Chiến lược công nghiệp xanh gắn với phát triển bền vững ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Kinh tế 08:14 | 21/09/2026 Phạm Vũ Thái Trà
Trên cơ sở tổng quan về công nghiệp xanh, bài viết đánh giá thành tựu, thách thức và đề xuất giải pháp thúc đẩy chiến lược công nghiệp xanh, tạo nền tảng cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Phạm Vũ Thái Trà

Trường Đại học Hải Phòng

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngày càng cấp bách, chiến lược công nghiệp xanh không chỉ đơn thuần là một xu hướng mà là một đòi hỏi cấp bách về kinh tế, môi trường và xã hội. Được coi là mô hình sản xuất ưu tiên việc bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phúc lợi xã hội thay cho tập trung vào giá trị kinh tế, chiến lược phát triển công nghiệp xanh đang trở thành ưu tiên hàng đầu của Việt Nam nhằm hướng đến tăng trưởng 2 con số nhưng phải đảm bảo hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững. Trên cơ sở tổng quan về công nghiệp xanh, bài viết đánh giá lại những kết quả đạt được, những khó khăn, thách thức, từ đó đưa ra một số đề xuất thúc đẩy chiến lược công nghiệp xanh nhằm tạo nền tảng để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ khóa: Công nghiệp xanh, tăng trưởng bền vững, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI)

Abstract

Amid increasingly urgent demands for environmental protection and sustainable development, the green industry strategy is not merely a trend but an essential economic, environmental, and social imperative. As a production model that prioritizes environmental protection, efficient resource use, and social welfare over purely economic value, green industrial development has become a key priority for Viet Nam in pursuing double-digit economic growth while ensuring harmony between economic efficiency and sustainable development. Based on a review of green industry development, this paper reassesses its achievements, difficulties, and challenges, and proposes several solutions to promote the green industry strategy as a foundation for entering a new era of national development.

Keywords: Green industry, sustainable growth, digital transformation, artificial intelligence (AI)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, với tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng. Với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng, trong đó ngành Công nghiệp đã đóng góp khoảng 35% GDP. Đến nay, công nghiệp cũng là một trong ngành tạo việc làm cho hàng triệu người. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp cũng đặt ra những thách thức nghiêm trọng về việc bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên bền vững (Diệp Anh, 2025). Các ngành công nghiệp truyền thống như khai khoáng, luyện kim và xi măng gây ô nhiễm nghiêm trọng, trong khi năng lượng hóa thạch chiếm tới 75% tổng năng lượng tiêu thụ (Xuyên Đông, 2025).

Công nghiệp xanh là khái niệm thúc đẩy các mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững trong sản xuất sản phẩm. Một ngành công nghiệp xanh đòi hỏi các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về tác động môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ của họ trong suốt vòng đời của nó. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang chuyển đổi theo hướng xanh - sạch - tuần hoàn, Việt Nam đứng trước yêu cầu bắt buộc phải tái định hình chiến lược phát triển công nghiệp. Việc xanh hóa các ngành công nghiệp đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định khả năng cạnh tranh kinh tế và tăng trưởng bền vững. Việc xanh hóa các ngành công nghiệp đóng vai trò trong thúc đẩy tăng trưởng, giảm nghèo, thúc đẩy an ninh năng lượng, sức khỏe và an toàn, việc làm và giảm chi phí thông qua việc tăng năng suất (UNIDO, 2011). Việt Nam cần một chiến lược phát triển công nghiệp vừa đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao, vừa tuân thủ các tiêu chuẩn bền vững ngày càng khắt khe. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, cuộc cách mạng công nghiệp xanh mang đến một cơ hội đặc biệt để vượt qua các ngành công nghiệp truyền thống gây ô nhiễm và xây dựng một nền tảng kinh tế bền vững (FPT IS, 2024).

TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH

Khái niệm

Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) cho rằng công nghiệp xanh hướng đến 2 mục tiêu: tách tăng trưởng công nghiệp khỏi việc sử dụng tài nguyên và gây ô nhiễm, đồng thời thúc đẩy các lĩnh vực sản xuất và khởi nghiệp tại các nước đang phát triển và chuyển đổi (Bảng). Theo đó, các ngành công nghiệp cần liên tục nâng cao năng suất tài nguyên và hiệu quả môi trường (UNIDO, 2011). Công nghiệp xanh cũng hướng đến phát triển sản phẩm, dịch vụ bằng quy trình và công nghệ thân thiện với môi trường, từ khai thác nguyên liệu, sản xuất, sử dụng đến tái chế (PACE, 2026).

