Phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số ở TP. Huế
TS. Hà Thị Hằng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Email: [email protected]
Tóm tắt
Triển khai Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 1/4/2026 của Thành ủy Huế về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035, trong bối cảnh chuyển đổi số, nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo TP. Huế phải đáp ứng yêu cầu mới cao hơn cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng. Bài viết tập trung đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo từ năm 2021-2025 trên địa bàn, từ đó đề xuất triển khai đồng bộ nhiều giải pháp liên quan.
Từ khóa: Nguồn nhân lực, giáo dục - đào tạo, chuyển đổi số, TP. Huế
Abstract
In the context of digital transformation and the implementation of Resolution No. 05-NQ/TU dated April 1, 2026, issued by the Hue City Party Committee on breakthroughs in science and technology, innovation, and digital transformation for the period of 2026-2030, with a vision to 2035, human resources in Hue City’s education and training sector are required to meet higher demands in terms of quantity, structure, and quality. The study examines the current state of human resource development in the city’s education and training sector during the period of 2021-2025. Accordingly, a range of related solutions is proposed for coordinated implementation.
Keywords: human resources, education and training, digital transformation, Hue City
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển, song ở mỗi giai đoạn và trình độ phát triển khác nhau lại đặt ra những yêu cầu riêng đối với số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực. Trong những năm qua, TP. Huế rất quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo (NNLGD-ĐT), đến nay TP đã có 18.566 người thuộc các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và 3.575 người thuộc Đại học Huế. Trong đó có 3.648 người có trình độ sau đại học 15.999 đại học, tuy nhiên, NNLGD-ĐT của Thành phố vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng. Vì vậy, để TP. Huế trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao theo Nghị quyết số 05-NQ/TU, thì việc phát triển NNLGD-ĐT đóng vai trò then chốt.
BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC - GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số (CĐS) đã trở thành xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực, nhất là trong giáo dục - đào tạo. Đặc biệt, CĐS không chỉ làm thay đổi phương thức dạy học, quản trị giáo dục mà còn tác động sâu sắc đến yêu cầu phát triển NNLGD-ĐT.
Thứ nhất, quá trình CĐS sẽ làm gia tăng nhu cầu về nguồn nhân lực có kỹ năng số, không chỉ là đội ngũ giáo viên, giảng viên công nghệ thông tin, mà bao gồm cả là đội ngũ giáo viên, giảng viên không chuyên về công nghệ thông tin và cán bộ quản lý giáo dục phải có năng lực ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động chuyên môn. Đồng thời, CĐS thúc đẩy sự hình thành các vị trí việc làm mới như chuyên gia công nghệ giáo dục (EdTech), chuyên viên thiết kế học liệu số… Bên cạnh đó, các vị trí mang tính chất thủ công, hành chính truyền thống có xu hướng giảm dần do tác động của quá trình tự động hóa và số hóa các quy trình quản lý và vận hành.
Thứ hai, CĐS làm biến đổi căn bản hệ tiêu chuẩn đối với NNLGD-ĐT. Trong đó, năng lực số dần trở thành năng lực cốt lõi, cần thiết gắn liền với khả năng ứng dụng công nghệ, khai thác và xử lý dữ liệu trong hoạt động dạy học và quản lý giáo dục. Ngoài ra, các năng lực như đổi mới sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng thích ứng với môi trường biến đổi ngày càng nhanh của công nghệ. Đặc biệt, năng lực cá nhân hóa quá trình dạy học dựa trên dữ liệu người học trở thành yêu cầu quan trọng trong bối cảnh giáo dục số. Việc nâng cao chuẩn năng lực nghề nghiệp sẽ thúc đẩy nhà giáo phải học tập suốt đời và phát triển chuyên môn liên tục. CĐS mở rộng không gian và phương thức đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập suốt đời.
