Phát triển công nghiệp xanh ở Nghệ An: Kết quả, động thái mới và triển vọng đến năm 2035

Nghiên cứu - Trao đổi 16:27 | 05/10/2026
Công nghiệp xanh ngày nay không còn được hiểu đơn thuần là các ngành sản xuất ít gây ô nhiễm, mà là việc tổ chức lại quá trình công nghiệp theo hướng nâng cao năng suất tài nguyên, giảm phát thải, thúc đẩy tuần hoàn vật chất, ứng dụng công nghệ sạch và gia tăng giá trị kinh tế với chi phí sinh thái thấp hơn.

ThS. Đường Xuân Tùng

Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích phát triển công nghiệp xanh ở Nghệ An theo 3 phương diện: quy mô, chất lượng và hiệu quả. Giai đoạn 2020-2025, cơ cấu công nghiệp chuyển dần sang điện tử, thiết bị điện, năng lượng và công nghiệp môi trường; hạ tầng môi trường và quản trị phát thải được cải thiện. Tuy nhiên, quá trình phát triển công nghiệp xanh cũng đang đặt ra một số vấn đề như; liên kết FDI - doanh nghiệp địa phương còn yếu, công nghiệp môi trường còn nhỏ và áp lực tài nguyên - carbon gia tăng. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển công nghiệp xanh đến năm 2035 theo hướng ưu tiên đổi mới công nghệ, nâng năng suất tài nguyên và năng lực nội sinh.

Từ khóa: Công nghiệp xanh, chuyển đổi xanh, tỉnh Nghệ An

Abstract

The article analyzes the development of green industry in Nghe An Province from three aspects: scale, quality, and efficiency. During the 2020-2025 period, the industrial structure gradually shifted toward electronics, electrical equipment, energy, and environmental industries; environmental infrastructure and emissions management also improved. However, the development of green industry has also raised several issues, including weak linkages between FDI enterprises and local firms, the small scale of the environmental industry, and increasing pressure on resources and carbon emissions. Based on these issues, the article proposes several solutions to develop green industry toward 2035, focusing on technological innovation, improving resource productivity, and strengthening endogenous capacity.

Keywords: Green industry, green transition, Nghe An Province

ĐẶT VẤN ĐỀ

Công nghiệp xanh ngày nay không còn được hiểu đơn thuần là các ngành sản xuất ít gây ô nhiễm, mà là việc tổ chức lại quá trình công nghiệp theo hướng nâng cao năng suất tài nguyên, giảm phát thải, thúc đẩy tuần hoàn vật chất, ứng dụng công nghệ sạch và gia tăng giá trị kinh tế với chi phí sinh thái thấp hơn. Đây là quá trình nâng cao chất lượng lực lượng sản xuất đồng thời điều chỉnh phương thức phân bổ nguồn lực và quan hệ lợi ích theo hướng hạn chế ngoại hóa chi phí môi trường.

Áp lực chuyển đổi xanh ngày càng mang tính thị trường. Từ năm 2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) bước vào giai đoạn chính thức, cho thấy hàm lượng carbon đang trở thành yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và khả năng tiếp cận thị trường. Ở Việt Nam, cùng với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, hệ thống chính sách về phân loại xanh, giảm phát thải khí nhà kính, thị trường carbon, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số tiếp tục được hoàn thiện, làm thay đổi điều kiện cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đối với Nghệ An, yêu cầu này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Tỉnh đẩy nhanh công nghiệp hóa, thu hút FDI và mở rộng không gian công nghiệp. Vấn đề không chỉ là công nghiệp tăng nhanh đến đâu, mà quan trọng hơn là tăng trưởng đó xanh đến mức nào, có làm tăng năng suất tài nguyên, giảm phát thải và tạo năng lực công nghệ nội sinh hay không. Vì vậy, việc tiếp cận phát triển công nghiệp xanh theo 3 phương diện: quy mô - chất lượng - hiệu quả, từ đó đề xuất một số giải pháp là cần thiết cho sự phát triển công nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC GIAI ĐOẠN 2020-2025