Bảng: Yếu tố thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình công nghiệp xanh

STT

Yếu tố

Ý nghĩa

1

Yêu cầu Môi trường

Nhu cầu cấp thiết trong việc chống lại biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí và nước, mất đa dạng sinh học đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với ngành công nghiệp

2

Khung Phát triển Bền vững Toàn cầu

Thỏa thuận Paris, Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) và các mục tiêu khí hậu quốc gia cung cấp lộ trình chuyển đổi xanh.

3

Chính sách và Ưu đãi của Chính phủ

Các quy định, trợ cấp và ưu đãi thuế đang khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các hoạt động thân thiện với môi trường.

4

Nhu cầu của người tiêu dùng

Ngày càng nhiều người tiêu dùng tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ từ các công ty thể hiện trách nhiệm với môi trường.

5

Áp lực từ Nhà đầu tư

Các nhà đầu tư đang nhận ra rủi ro của biến đổi khí hậu và cơ hội vốn có trong các doanh nghiệp bền vững, chuyển hướng đầu tư sang các ngành công nghiệp xanh.

6

Đổi mới Công nghệ

Những tiến bộ trong công nghệ sạch, hệ thống năng lượng tái tạo và quy trình sử dụng hiệu quả tài nguyên đang giúp các hoạt động công nghiệp xanh dễ tiếp cận và tiết kiệm chi phí hơn.

Nguồn: FPT IS (2024)

Mục tiêu và cách thức phát triển công nghiệp xanh

Theo UNESCAP (2022), ngành công nghiệp xanh hướng đến các mục tiêu sau: Nâng cao hiệu quả của các ngành công nghiệp truyền thống và chuỗi cung ứng; Tạo ra các loại sản phẩm mới, chẳng hạn như năng lượng tái tạo, công nghệ tái chế và sản xuất thực phẩm hữu cơ; Tạo ra các dịch vụ phân tích và tư vấn môi trường, chẳng hạn như công ty dịch vụ năng lượng, bao gồm phân tích và tính toán dấu chân sinh thái; Tạo ra các loại dịch vụ mới thân thiện hơn với môi trường, chẳng hạn như du lịch sinh thái. Công nghiệp xanh phát triển có rất nhiều cách thức trong đó bao gồm:‏ ‏Năng lượng tái tạo; Công nghệ tiết kiệm năng lượng; Công nghệ xử lý chất thải ‏Công nghệ sinh học (Hữu Đạt, 2024),

Lợi ích của công nghiệp xanh

Công nghiệp xanh thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững thông qua tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và chất thải, đồng thời phát triển các ngành cung cấp hàng hóa, dịch vụ môi trường như tái chế, xử lý chất thải và năng lượng tái tạo. Mô hình này góp phần tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo (UNIDO, 2011).

Mô hình công nghiệp xanh mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, xã hội và môi trường như: Bảo vệ môi trường (Giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái, cải thiện chất lượng không khí và nước); Tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người lao động (Đổi mới, sáng tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ sạch và sản xuất bền vững); Nâng cao khả năng cạnh tranh (Cải thiện hình ảnh thương hiệu, thu hút người tiêu dùng có ý thức về môi trường và mở ra cánh cửa cho các thị trường có tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt); Tiết kiệm chi phí (Giảm chi phí năng lượng và vật liệu thông qua cải thiện hiệu quả và giảm thiểu chất thải); Chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu (Giúp các doanh nghiệp và nền kinh tế thích ứng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đảm bảo sự bền vững lâu dài); Cải thiện sức khỏe (Giảm tác động sức khỏe của ô nhiễm và thúc đẩy các cộng đồng khỏe mạnh hơn) (Thùy Trang, 2024).

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH Ở VIỆT NAM

Kết quả tích cực

Sau gần 40 năm đổi mới và xu thế mở cửa hội nhập quốc tế của đất nước, kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng tăng trưởng trong khu vực, trong đó ngành công nghiệp giữ vai trò trung tâm. Giai đoạn 2011-2020, công nghiệp tăng trưởng cao nhất, đóng góp gần 30% GDP và dẫn đầu xuất khẩu. Đến năm 2019, Việt Nam xếp thứ 22 toàn cầu về xuất khẩu, tăng mạnh so với vị trí 50 năm 2010. Giai đoạn 2021-2024, dù đối mặt nhiều thách thức, ngành công nghiệp vẫn đóng góp hơn 31% GDP và tăng 16 bậc năng lực cạnh tranh toàn cầu, xếp hạng 42 theo UNIDO (Xuyên Đông, 2025).

Trong những năm gần đây, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững và bảo vệ môi trường với các chương trình, kế hoạch hành động và văn bản chỉ đạo từ Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương (Thùy Trang, 2024). Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ về phát triển công nghiệp xanh với việc ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp lý quan trọng như: Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022); Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các nghị định hướng dẫn về phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch điện VIII với mục tiêu tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 30,9-39,2% vào năm 2030; Nghị quyết số 29-NQ/TW về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2045 và chương trình “Make in Vietnam 2045” nhằm tăng cường tự chủ về nguyên liệu, công nghệ và sản xuất. Đặc biệt, Bộ Chính trị cũng đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW đưa ra các định hướng chiến lược về khoa học công nghệ, chuyển đổi số, trong đó phát triển kinh tế tư nhân và thúc đẩy mô hình công nghiệp xanh trở thành một trong những yêu cầu quan trọng (Xuyên Đông, 2025).

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam cũng thể hiện quyết tâm rất lớn khi tháng 11/2021 tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ khẳng định quyết tâm thực hiện cam kết cùng với 150 quốc gia trên thế giới đưa mức phát thải ròng về 0 vào năm 2050. Đồng thời, Việt Nam cũng thực hiện có trách nhiệm khi đặt ra mục tiêu giảm 30% lượng phát thải khí metan gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 (Thùy Trang, 2024).

Với việc ban hành các chính sách công nghiệp xanh, tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, phát triển các mô hình kinh tế bền vững ngay từ giai đoạn đầu, hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học, môi trường, phát triển công nghiệp xanh đã được được một số kết quả tích cực. Ngành da giày Việt Nam đang từng bước chuyển đổi theo hướng xanh hóa sản xuất nhằm đáp ứng tiêu chuẩn môi trường từ các thị trường xuất khẩu lớn. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vật liệu tái chế, năng lượng mặt trời và hệ thống xử lý nước thải tuần hoàn, hướng tới giảm phát thải và tiết kiệm tài nguyên (Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, 2025). Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng đã chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất xanh. Chẳng hạn, Vinamilk đầu tư hệ thống trang trại đạt chuẩn quốc tế, hệ thống sản xuất, dây chuyền tự động hóa hoàn toàn theo công nghệ Châu Âu, giúp tăng năng suất và giảm tiêu hao năng lượng tương ứng. Đến nay, công ty này đang trở thành minh chứng tiêu biểu cho chiến lược phát triển công nghiệp xanh trong ngành thực phẩm.

Trong phát triển công nghiệp xanh, mô hình khu công nghiệp xanh được coi là một giải pháp toàn diện giúp giải quyết vấn đề môi trường, giảm chất thải và lãng phí tài nguyên, cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường cạnh tranh. Thực tế cho thấy, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã cho ra đời nhiều công nghệ mới, việc xây dựng các quy hoạch từ khu công nghiệp cần có tầm nhìn phù hợp, tận dụng tối đa tiềm năng của công nghệ để phát triển công nghiệp xanh. Một số công nghệ có thể tận dụng trong quy hoạch phát triển mô hình khu công nghiệp xanh như IoT, Công nghệ Blockchain, AI, an ninh mạng,... Tại Việt Nam, đã hình thành các khu công nghiệp xanh ở một số địa phương. Chẳng hạn như Khu công nghiệp Bảo Minh là mô hình tiêu biểu cho sản xuất bền vững cấp khu công nghiệp, áp dụng đồng bộ giải pháp tiết kiệm năng lượng và quản lý môi trường. Khu công nghiệp đã chuyển đổi 100% lò hơi từ than sang biomass, tái sử dụng 22% nước thải, lắp đặt điện mặt trời 23,8 MWh, giúp giảm hơn 170.000 tấn CO₂ mỗi năm (Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, 2025).