Thứ ba, CĐS làm biến đổi sâu sắc phương thức phát triển theo hướng linh hoạt và hiện đại. Quá trình này thể hiện ở sự chuyển dịch từ mô hình đào tạo truyền thống sang đào tạo số hóa, thích ứng với nhiều hình thức học tập khác nhau; từ cách tiếp cận đại trà sang chú trọng cá nhân hóa người học; từ tư duy học tập một lần sang học tập suốt đời. Đồng thời, hệ thống giáo dục cũng chuyển từ mô hình khép kín sang hệ sinh thái mở, tăng cường sự liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và xã hội. Đáng chú ý, sự phát triển của các nền tảng số trong giáo dục, đặc biệt ở cấp quốc gia, đã tạo điều kiện cho việc chia sẻ tài nguyên, dữ liệu và kinh nghiệm trên quy mô rộng, góp phần nâng cao hiệu quả và tính kết nối của toàn hệ thống.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI TP. HUẾ
Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng TP. Huế (trước đây là tỉnh Thừa Thiên Huế) trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, Tỉnh đã quan tâm triển khai các chủ trương, chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Trong đó, Nghị quyết số 135/NQ-HĐND ngày 9/12/2022 của HĐND tỉnh về phát triển giáo dục tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định “Đề án Xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045” là một trong những chương trình, dự án ưu tiên.
Về số lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo
Theo báo cáo của Thành ủy Huế giai đoạn 2021-2025, số lượng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo có xu hướng tăng: Đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục do Sở Giáo dục - Đào tạo quản lý: năm học 2021-2022 là 17.593 người; năm học 2023-2024 là 17.630 người; năm học 2025 - 2026 là 18.566 người (Thành ủy Huế, 2026). Đối với NNLGD-ĐT của Đại học Huế giảm nhẹ từ 3.634 người năm 2021 xuống 3.575 người năm 2025, trong đó giảng viên từ 1.912 người ( năm 2021) xuống 1.864 người (năm 2025); cán bộ quản lý, nghiên cứu từ 1.722 người (năm 2021) xuống 1.711 người (năm 2025) (Đại học Huế, 2025).
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên các trường mầm non tương đối đảm bảo về số lượng để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày theo quy định; đội ngũ giáo viên các cơ sở giáo dục phổ thông vẫn còn tình trạng thừa thiếu cục bộ, nhất là cấp THCS, gây khó khăn trong việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ theo quy định về định mức giáo viên, vị trí việc làm; đội ngũ giảng viên ở các trường đại học vẫn còn thiếu, có xu hướng giảm nên chưa đáp ứng được yêu cầu sớm xây dựng TP. Huế trở thành trung tâm giáo dục đa ngành, đa lĩnh vực.
Về chất lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo
Đến nay, TP. Huế đã xây dựng NNLGD-ĐT có trình độ chuyên môn khá cao so với nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước với 3.648 người có trình độ sau đại học, trong đó tiến sĩ có 830 người; thạc sĩ 2.818 người; đại học 15.999 người; cao đẳng 1.750 người; trung cấp 126 người. Điều đáng ghi nhận là số lượng người có trình độ sau đại học tăng rõ rệt từ 3.566 người (năm 2023) lên 3.648 người (năm 2025), đặc biệt là trình độ tiến sĩ, đưa tỷ lệ tiến sĩ/giảng viên từ 35,3% (năm 2021) lên 44,1% (năm 2025) (Đại học Huế, 2025).
Tuy nhiên, NNLGD-ĐT có trình độ cao phân bố chưa đồng đều giữa các bậc học: ở bậc THPT có 9 tiến sĩ và 676 thạc sĩ; bậc THCS có 363 thạc sĩ; Tiểu học có 142 thạc sĩ; Mầm non có 56 thạc sĩ; còn lại phần lớn tập trung ở các trường đại học thuộc Bộ Giáo dục - Đào tạo quản lý đóng trên địa bàn.