Quy mô sản xuất gắn với chuyển đổi xanh được mở rộng

Theo Thống kê tỉnh Nghệ An (2025a, 2025b), giai đoạn 2020-2025, nền tảng công nghiệp Nghệ An được mở rộng rõ rệt. Năm 2025, GRDP theo giá hiện hành đạt khoảng 236.520 tỷ đồng, tăng 8,44%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 30,89% GRDP, riêng công nghiệp chiếm 17,96%; giá trị tăng thêm công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 32.700 tỷ đồng. Qua đó, công nghiệp ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh.

Đối với các ngành có liên hệ trực tiếp hơn với chuyển đổi xanh, tổng giá trị tăng thêm của sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí và cung cấp nước; quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng từ khoảng 4.095,5 tỷ đồng năm 2020 lên 7.175,4 tỷ đồng năm 2025; tỷ trọng trong GRDP tăng từ 2,82% lên 3,03%. Tuy nhiên, ngành sản xuất và phân phối điện còn bao gồm cả nguồn năng lượng không tái tạo, nên không thể đồng nhất toàn bộ với công nghiệp xanh.

Cơ cấu nội bộ công nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng công nghệ cao hơn. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong giá trị tăng thêm toàn ngành tăng từ 75,23% năm 2020 lên 78,40% năm 2024; sản xuất điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng từ 3,54% lên 10,26%, sản xuất thiết bị điện từ 0,09% lên 8,7%.

Năm 2025, chỉ số sản xuất điện tử đạt 255,37%, thiết bị điện 141%, sản xuất và phân phối điện 125,84%, thu gom, xử lý rác thải và tái chế phế liệu 117,25%; trong khi thoát nước và xử lý nước thải chỉ đạt 46,97%. Điều đó cho thấy tăng trưởng nhanh chủ yếu tập trung ở các ngành công nghệ và hỗ trợ chuyển đổi xanh, còn các ngành môi trường trực tiếp vẫn nhỏ và phát triển chưa ổn định.

Chất lượng phát triển được nâng lên thông qua công nghệ, năng lượng và hạ tầng môi trường

Chất lượng công nghiệp Nghệ An giai đoạn 2020-2025 được cải thiện trước hết qua sự xuất hiện của các dự án điện tử, thiết bị thông minh, quang điện và linh kiện công nghệ, như: Goertek, Luxshare-ICT, Everwin, Ju Teng, Sunny và Runergy. Đặc biệt, các dự án sản xuất thanh silic và đĩa bán dẫn cho chuỗi quang điện cho thấy Nghệ An đã bắt đầu tham gia một số công đoạn của chuỗi năng lượng sạch. Tuy nhiên, công nghệ cao chỉ tạo điều kiện cho phát triển xanh; mức độ xanh thực tế còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng, hiệu suất sử dụng tài nguyên, hóa chất, chất thải và khả năng tuần hoàn trong sản xuất.

Chuyển đổi năng lượng tại doanh nghiệp cũng có bước tiến rõ. Năm 2025 ghi nhận hơn 130 doanh nghiệp có điện mặt trời mái nhà công suất trên 100 kWp, tổng công suất khoảng 140 MWp, tập trung tại VSIP, WHA, Bắc Vinh, Hoàng Mai và các cụm công nghiệp. Điều này cho thấy năng lượng tái tạo từng bước trở thành một bộ phận của tư liệu sản xuất. Cần lưu ý đây là số liệu cập nhật phục vụ điều chỉnh quy hoạch, chưa phải chỉ tiêu quy hoạch đã được phê duyệt (UBND tỉnh Nghệ An, 2026).