Các thành phố trung ương và trực thuộc trung ương là những thành phố đi đầu trong công tác thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, công nghiệp xanh. TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng, TP. Hải Phòng, Bắc Ninh,… chú trọng phát triển khu công nghiệp công nghệ cao, giảm phát thải khí nhà kính và thân thiện với môi trường như KCN công nghệ cao Hòa Lạc, các khu chế xuất công nghệ cao tại TP. Hồ Chí Minh, KCN công nghệ cao Đà Nẵng… Để chuyển đổi công nghiệp công nghệ cao theo xu hướng của thế giới, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách chuyển đổi công năng các khu công nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh... UBND TP. Hồ Chí Minh cũng đã ban hành kế hoạch hành động tăng trưởng xanh với nhiều giải pháp trọng tâm như: ưu tiên chính sách vốn, thuế, cho thuê đất… Hiện nay, TP. Hồ Chí Minh cũng đã triển khai chiến lược phát triển vi mạch đến năm 2030 để nâng cao năng suất lao động, tự động hóa ngành công nghiệp... Từ năm 2000, TP. Hồ Chí Minh đã có sự dịch chuyển sản xuất công nghiệp, di dời các khu công nghiệp ô nhiễm và sử dụng nhiều lao động; nhiều doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông minh, có khu công nghiệp công nghệ cao... tuy nhiên, việc chuyển đổi sang công nghiệp xanh hiện mới chỉ có những mô hình ban đầu. Hiện nay, tỷ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao hiện chỉ chiếm khoảng 23% trong tổng GDP của TP. Hồ Chí Minh. Mục tiêu của TP. Hồ Chí Minh là nâng tỷ trọng này lên 40% vào năm 2030; qua đó, không chỉ duy trì sự đóng góp vào nền kinh tế quốc gia, mà còn củng cố vị thế dẫn đầu trong cả nước và khu vực, duy trì tính cạnh tranh và phát triển bền vững (Hoàng Tuyết, 2024).

Các dự án phát triển năng lượng tái tạo được xây dựng ở những địa phương có tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo như điện gió ở Lâm Đồng, Cà Mau, TP. Cần Thơ; năng lượng mặt trời ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước. Hiện tỷ trọng năng lượng tái tạo vận hành chiếm gần 27% tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống. Quy hoạch điện VIII dự kiến tăng thêm 4.100 MW công suất các nguồn điện mặt trời vào năm 2030, đạt 168.594 - 189.294 MW, sản xuất 252,1 - 291,5 tỷ kWh vào năm 2050; dự kiến phát triển 21.880 MW điện gió trên bờ, 6.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030 và 70.000 - 91.500 MW vào năm 2050 (Trương Hoàng Hải, 2024).

Khó khăn, thách thức

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách công nghiệp xanh ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Nhận thức về kinh tế xanh còn hạn chế, đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu và phổ biến kiến thức đến chính quyền, doanh nghiệp và người dân (Trương Hoàng Hải, 2024). Các doanh nghiệp, đặc biệt ở các nước đang phát triển, còn thiếu nguồn lực và chuyên môn để tiếp cận công nghệ xanh; trong khi đó, việc thu hút vốn đầu tư cho các dự án và khu công nghiệp xanh tại Việt Nam vẫn gặp nhiều rào cản do sức hấp dẫn đầu tư chưa cao (OECD, 1992; Trương Hoàng Hải, 2024).

Ngoài ra, sự thiếu liên kết giữa chính sách môi trường, đổi mới, tăng trưởng công nghiệp, thương mại và đầu tư có thể tạo ra xung đột giữa mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển công nghiệp. Chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ, hạ tầng, thiết bị, quy trình sản xuất và đào tạo nhân lực còn cao, vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp. Đồng thời, thị trường sản phẩm xanh còn hạn chế do nhận thức và thói quen tiêu dùng chưa cao, trong khi giá thành thường cao hơn sản phẩm thông thường (UNIDO, 2011; PACE, 2026).

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Để thúc đẩy ngành công nghiệp xanh phát triển ở Việt Nam, trong thời gian tới, bài viết đề xuất một số giải sau:

Một là, nâng cao nhận thức về yêu cầu phát triển công nghiệp xanh trong bối cảnh mới cho các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp, người dân hiểu được rằng, công nghiệp xanh không chỉ mang lại lợi ích kinh tế to lớn mà còn góp phần xây dựng một xã hội bền vững, thịnh vượng.

Hai là, sớm hoàn thiện khung pháp lý, các chính sách khuyến khích đầu tư, hệ thống tiêu chuẩn và định mức, cũng như việc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Việc xây dựng các cơ chế, chính sách tài chính hỗ trợ phát triển công nghiệp xanh là vô cùng quan trọng. Trong đó, nên ban hành các cơ chế ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xử lý ô nhiễm, cùng với việc tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, hội thảo, hội nghị để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác và trao đổi kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Ba là, xây dựng một chiến lược phát triển công nghiệp xanh bài bản. Chính sách phát triển công nghiệp xanh cần được hoạch định với một cơ chế thực thi tốt nhất, có phạm vi ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh tế, có khả năng tự điều chỉnh, phối hợp giữa các cấp từ Trung ương tới địa phương. Quá trình lập quy hoạch cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường hiệu quả. Đặc biệt, vấn đề xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại cần được ưu tiên hàng đầu; cần ưu tiên tập trung phát triển các ngành công nghiệp năng lượng xanh, năng lượng tái tạo.

Bốn là, phát triển các khu công nghiệp xanh ở Việt Nam. Theo đó, tập trung hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp trong khu công nghiệp nguồn vốn vay ưu đãi để đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, sử dụng tối đa các nguồn lực và giảm thiểu đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn để nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, công chức; hỗ trợ về kỹ năng, kỹ thuật trong giám sát và đánh giá các tác động của khu công nghiệp tới môi trường...

Năm là, nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích, thúc đẩy, hỗ trợ cho ngành công nghiệp môi trường phát triển. Trong đó, tập trung khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng, lắp đặt các hệ thống kiểm soát ô nhiễm thông qua các biện pháp ưu đãi, miễn, giảm thuế, khấu hao cho các doanh nghiệp...; khuyến khích các doanh nghiệp tự đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ môi trường cho ngành công nghiệp môi trường.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công. (2025). Thúc đẩy công nghiệp xanh, phát triển bền vững. https://igip.gov.vn/tin-tuc/t32583/thuc-day-cong-nghiep-xanh-phat-trien-ben-vung.

2. Diệp, A. (2025). Diễn đàn Công nghiệp xanh 2025: Hài hòa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/dien-dan-cong-nghiep-xanh-2025-hai-hoa-muc-tieu-tang-truong-cao-va-phat-trien-ben-vung-102250709184609523.htm.

3. FPT IS. (2024). Công nghiệp xanh – Lợi ích, cơ hội và thách thức. https://fpt-is.com/goc-nhin-so/cong-nghiep-xanh-la-gi/.

4. Hoàng, T. (2024). TP. Hồ Chí Minh: Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp gắn với công nghệ số, chuyển đổi xanh. Trang Thông tin đối ngoại. https://ttdn.vn/hoi-nhap-va-phat-trien/kinh-te-dau-tu/tp-ho-chi-minh-day-manh-phat-trien-nganh-cong-nghiep-gan-voi-cong-nghe-so-chuyen-doi-xanh-110195.

5. Hữu, Đ. (2024). Công nghiệp xanh – Kết nối kinh tế và môi trường. Vietnam Logistics Review. https://vlr.vn/cong-nghiep-xanh-ket-noi-kinh-te-va-moi-truong-17681.html.

6. PACE. (2026). Công nghiệp xanh là gì? Xu hướng phát triển bền vững 2026. https://www.pace.edu.vn/tin-kho-tri-thuc/cong-nghiep-xanh-la-gi.

7. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 ban hành về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050.

8. Thùy, T. (2024). Xu hướng phát triển công nghiệp xanh tại Việt Nam hiện nay. NAAN Group. https://naangroup.com/blogs/news/cong-nghiep-xanh.

9. Trần, N. S. (2026). Phát triển công nghiệp xanh – “chìa khóa” để Lào Cai bứt phá và phát triển bền vững. Báo Lào Cai. https://baolaocai.vn/phat-trien-cong-nghiep-xanh-chia-khoa-de-lao-cai-but-pha-va-phat-trien-ben-vung-post893292.html.