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý ngày càng được chuẩn hóa, tỷ lệ đạt chuẩn tăng từ 90,21% (năm 2021) lên 95,2% (năm 2025); trên chuẩn tăng từ 25,2% (năm 2021) lên 29,58% (năm 2025). Trong đó, ở bậc mầm non tỷ lệ đạt chuẩn bình quân của giáo viên 99,2%, cán bộ quản lý giáo dục 100% và trên chuẩn giáo viên 83,6%, cán bộ quản lý 95,7%; bậc tiểu học tỷ lệ đạt chuẩn bình quân của giáo viên 90,1%, cán bộ quản lý giáo dục100% và trên chuẩn giáo viên 1,3%, cán bộ quản lý 15,2%; bậc THCS tỷ lệ đạt chuẩn của giáo viên 96,1%, cán bộ quản lý giáo dục 100% và trên chuẩn giáo viên 7,2%, cán bộ quản lý 17,8%; bậc THPT tỷ lệ đạt chuẩn của giáo viên 100%, cán bộ quản lý giáo dục 100% và trên chuẩn giáo viên 30,6%, cán bộ quản lý 75%; GDTX tỷ lệ đạt chuẩn của giáo viên 99,5%, cán bộ quản lý giáo dục 100% và trên chuẩn giáo viên 15%, cán bộ quản lý 30%; đối với giáo dục đại học, tỷ lệ tiến sĩ/giảng viên đạt 44,1% (Sở Giáo dục- Đào tạo TP. Huế, 2026).
Ngoài ra, trước yêu cầu chuyển đổi số ngành Giáo dục - Đào tạo TP. Huế đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên. Sở Giáo dục - Đào tạo đã xây dựng kế hoạch về chuyển đổi số; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và AI trong quản lý, giảng dạy. Nhiều lớp tập huấn, sinh hoạt chuyên đề được tổ chức ở tất cả các cấp học, giúp giáo viên từng bước làm chủ các công cụ số. Đến nay 100% giáo viên đã tham gia tập huấn ứng dụng các công cụ AI trong thiết kế bài giảng. Những kết quả này là tiền đề quan trọng để các cơ sở giáo dục từng bước triển khai hiệu quả khung năng lực số theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo.
Nhìn chung, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý toàn ngành cơ bản đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 và đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số và đạt được mục tiêu xây dựng TP. Huế trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, TP. Huế cần phải phải có chiến lược lâu dài và giải pháp tổng thể từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI TP. HUẾ
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch, quy hoạch NNLGD-ĐT
Việc xây dựng kế hoạch NNLGD-ĐT có thể bằng nhiều biện pháp cụ thể. Theo đó, Thành phố cần hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo đội ngũ NNLGD-ĐT trẻ; đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đội ngũ các nhà quản lý giáo dục giỏi đầu ngành, các giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu; quy hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao đội ngũ nhân lực giáo dục nhằm tiếp cận những tri thức về chuyên ngành, tin học, ngoại ngữ và tiếp cận những kỹ thuật giáo dục hiện đại, kỹ năng số; có kế hoạch đẩy mạnh việc gửi đội ngũ nhân lực giáo dục đặc biệt đội ngũ các nhà giáo trong các trường đại học lớn, các cán bộ quản lý chủ chốt ở Sở, Đại học Huế; quy hoạch đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý ở các trường sư phạm, các khoa Sư phạm để đảm bảo sự phát triển ổn định và phối hợp chặt chẽ trong công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên .
Thứ hai, có các chính sách hỗ trợ phát triển NNLGD-ĐT
Các chính sách hỗ trợ phát triển NNLGD-ĐT cần được triển khai trên nhiều phương diện, bao gồm: chính sách hỗ trợ tài chính; chính sách cải cách tiền lương và chế độ phụ cấp, ưu đãi đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực nghề nghiệp. Đồng thời, hoàn thiện chính sách về tuyển dụng, sử dụng, bố trí, sắp xếp, điều động và phân bổ NNLGD-ĐT phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Có cơ chế, chính sách đặc thù đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ chuyên gia, giáo sư, nhà khoa học, giảng viên trình độ cao trong và ngoài nước về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại Huế; tạo môi trường học thuật, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát triển nhanh và bền vững của Thành phố trong giai đoạn mới.