Hạ tầng môi trường tại các khu công nghiệp được cải thiện đáng kể. Đến cuối tháng 5/2025, 6/6 khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn, với tổng công suất khoảng 23.950 m³/ngày đêm, tạo điều kiện kiểm soát ô nhiễm tập trung và nâng hiệu quả giám sát (Nguyễn Hải, 2025a). Chất lượng hạ tầng xanh đã cải thiện rõ ở các khu công nghiệp lớn, nhưng vẫn còn khoảng cách đáng kể tại các không gian công nghiệp quy mô nhỏ.

Quản trị carbon và nguồn nhân lực từng bước thích ứng với mô hình sản xuất mới

Quản trị môi trường ở Nghệ An đang từng bước chuyển từ kiểm soát ô nhiễm theo tiêu chuẩn truyền thống sang đo lường và quản trị phát thải carbon. Giai đoạn 2024-2025, Tỉnh có 38 cơ sở thuộc diện kiểm kê khí nhà kính, tăng 9 cơ sở so với trước, trong đó 23 cơ sở thuộc lĩnh vực công thương (Nguyễn Hải, 2025b). Đây là nền tảng để doanh nghiệp thích ứng với thị trường carbon trong nước và các yêu cầu carbon của chuỗi cung ứng quốc tế. Tuy nhiên, kiểm kê mới là bước đầu; hiệu quả thực chất phải được thể hiện ở khả năng xác định nguồn phát thải, xây dựng đường cơ sở và giảm phát thải trên một đơn vị sản phẩm hoặc giá trị gia tăng.

Chất lượng nguồn nhân lực cũng được cải thiện. Năm 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70,1%, trong đó có văn bằng, chứng chỉ đạt 29,81%; tỷ lệ người học nghề có việc làm sau đào tạo đạt 81,9%. Tuy vậy, khoảng cách giữa lao động qua đào tạo và lao động có bằng cấp, chứng chỉ cho thấy nguồn nhân lực kỹ thuật chuyên sâu còn hạn chế so với yêu cầu của điện tử, tự động hóa, cơ điện tử, năng lượng và môi trường. Trong khi đó, riêng năm 2025, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có nhu cầu khoảng 43.445 lao động (Thành Duy, 2025). Vì vậy, điểm nghẽn nhân lực đang chuyển từ thiếu về số lượng sang thiếu kỹ năng phù hợp với quá trình chuyển đổi công nghệ và xanh hóa sản xuất.

MỘT SỐ THÁCH THỨC ĐẶT RA

Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình phát triển công nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng đặt ra một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, quy mô xanh thực chất còn nhỏ so với quy mô công nghiệp nói chung. Tăng trưởng nhanh hiện tập trung ở điện tử, thiết bị điện và FDI công nghệ, trong khi những hoạt động môi trường trực tiếp như thoát nước, xử lý nước thải, tái chế và phục hồi môi trường vẫn có quy mô hạn chế. Việc sử dụng các ngành điện tử hoặc ngành điện làm đại diện cho chuyển đổi xanh vì vậy chỉ có ý nghĩa phân tích, không thể coi toàn bộ giá trị của các ngành này là giá trị công nghiệp xanh.

Thứ hai, áp lực tài nguyên và carbon có thể gia tăng cùng tốc độ công nghiệp hóa. Năm 2025, nhu cầu điện và quy mô sản xuất tiếp tục tăng mạnh; 38 cơ sở đã thuộc diện kiểm kê khí nhà kính, trong đó có các nhà máy xi măng và cơ sở sử dụng năng lượng rất lớn (Nguyễn Hải, 2025b). Trong khi điện mặt trời mái nhà phát triển nhanh là tín hiệu tích cực, nó chưa đủ để chứng minh cường độ năng lượng hoặc cường độ carbon toàn ngành công nghiệp đã giảm. Muốn đánh giá hiệu quả xanh thực chất phải chuyển sang các chỉ tiêu như điện, nước, nguyên liệu và CO₂e trên một đơn vị giá trị gia tăng.

Thứ ba, công nghiệp xanh có sự của liên kết sâu sắc giữa FDI - doanh nghiệp địa phương. FDI đã trở thành nguồn lực quan trọng về vốn, công nghệ và việc làm, nhưng khả năng tham gia của doanh nghiệp Nghệ An vào những công đoạn có giá trị cao còn hạn chế. Năm 2025, lao động trong doanh nghiệp FDI tăng 27,43%, trong khi khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 1,96% (UBND tỉnh Nghệ An, 2026). Sự phân hóa này phản ánh một mặt FDI đang tạo động lực mới, nhưng mặt khác đặt ra câu hỏi về khả năng lan tỏa công nghệ và hình thành doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ bản địa.

Sự hiện diện của công nghệ hiện đại trên một địa bàn không đồng nghĩa với năng lực công nghệ đã thuộc về nền kinh tế địa phương. Nếu nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, máy móc, linh kiện cốt lõi và dịch vụ kỹ thuật chủ yếu nhập từ bên ngoài, còn doanh nghiệp địa phương tập trung ở xây dựng, vận tải, cung cấp lao động và dịch vụ có giá trị thấp, thì sản lượng xuất khẩu có thể tăng rất nhanh trong khi phần giá trị giữ lại không tăng tương ứng. Điều đó cho thấy tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn chưa đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng về năng lực công nghệ, khả năng làm chủ sản xuất và giá trị được giữ lại trong nền kinh tế địa phương.

Thứ tư, nguồn nhân lực chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch công nghệ. Nghệ An có lợi thế về quy mô lực lượng lao động - năm 2025 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khoảng 1,638 triệu người - nhưng lao động có văn bằng, chứng chỉ vẫn chiếm tỷ lệ tương đối thấp (Thành Duy, 2025). Nhu cầu nhân lực cho điện tử, tự động hóa, quản lý năng lượng, thiết kế khuôn, công nghệ môi trường và quản trị carbon đang tăng nhanh. Nếu không giải quyết được khoảng cách kỹ năng, tỉnh có nguy cơ sở hữu những dây truyền hiện đại, nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào đội ngũ kỹ thuật từ nơi khác hoặc tập trung vào lao động lắp ráp.

Thứ năm, sự không đồng đều của hạ tầng xanh và năng lực quản trị. Các khu công nghiệp tập trung đã đạt bước tiến lớn về xử lý nước thải, nhưng một bộ phận cụm công nghiệp còn thiếu hạ tầng tương ứng. Việc mở rộng Khu kinh tế Đông Nam lên quy mô hơn 104.000 ha khiến thách thức này càng rõ: nếu tốc độ lấp đầy dự án nhanh hơn tốc độ hoàn thiện hạ tầng điện, nước, chất thải, giao thông và nhà ở cho người lao động, chi phí môi trường - xã hội sẽ tăng.

TRIỂN VỌNG ĐẾN NĂM 2035 VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Nghệ An có vị trí trung tâm Bắc Trung Bộ, quỹ đất công nghiệp lớn hơn sau khi mở rộng Khu kinh tế Đông Nam, hạ tầng giao thông - cảng biển đang được cải thiện, nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên rừng lớn và tiềm năng năng lượng đáng kể. Đến năm 2026, ước tính tiềm năng các nguồn điện trên địa bàn trên 17.400 MW; đồng thời Tỉnh có trên 1,179 triệu ha đất lâm nghiệp và tỷ lệ che phủ rừng cập nhật năm 2025 khoảng 59,16% (UBND tỉnh Nghệ An, 2026). Đây là những điều kiện vật chất thuận lợi để phát triển năng lượng, lâm sản bền vững, sinh khối và các chuỗi sản xuất tuần hoàn.

Triển vọng quan trọng hơn nằm ở khả năng kết hợp chuyển đổi xanh với chuyển đổi công nghệ. Kế hoạch tái cơ cấu ngành Công Thương Nghệ An đã xác định chuyển từ những ngành thâm dụng tài nguyên, lao động sang những ngành thâm dụng vốn và công nghệ, phát triển công nghiệp xanh, đồng thời nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và giá trị gia tăng cao. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, bổ sung một động lực mới là chuyển đổi số, dữ liệu, R&D và công nghệ chiến lược (Bộ Chính trị, 2024). Nếu 2 quá trình này được kết hợp, Nghệ An có thể tránh được con đường công nghiệp hóa dựa chủ yếu vào lao động chi phí thấp.

Với triển vọng nói trên, theo tác giả, Nghệ An cần lưu ý một số vấn đề sau trong quá trình phát triển công nghiệp xanh:

Trước hết, Tỉnh cần chuyển từ thu hút đầu tư theo quy mô sang lựa chọn đầu tư theo chất lượng phát triển. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, tạo cơ sở để nhận diện các dự án đáp ứng tiêu chí xanh ở cấp quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Trong phạm vi thẩm quyền, Nghệ An có thể bổ sung hệ thống chỉ báo phục vụ xúc tiến và đánh giá dự án, gồm công nghệ, tiêu hao đất - nước - điện, phát thải, khả năng tuần hoàn, nhu cầu lao động kỹ thuật, liên kết nhà cung ứng và giá trị gia tăng tại địa phương. Đây không phải một giấy phép xanh mới, mà là công cụ để phân bổ tốt hơn đất đai, hạ tầng và các nguồn lực hỗ trợ.

Thứ hai, cần lấy năng suất tài nguyên và carbon thấp làm thước đo hiệu quả trung tâm. Đến năm 2035, mục tiêu không chỉ là sản lượng điện mặt trời, số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận hoặc số lượng dự án công nghệ cao, mà cần chuyển sang các chỉ số: giá trị tăng thêm/kWh điện, m³ nước và tấn nguyên liệu; phát thải CO₂e trên đơn vị sản phẩm; tỷ lệ phụ phẩm được đưa trở lại chu trình sản xuất. Đối với 38 cơ sở thuộc diện kiểm kê khí nhà kính, cần chuyển từ việc chỉ xác định lượng phát thải sang xây dựng mức phát thải tham chiếu, xác định mục tiêu giảm phát thải và triển khai các phương án đầu tư phù hợp.

Thứ ba, phải coi năng lực nội sinh của doanh nghiệp địa phương là tiêu chí đánh giá thành công của thu hút FDI. Nghệ An nên xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, đối chiếu với nhu cầu mua hàng của các tập đoàn lớn và lựa chọn các lĩnh vực doanh nghiệp địa phương có khả năng tham gia trước như bao bì, linh kiện nhựa - kim loại, khuôn, cơ khí bảo trì, logistics, xử lý nước - chất thải, dịch vụ năng lượng và phần mềm quản lý sản xuất. Từ đó mới từng bước tiến lên những công đoạn có giá trị cao hơn. Thành công không nên đo bằng số hội nghị kết nối mà bằng số doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng và giá trị mua hàng được giữ lại trong Tỉnh.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực cần chuyển từ đào tạo theo ngành học sang đào tạo theo cụm kỹ năng công nghiệp. Điện - điện tử, cơ điện tử, tự động hóa, cơ khí chính xác và công nghệ thông tin phải tích hợp tiết kiệm năng lượng, quản lý hóa chất, sản xuất sạch hơn, dữ liệu môi trường và kỹ năng carbon. Mô hình Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cần đi đến đào tạo kép, trong đó doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra và cung cấp thiết bị thực hành. Đây là điều kiện để lao động Nghệ An chuyển từ lợi thế số lượng sang lợi thế kỹ năng.

Thứ năm, Khu kinh tế Đông Nam mở rộng cần trở thành không gian thử nghiệm phương thức phát triển công nghiệp mới, chứ không chỉ là quỹ đất mới cho các nhà máy. Quy hoạch Mở rộng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An phân khu cần đặt sức chịu tải môi trường, khả năng cấp nước - điện, xử lý chất thải và tái sử dụng tài nguyên ngang hàng với giao thông và diện tích cho thuê (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Một số khu công nghiệp có điều kiện phù hợp có thể tiến từng bước từ xử lý chất thải tập trung sang sử dụng chung năng lượng, tái sử dụng nước và trao đổi phụ phẩm; chỉ gọi là khu công nghiệp sinh thái khi đáp ứng đầy đủ tiêu chí pháp luật.

Thứ sáu, phát triển công nghiệp xanh phải gắn với hài hòa lợi ích. Công nghiệp hóa chỉ bền vững khi doanh nghiệp không chuyển chi phí ô nhiễm sang cộng đồng, người lao động được nâng kỹ năng và thu nhập, doanh nghiệp địa phương có cơ hội tham gia chuỗi giá trị, còn Nhà nước có nguồn lực tái đầu tư vào hạ tầng và môi trường. Vì vậy, hiệu quả xanh không chỉ là giảm CO₂ mà còn là tăng phần giá trị được giữ lại tại Nghệ An trên một đơn vị tài nguyên sử dụng và một đơn vị phát thải phát sinh.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2025a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và năm 2025.

3. Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2025b). Báo cáo chuyên đề: Đóng góp của ngành công nghiệp đối với chiến lược phát triển kinh tế tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2024.

4. Nguyễn Hải (2025a). 6/6 khu công nghiệp đang hoạt động ở Nghệ An có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn. https://baonghean.vn/6-6-khu-cong-nghiep-dang-hoat-dong-o-nghe-an-co-he-thong-xu-ly-nuoc-thai-dat-chuan-10298955.html

5. Nguyễn Hải (2025b). Nghệ An có 38 cơ sở tiêu thụ năng lượng lớn phải kiểm kê khí thải. https://baonghean.vn/nghe-an-co-38-co-so-tieu-thu-nang-luong-lon-phai-kiem-ke-khi-thai-10292222.html

6. UBND Nghệ An (2026). Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

7. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

8. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 27/3/2026 phê duyệt mở rộng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An.

9. Thành Duy (2025). Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh Nghệ An bàn giải pháp phát triển nhân lực có kỹ năng nghề. https://baonghean.vn/ban-thuong-vu-dang-uy-ubnd-tinh-nghe-an-ban-giai-phap-phat-trien-nhan-luc-co-ky-nang-nghe-10295677.html

Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/9/2026; Ngày duyệt đăng: 20/9/2026

Các tin khác

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.
Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Kinh tế tuần hoàn trong xử lý phụ phẩm nông nghiệp: Kinh nghiệm từ mô hình Biomass Town của Nhật Bản

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp nhằm đồng thời thực hiện cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050 và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn.
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Dệt may là ngành xuất khẩu và tạo việc làm quan trọng của Việt Nam, nhưng lợi thế dựa vào lao động dồi dào, gia công và chi phí thấp đang chịu sức ép từ tăng tiền lương, giao hàng nhanh, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và tự động hóa.
Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Ứng dụng Blockchain vào chuỗi cung ứng trong ngành thực phẩm tại Việt Nam

Trên thế giới, công nghệ này đã được ứng dụng trong các nền tảng truy xuất thực phẩm. Tại Việt Nam, blockchain cũng ngày càng được quan tâm trong quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và triển vọng chuyển đổi thị trường lao động Việt Nam

Khác với các làn sóng tự động hóa trước đây vốn tập trung vào các nhiệm vụ thủ công, lặp lại, GenAI có khả năng hỗ trợ hoặc thay thế các nhiệm vụ nhận thức và xử lý thông tin, vốn là nhóm nhiệm vụ gắn liền với lao động văn phòng và trình độ cao.