10. Trương, H. H. (2024). Chính sách công nghiệp xanh hướng tới sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/kinh-te/-/2018/910402/chinh-sach-cong-nghiep-xanh-huong-toi-su-phat-trien-ben-vung-o-viet-nam.aspx.

11. United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific. (2022). Low carbon green growth roadmap for Asia and the Pacific: Fact sheet – Green industry. https://www.unescap.org/sites/default/d8files/29. FS-Green-Industry.pdf.

12. United Nations Industrial Development Organisation. (2011). UNIDO green industry: Policies for supporting green industry. https://www.greenpolicyplatform.org/sites/default/files/downloads/resource//Policies for supporting green industry_UNIDO.pdf.

13. Xuyên, Đ. (2025). Công nghiệp xanh là chìa khóa cho tăng trưởng bền vững. Báo Lao động điện tử. https://laodong.vn/kinh-doanh/cong-nghiep-xanh-la-chia-khoa-cho-tang-truong-ben-vung-1538417.ldo.

Ngày nhận bài: 10/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/9/2026; Ngày duyệt đăng: 17/9/2026

Các tin khác

Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Vai trò của IMF và World Bank đối với các quốc gia đang phát triển: Bài học từ quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Việc tìm hiểu về hoạt động của 2 định chế tài chính quốc tế là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) thông qua các trường hợp cụ thể có thể góp phần làm rõ thêm bối cảnh triển khai, các chi phí liên quan cũng như một số bài học kinh nghiệm tham khảo.
​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

​​​​​​​Tác động của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và truyền thông số đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN+ 3 giai đoạn 2014-2024

Việc có một cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ rõ ràng, nghiêm ngặt kết hợp cùng hạ tầng truyền thống số phát triển được kỳ vọng sẽ tạo ra điểm sáng cho đổi mới sáng tạo và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia ASEAN+3 (gồm 10 nước thuộc ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Với tiềm năng phát triển, dân số đông và vị trí địa lý thuận lợi, TP. Hồ Chí Minh là nơi tập trung số lượng doanh nghiệp logistics lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70% trong tổng số khoảng 4.000 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam và đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chính của khu vực phía Nam.
Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Kinh tế biển - động lực cho phát triển bền vững của Quảng Ninh

Là địa phương có vị trí chiến lược ở vùng Đông Bắc, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển với hệ thống biển, đảo, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế ven biển và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Quản lý nhà nước đối với khu thương mại tự do: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho TP. Hồ Chí Minh

Quản lý nhà nước đối với khu thương mại tự do: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho TP. Hồ Chí Minh

Khu thương mại tự do đang được xem là một công cụ quan trọng để thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại và logistics, đồng thời tạo không gian thử nghiệm các cơ chế phát triển mới.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Mức độ chịu tác động tiềm tàng trước tiêu chuẩn carbon của xuất khẩu Việt Nam trong tương quan với các nền kinh tế đang phát triển

Mức độ chịu tác động tiềm tàng trước tiêu chuẩn carbon của xuất khẩu Việt Nam trong tương quan với các nền kinh tế đang phát triển

Tiêu chuẩn carbon đang trở thành một biến số quan trọng trong thương mại quốc tế. Nếu trước đây sức cạnh tranh của hàng hóa thường được nhìn qua giá cả, chất lượng, năng suất, logistics và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, thì hiện nay yếu tố phát thải ngày càng được đưa vào điều kiện tiếp cận thị trường.
Tác động của bất định chính sách thương mại tại Hoa Kỳ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại tại Hoa Kỳ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

Trong nhiều thập kỷ, mức độ bất định chính sách thương mại tại Hoa Kỳ khá ổn định vì các chính sách về thuế quan của Hoa Kỳ không có sự thay đổi lớn hoặc thay đổi theo một lộ trình đã được dự báo từ trước.
Điều kiện chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam

Điều kiện chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam

Trong giai đoạn phát triển mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi được chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh
Phát triển chuỗi cung ứng thông minh và ổn định kinh tế vĩ mô: Cơ chế truyền dẫn và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Phát triển chuỗi cung ứng thông minh và ổn định kinh tế vĩ mô: Cơ chế truyền dẫn và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chuỗi cung ứng thông minh là mô hình quản trị tích hợp công nghệ số, dữ liệu thời gian thực để tối ưu toàn bộ quá trình cung ứng, sản xuất và phân phối.