Thứ ba, phát triển thị trường lao động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
Hiện nay, tại một số cơ sở giáo dục - đào tạo vẫn tồn tại tình trạng thiếu nhân lực ở một số vị trí như cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên. Tuy nhiên, công tác tuyển dụng còn thiếu tính chủ động, vẫn phụ thuộc nhiều vào chỉ tiêu biên chế của Nhà nước. Điều này dẫn đến tình trạng có nơi cần bổ sung nhân lực nhưng không thể tuyển dụng kịp thời và những người đang tìm việc ở các cơ sở giáo dục - đào tạo lại không có cơ hội để được tuyển dụng, Thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải phát triển thị trường lao động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nhằm tạo lập cơ chế kết nối hiệu quả giữa bên sử dụng lao động và bên cung ứng nguồn nhân lực. Đồng thời, cần từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động giáo dục - đào tạo, cung cấp đầy đủ và kịp thời dữ liệu về nhu cầu tuyển dụng, số lượng, cơ cấu, trình độ, ngành nghề và chất lượng nguồn nhân lực, qua đó hỗ trợ các cơ sở giáo dục chủ động trong tuyển dụng, sử dụng và phân bổ nhân lực, đồng thời giúp người lao động định hướng đào tạo và lựa chọn việc làm phù hợp.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Cần chú trọng phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý có trình độ cao, có phương pháp dạy học hiện đại, có năng lực nghiên cứu khoa học, có kỹ năng về ngoại ngữ để hội nhập với nền giáo dục thế giới, có kỹ năng về tin học để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số trong giáo dục. Bên cạnh đó, cần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng theo hướng: Cập nhật chương trình đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm gắn liền với yêu cầu thực tế của chương trình giáo dục phổ thông mới; Đẩy mạnh bồi dưỡng thường xuyên về năng lực số, kỹ năng ứng dụng AI trong giảng dạy, tư vấn tâm lý học đường và giáo dục hòa nhập; Chuyển đổi phương thức bồi dưỡng theo hướng thực chất, lấy giáo viên làm trung tâm, gắn với nhu cầu phát triển chuyên môn tại từng cơ sở giáo dục
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo
Từng bước hình thành hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ từ quản lý, giảng dạy, kiểm tra đánh giá, tuyển sinh, nghiên cứu khoa học đến học liệu số, thư viện số và nền tảng học tập thông minh. Tăng cường ứng dụng AI, dữ liệu lớn và các công nghệ mới trong quản trị ngành, quản trị nhà trường, tổ chức dạy học, nghiên cứu khoa học và dự báo nhu cầu nguồn nhân lực. Từng bước xây dựng nền giáo dục mở, học tập linh hoạt, học tập suốt đời và thích ứng với yêu cầu phát triển xã hội số. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu CĐS, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục mở và hội nhập quốc tế; nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng ứng dụng AI và phương pháp giáo dục hiện đại cho đội ngũ nhà giáo.
(*) Nghiên cứu này được hỗ trợ tài chính bởi Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế, mã số DHKT2025 - 05 -38
Tài liệu tham khảo:
1. Đại học Huế (2025). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Đại học Huế khóa VI, trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Đại học Huế lần thứ VII.
2. Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2022). Nghị quyết số 135/NQ-HĐND ngày 9/12/2022 về phát triển giáo dục tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Sở Giáo dục - Đào tạo TP. Huế (2026). Phụ lục số liệu tổng kết Hội nghị năm học 2025-2026.
4. Thành ủy Huế (2026). Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 1/4/2026 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035.
| Ngày nhận bài: 7/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/9/2026; Ngày duyệt đăng: 29/9/2026 |
Các tin khác
Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ
Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh
Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ
Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa
Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam
Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An
Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang