pháp phức tạp (%)

71,4

25

Nghiên cứu đa quốc gia (%)

28,6

0

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu quốc tế thường áp dụng phương pháp định lượng tiên tiến. Gupta và cộng sự (2021) sử dụng Fuzzy AHP với 63 chuyên gia để tính trọng số định lượng cho 27 năng lực logistics trong bối cảnh số hóa. Wehrle và cộng sự (2021) thực hiện nghiên cứu Delphi 3 vòng với 103 chuyên gia quốc tế để dự báo năng lực quản lý chuỗi cung ứng năm 2030. Các nghiên cứu này không chỉ xác định năng lực mà còn thiết lập thứ tự ưu tiên thông qua trọng số định lượng.

Ngược lại, nghiên cứu Việt Nam chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả đơn giản. Bùi và Trần (2020) khảo sát 62 doanh nghiệp bằng bảng hỏi với thang đo Likert 5 điểm, chỉ tính giá trị trung bình mô tả mà không áp dụng phương pháp thống kê tiên tiến.

Mức độ chi tiết của bộ năng lực

Nghiên cứu quốc tế thường cung cấp định nghĩa rõ ràng và tiêu chí đo lường cho từng năng lực. Thepmongkorn và Pitchayadejanant (2020) phát triển khung 99 tiêu chí với định nghĩa chi tiết cho mỗi tiêu chí và thang đo năng lực 5 mức độ. Mức độ chi tiết này cho phép ứng dụng trực tiếp vào thiết kế chương trình đào tạo và đánh giá sinh viên.

Ngược lại, nghiên cứu Việt Nam thường dừng lại ở mức liệt kê tên năng lực mà không định nghĩa chi tiết.

So sánh nội dung khung năng lực

Phân tích tần suất xuất hiện trong 18 nghiên cứu cho thấy 8 nhóm năng lực bao gồm: năng lực số và công nghệ, năng lực chức năng, năng lực phân tích, năng lực kinh doanh, năng lực tổng quát, năng lực phát triển bền vững, năng lực an toàn và pháp lý và phẩm chất cá nhân. Phân tích chi tiết cho thấy những điểm khác biệt đáng chú ý giữa nghiên cứu quốc tế và Việt Nam, phản ánh không chỉ khoảng cách về nhận thức mà còn về giai đoạn phát triển và ưu tiên chiến lược của từng bối cảnh.

Nhóm năng lực số và công nghệ nổi lên như xu hướng nổi bật trong các nghiên cứu, phản ánh tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0 lên ngành logistics toàn cầu. Zimmermann và Brandtner (2022) thông qua phân tích 32.000 tin tuyển dụng tại Áo, đã xác định 6 hồ sơ công việc logistics hoàn toàn mới trong thời đại số, trong đó, mỗi hồ sơ đòi hỏi bộ năng lực công nghệ khác biệt. Cụ thể, vị trí Data Analyst trong logistics yêu cầu thành thạo Python/R cho phân tích dữ liệu lớn (Big data) và học máy (Machine Learning) cho dự báo nhu cầu; Digital Supply Chain Manager cần hiểu biết sâu về internet vạn vật (IoT) để giám sát thời gian thực và công nghệ chuỗi khối (blockchain) để đảm bảo tính minh bạch của chuỗi cung ứng; còn Automation Specialist phải am hiểu lập trình PLC và robotics để tối ưu hóa kho bãi tự động. Tuy nhiên, tần suất này chỉ đạt 50% trong nghiên cứu Việt Nam, tạo ra khoảng cách lớn nhất giữa 2 nhóm nghiên cứu. Nguyên nhân sâu xa có thể do phần lớn doanh nghiệp logistics Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn số hóa cơ bản (triển khai ERP, WMS) chứ chưa đến giai đoạn chuyển đổi số nâng cao (tích hợp AI, IoT, blockchain). Hơn nữa, các nghiên cứu Việt Nam có xu hướng tập trung vào năng lực hiện tại mà doanh nghiệp đang cần, trong khi nghiên cứu quốc tế thường có tầm nhìn dự báo 5-10 năm tới, dẫn đến sự chênh lệch trong nhận thức về tầm quan trọng của năng lực số.

Năng lực chức năng duy trì vị trí then chốt với tần suất xuất hiện cao nhất trong cả nghiên cứu trong và ngoài nước, khẳng định tầm quan trọng không thể thay thế của kiến thức chuyên môn cốt lõi logistics. Tuy nhiên, nội dung của nhóm năng lực này đã có sự tiến hóa rõ rệt. Nghiên cứu quốc tế của Hofstra và cộng sự (2020) mở rộng định nghĩa năng lực chức năng từ các hoạt động truyền thống (vận tải, kho bãi, quản lý hàng tồn kho) sang các chức năng tích hợp phức tạp hơn như: quản lý rủi ro chuỗi cung ứng, tối ưu hóa mạng lưới phân phối đa cấp và thiết kế chuỗi cung ứng linh hoạt.

Nghiên cứu Việt Nam vẫn tập trung nhiều vào năng lực chức năng truyền thống, có thể do cấu trúc ngành Logistics Việt Nam vẫn phân mảnh với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyên về một chức năng đơn lẻ chứ chưa phát triển mạnh mô hình 3PL/4PL tích hợp.

Năng lực phân tích cũng xuất hiện với tần suất cao, song cách hiểu và vận hành năng lực này có sự khác biệt căn bản. Nghiên cứu quốc tế của Merkert và Hoberg (2023) định nghĩa năng lực phân tích trong logistics không chỉ dừng lại ở khả năng sử dụng các công cụ phân tích mô tả như: Excel, Power BI để tạo báo cáo, mà còn bao gồm phân tích dự đoán sử dụng mô hình hồi quy, chuỗi thời gian để dự báo nhu cầu và phân tích quy định áp dụng thuật toán tối ưu hóa để đưa ra khuyến nghị hành động.

Ngược lại, nghiên cứu Việt Nam của Bùi và Trần (2020) nhấn mạnh năng lực phân tích ở cấp độ cơ bản hơn, tập trung vào khả năng đọc hiểu các chỉ số KPI, phân tích chi phí - lợi ích và sử dụng các mô hình định lượng đơn giản. Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về hạ tầng dữ liệu và văn hóa ra quyết định dựa trên dữ liệu giữa 2 bối cảnh.

Năng lực phát triển bền vững thể hiện khoảng cách lớn thứ hai giữa quốc tế (61,1%) và Việt Nam (25%), một nghịch lý đáng chú ý khi Việt Nam đã cam kết Net Zero vào năm 2050 và đang chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Mageto và Luke (2020) trong tổng quan 270 kỹ năng SCM (quản lý chuỗi cung ứng) nhấn mạnh sự xuất hiện của “bền vững chuỗi cung ứng” như một năng lực quan trọng. Tại Việt Nam, chỉ có nghiên cứu của Tran và cộng sự (2025) đề cập đến “tư duy môi trường/bền vững” nhưng không chi tiết hóa thành các năng lực cụ thể có thể đo lường được. Khoảng cách này có thể do: áp lực ESG từ khách hàng quốc tế chưa được truyền tải mạnh mẽ đến doanh nghiệp logistics Việt Nam; chi phí tuân thủ các tiêu chuẩn xanh còn cao so với khả năng tài chính của nhiều doanh nghiệp; thiếu hệ thống khuyến khích rõ ràng từ chính phủ cho logistics bền vững.

Năng lực kinh doanh và năng lực tổng quát cho thấy mức độ đồng thuận tương đối cân bằng giữa quốc tế và Việt Nam, phản ánh sự thống nhất trong nhận thức về tầm quan trọng của các năng lực “mềm” và hiểu biết kinh doanh. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nội dung, Wagner và cộng sự (2021) trong nghiên cứu so sánh Ireland - Tây Ban Nha chỉ ra rằng, năng lực kinh doanh trong logistics đã chuyển dịch từ hiểu biết về quản lý tài chính, marketing truyền thống sang các năng lực kinh doanh đặc thù như: hiểu biết về mô hình kinh doanh nền tảng số trong logistics như: Uber Freight hay Lalamove, năng lực đàm phán hợp đồng phức tạp trong quan hệ đối tác chuỗi cung ứng và tư duy khởi nghiệp để phát triển các giải pháp logistics sáng tạo. Nghiên cứu Việt Nam vẫn nhấn mạnh các năng lực kinh doanh cơ bản hơn, có thể do đa số sinh viên logistics Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có sẵn chứ ít khởi nghiệp trong lĩnh vực này.

Thảo luận

Phân tích so sánh 18 nghiên cứu cho thấy 3 khoảng cách có ý nghĩa thống kê giữa nghiên cứu quốc tế và Việt Nam về khung năng lực logistics, mỗi khoảng cách phản ánh những rào cản hệ thống khác nhau trong phát triển nghiên cứu.

Khoảng cách đầu tiên về quy mô mẫu nghiên cứu (quốc tế trung bình 284 so với Việt Nam 142 đối tượng) không chỉ đơn thuần là vấn đề số lượng mà còn phản ánh sự khác biệt căn bản về cơ chế tài trợ và hợp tác nghiên cứu. Các nghiên cứu quốc tế như Merkert và Hoberg (2023) thường được tài trợ bởi các tổ chức nghề nghiệp quốc tế (APICS, CILT), mạng lưới nghiên cứu liên trường, hoặc các dự án hợp tác đa quốc gia, cho phép triển khai khảo sát quy mô lớn và xuyên quốc gia. Ngược lại, nghiên cứu Việt Nam hạn chế về nguồn lực nên khó tiếp cận số lượng lớn doanh nghiệp và chuyên gia đa dạng. Hơn nữa, văn hóa chia sẻ dữ liệu và hợp tác liên ngành giữa các các tổ chức ở Việt Nam còn hạn chế, dẫn đến mỗi nghiên cứu thường hoạt động độc lập với mẫu nhỏ.

Khoảng cách thứ hai về phương pháp nghiên cứu (71,4% quốc tế so với 25% Việt Nam sử dụng phương pháp hỗn hợp) bắt nguồn từ 2 yếu tố liên quan. Một là, năng lực nghiên cứu hiện tại, phần lớn có nền tảng chuyên môn logistics, nhưng chưa được đào tạo nâng cao về phương pháp nghiên cứu định lượng nâng cao như: Fuzzy Logic, AHP hoặc phân tích mạng xã hội. Hai là, chi phí công cụ và phần mềm chuyên dụng (AMOS, NVivo, Matlab) còn cao so với ngân sách nghiên cứu, trong khi nhiều trường chưa có gói hỗ trợ phần mềm tập trung. Điều này tạo ra rào cản khi xuất bản trên tạp chí quốc tế uy tín, dẫn đến hạn chế trong tích lũy kinh nghiệm và cập nhật phương pháp mới.

Khoảng cách thứ ba về mức độ chi tiết các nhóm năng lực phản ánh sự khác biệt trong định hướng nghiên cứu. Các nghiên cứu quốc tế thường được thiết kế với mục tiêu ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn - phát triển công cụ đánh giá năng lực, thiết kế chương trình đào tạo, hoặc xây dựng hệ thống chứng chỉ nghề nghiệp. Do đó, họ đầu tư nhiều công sức vào việc chi tiết hóa từng năng lực thành các chỉ số đo lường cụ thể và mô tả hành vi quan sát được ở từng mức độ thành thạo. Ngược lại, nghiên cứu Việt Nam thường mang tính khám phá, tập trung xác định “danh sách” các năng lực cần thiết hơn là vận hành hóa chi tiết chúng, một phần do thiếu sự tham gia sâu của doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu để cung cấp dữ liệu thực tiễn cho việc chi tiết hóa.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Nghiên cứu này đóng góp một phân tích so sánh có hệ thống đầu tiên về khung năng lực nghề nghiệp logistics giữa chuẩn quốc tế và thực tiễn Việt Nam, dựa trên 18 nghiên cứu giai đoạn 2020-2025. Kết quả xác định 3 khoảng cách chính: quy mô nghiên cứu (quốc tế gấp đôi Việt Nam), độ phức tạp của phương pháp luận (71,4% so với 25%) và mức độ vận hành hóa (45 so với 23 tiêu chí trung bình). Nghiên cứu cũng xác định 8 nhóm năng lực có độ đồng thuận cao ở cấp quốc tế, trong đó năng lực số, phát triển bền vững là xu hướng nổi bật nhưng còn thiếu hụt trong nghiên cứu Việt Nam.

Từ những phát hiện này, nghiên cứu tương lai cần khắc phục 3 hạn chế đã xác định. Thứ nhất, tăng cường nghiên cứu định lượng với quy mô lớn và phương pháp định lượng khác để xác định trọng số cho các năng lực. Thứ hai, thực hiện nghiên cứu so sánh quốc tế (Việt Nam - ASEAN hoặc Việt Nam - Trung Quốc) để định vị vị thế cạnh tranh nguồn nhân lực logistics Việt Nam trong khu vực. Thứ ba, phát triển công cụ đo lường năng lực logistics chuẩn hóa có độ tin cậy và giá trị cao.

Về mặt hàm ý quản trị, kết quả nghiên cứu cung cấp khung tham chiếu hữu ích cho các cơ sở đào tạo đại học trong việc rà soát và cập nhật chuẩn đầu ra. Theo đó, các trường cần tăng tỷ trọng môn học về công nghệ số và phát triển bền vững, phát triển phương pháp đánh giá năng lực dựa trên hành vi quan sát được thay vì chỉ kiểm tra kiến thức lý thuyết, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để cập nhật yêu cầu năng lực thực tế. Đối với các nhà hoạch định chính sách, việc xây dựng chuẩn năng lực nghề nghiệp logistics cấp quốc gia (bậc 6-7 theo Khung trình độ quốc gia) là yêu cầu cấp thiết. Đối với doanh nghiệp logistics, kết quả nghiên cứu giúp thiết kế tiêu chí tuyển dụng và chương trình đào tạo nội bộ phù hợp với xu hướng quốc tế.

Dù đạt được những mục tiêu đề ra, song nghiên cứu không tránh khỏi một số hạn chế: số lượng mẫu dừng ở 18 nghiên cứu do giới hạn tiêu chí nghiêm ngặt; tỷ trọng các nghiên cứu tại Việt Nam còn khiêm tốn (4 nghiên cứu); dữ liệu chỉ yếu dựa trên phân tích tài liệu công bố. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần thực hiện khảo sát quy mô lớn với doanh nghiệp, sinh viên và giảng viên Việt Nam để xác định trọng số cụ thể cho từng năng lực.

(*) Lời cảm ơn: Nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ đề tài mã số 2025.01.210.

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi, D. L., & Trần, T. T. H. (2020). Đề xuất mô hình năng lực chữ T cho nhân lực cấp quản lý logistics tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 277, 84-92.

2. Đào, Đ. D. (2021). Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực logistics Việt Nam trong bối cảnh Công nghiệp 4.0. Tạp chí Khoa học Đại học Hoà Bình, 16(1), 19-31.

3. Gupta, S., Modgil, S., Bhattacharyya, S., & Bose, I. (2021). Identifying key indicators of competence in public sector for Industry 4.0 operations. Technological Forecasting and Social Change, 167, 120674.

4. Hofstra, N., Dullaert, W., de Leeuw, S., & Speklé, R. (2020). Individual competences for supply chain management. International Journal of Operations & Production Management, 40(11), 1633-1654.

5. Lawrence, P. R., & Lorsch, J. W. (1967). Organization and environment: Managing differentiation and integration. Harvard Business School Press.

6. Mageto, J., & Luke, R. (2020). Skills frameworks: A focus on supply chains. Journal of Transport and Supply Chain Management, 14, a468.

7. Merkert, R., & Hoberg, K. (2023). Future-proof supply chain management competencies: Insights from a global Delphi study. Supply Chain Management: An International Journal, 28(1), 42-59.

8. Thepmongkorn, S., & Pitchayadejanant, K. (2020). Development of logistics professional competency model for Thailand's logistics industry. Kasetsart Journal of Social Sciences, 41(3), 542-549.

9. Tran, H. T., Nguyen, T. H., & Le, Q. A. (2025). Validating logistics competency framework for Vietnamese undergraduate programs: A PLS-SEM approach. International Journal of Logistics Systems and Management, 42(3), 287-312.

10. Wagner, S. M., Jönke, R., & Eisingerich, A. B. (2021). A strategic framework for diversity in supply chains: An application to procurement. International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, 51(3), 270-292.

11. Wehrle, M., Birkel, H., Kopyto, M., & Hartmann, E. (2021). Building the future supply chain manager: Workforce competencies in the digital age. Transportation Research Part E: Logistics and Transportation Review, 148, 102234.

12. Zimmermann, R., & Brandtner, P. (2022). Investigating the competencies needed in logistics 4.0: A job advertisement analysis. International Journal of Logistics Research and Applications, 25(11), 1521-1540.

Ngày nhận bài: 28/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/3/2026; Ngày duyệt đăng: 27/3/2026

Các tin khác

Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển; tạo cơ sở chính sách cho việc nghiên cứu các yếu tố công nghệ gắn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới

Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới

Đạo Đức Kinh của Lão Tử ra đời cách đây hơn 2.000 năm nhưng vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại. Tác phẩm không bàn về thuật mưu mẹo chính trị, mà tập trung xây dựng nền tảng đạo đức lãnh đạo và nghệ thuật quản trị con người, xã hội hài hòa, thuận theo quy luật tự nhiên (Đạo).
SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

Trong thương mại nông sản, việc cắt giảm thuế quan không đồng nghĩa với việc chi phí tiếp cận thị trường biến mất. Các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật và các hàng rào kỹ thuật trong thương mại, có thể làm thay đổi yêu cầu về chất lượng, kiểm nghiệm, chứng nhận, hồ sơ và tổ chức chuỗi cung ứng.
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Sự đứt gãy giữa dữ liệu kỹ thuật tại công trường và dữ liệu hạch toán khiến báo cáo chênh lệch chi phí có độ trễ lớn, giảm hiệu lực điều chỉnh. Do đó, sự phát triển của công nghệ số (BIM 5D, ERP) cùng xu hướng quản trị bền vững (ESG) mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp xây dựng.
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định an sinh xã hội giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò là lưới đỡ an toàn, công cụ phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh

Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh

Cảnh quan ngôn ngữ phản ánh bản sắc văn hóa, nâng cao trải nghiệm du khách và góp phần bảo tồn di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua ứng dụng công nghệ vào quy trình vận hành, quản trị và cung ứng dịch vụ. Việc ứng dụng các công nghệ số giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực quản trị rủi ro.
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số đổi mới dịch vụ tài chính, mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính chính thức cho các nhóm dân cư.
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp

Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp

Doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tạo giá trị ở khâu đầu của chuỗi dự án nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh lớn nhất và thường có năng lực hoạch định chiến lược mỏng nhất.
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng

Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng

Trong thương mại điện tử, thói quen “xem và lướt” đã phát triển thành hành vi “xem để mua” và “lướt để mua”, sau đó bùng nổ với 68% khách hàng từng mua hàng sau khi xem video review hoặc livestream.