Điều kiện chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam
TS. Ngô Thị Phương Liên,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong mô hình tăng trưởng mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi được chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Đại hội XIV của Đảng, bài viết phân tích các điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân chuyển từ tiếp nhận, ứng dụng sang làm chủ, sáng tạo và thương mại hóa công nghệ. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu đồng bộ thể chế, năng lực hấp thụ công nghệ, tài chính đổi mới, nhân lực, dữ liệu, liên kết hệ sinh thái và thị trường; qua đó kiến tạo năng lực sản xuất mới, nâng cao năng suất và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Từ khóa: Khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; lực lượng sản xuất; kinh tế tư nhân
Abstract
Under the new growth model, science, technology, innovation, and digital transformation can become direct productive forces only when they are translated into productivity, value added, and corporate competitiveness. In the spirit of Politburo Resolution No. 57-NQ/TW, Resolution No. 68-NQ/TW, and the 14th National Party Congress, this article analyzes the conditions required for the private economic sector to move from technology adoption and application toward technological mastery, innovation, and commercialization. The findings emphasize the need for synchronized institutional frameworks, technological absorptive capacity, innovation finance, human resources, data, ecosystem linkages, and markets, thereby creating new productive capacities, enhancing productivity, and strengthening the position of Vietnamese enterprises in global value chains.
Keywords: Science and technology; innovation; digital transformation; productive forces; private economic sector
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế dựa ngày càng sâu vào tri thức, dữ liệu và công nghệ, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu được quyết định bởi tài nguyên, lao động giá rẻ hay quy mô vốn, mà từ khả năng biến tri thức thành công nghệ, công nghệ thành năng lực sản xuất và năng lực sản xuất thành giá trị. Từ phân tích sự phát triển của đại công nghiệp, C. Mác đã chỉ ra xu hướng tri thức xã hội ngày càng được vật hóa vào tư liệu sản xuất và trở thành sức mạnh trực tiếp của sản xuất: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến [wissen, knowledge] đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến một mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy…” (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, 2000, tập 46, phần II, tr. 372). Ngày nay, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, tự động hóa, công nghệ số và tài sản trí tuệ càng làm sâu sắc quá trình khoa học thâm nhập vào lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, có công nghệ chưa đồng nghĩa với có năng lực sản xuất mới. Kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa, sáng chế chưa đi vào sản xuất, công nghệ được tiếp nhận nhưng chưa được hấp thụ và làm chủ, hay chuyển đổi số chưa tạo ra năng suất đều cho thấy quá trình chuyển hóa chưa hoàn tất. Khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi được tích hợp vào tư liệu sản xuất, năng lực con người, dữ liệu và phương thức tổ chức - quản trị, qua đó tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Vì vậy, điều cốt lõi không phải doanh nghiệp có bao nhiêu công nghệ, mà là chuyển hóa được bao nhiêu tri thức và công nghệ thành năng lực và giá trị.
Yêu cầu này càng cấp thiết khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại (Bộ Chính trị, 2024). Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân (KTTN) là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời là lực lượng tiên phong trong phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2025). Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt các động lực này trong yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Sự hội tụ đó đặt khu vực KTTN trước một chuyển đổi về chất: từ ứng dụng sang hấp thụ và làm chủ công nghệ; từ gia công sang đổi mới và thương mại hóa; từ tham gia chuỗi giá trị sang nâng cấp vị thế và gia tăng giá trị nắm giữ.
Thực tiễn cho thấy giữa mức độ hội nhập và năng lực công nghệ nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại một “khoảng trống chuyển hóa” đáng kể. Theo Coppola và cộng sự (2024), khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Điều đó cho thấy tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường quốc tế chưa tự động tạo ra năng lực công nghệ nội sinh. Thách thức vì vậy không chỉ là tham gia chuỗi giá trị, mà quan trọng hơn là học hỏi, làm chủ công nghệ, nâng cấp vị thế và gia tăng phần giá trị do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra và nắm giữ.
Từ đó, bài viết tập trung làm rõ các điều kiện để KHCN, ĐMST và chuyển đổi số trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong khu vực KTTN Việt Nam, theo chuỗi: tri thức → công nghệ → năng lực và tài sản doanh nghiệp → năng suất, giá trị gia tăng → sức cạnh tranh. Trên cơ sở nhận diện những điểm nghẽn của chuỗi này, bài viết đề xuất định hướng chính sách thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân từ tiếp cận, ứng dụng sang hấp thụ, làm chủ, đổi mới và thương mại hóa công nghệ, qua đó nâng cao năng suất, năng lực nội sinh và vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
YÊU CẦU CỦA MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI: CHUYỂN HÓA KHCN, ĐMST VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ THÀNH LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRỰC TIẾP
Trong mô hình tăng trưởng mới, vấn đề không còn dừng ở ứng dụng công nghệ, mà là chuyển hóa công nghệ thành năng suất, giá trị và năng lực cạnh tranh. Một công nghệ chỉ thực sự tham gia trực tiếp vào lực lượng sản xuất khi được doanh nghiệp hấp thụ, làm chủ và tích hợp với con người, vốn, dữ liệu và phương thức tổ chức để tạo ra sản phẩm, dịch vụ, quy trình và mô hình kinh doanh có giá trị trên thị trường. Vì vậy, thước đo quan trọng không phải có bao nhiêu công trình nghiên cứu, sáng chế hay nền tảng số, mà là bao nhiêu tri thức và công nghệ được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị mới.
Đây là điểm hội tụ trực tiếp giữa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định KHCN, ĐMST và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế trên 55%; kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; trên 40% doanh nghiệp có hoạt động ĐMST; chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm hơn 60% (Bộ Chính trị, 2024).
Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục xác định KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” và là lực lượng tiên phong trong phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân khoảng 10-12%/năm, đóng góp khoảng 55-58% GDP và 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước (Bộ Chính trị, 2025).
Như vậy, nếu Nghị quyết số 57-NQ/TW xác lập động lực khoa học - công nghệ, thì Nghị quyết số 68-NQ/TW xác lập vai trò tiên phong của KTTN trong hiện thực hóa động lực đó. Hai định hướng gặp nhau ở một yêu cầu cốt lõi: doanh nghiệp tư nhân phải chuyển từ tiếp nhận, ứng dụng sang hấp thụ, làm chủ, sáng tạo và thương mại hóa công nghệ, qua đó biến tri thức và công nghệ thành năng lực sản xuất thực tế.
Yêu cầu này càng rõ nét trong mục tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030 được Đại hội XIV của Đảng xác định: tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD, kinh tế số khoảng 30% GDP, đóng góp của TFP vào tăng trưởng trên 55% và năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Những mục tiêu này cho thấy dư địa tăng trưởng không thể chỉ dựa vào mở rộng vốn, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp, mà phải ngày càng dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và ĐMST. Do đó, yêu cầu cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới không phải là ứng dụng nhiều công nghệ hơn, mà là nâng cao năng lực chuyển hóa khoa học và công nghệ thành năng suất và giá trị. Đối với khu vực KTTN, đó là bước chuyển từ sử dụng sang làm chủ công nghệ, từ gia công sang sáng tạo giá trị, từ tham gia sang nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị. Chính năng lực chuyển hóa này quyết định KHCN, ĐMST và chuyển đổi số có thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế hay không.
KHU VỰC KTTN TRƯỚC “ĐIỂM CHUYỂN” VỀ CHẤT: NHỮNG ĐIỂM NGHẼN CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA
Khu vực KTTN Việt Nam đang đứng trước một “điểm chuyển” về chất: từ mở rộng quy mô sang nâng cao năng suất, năng lực công nghệ và giá trị tạo ra. Với hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% lao động, khu vực này đã đạt quy mô đủ lớn để những cải thiện về năng suất và công nghệ tạo hiệu ứng lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế (Bộ Chính trị, 2025).
Nền tảng cho bước chuyển này đang được củng cố cả về quy mô doanh nghiệp, nguồn vốn và mức độ số hóa. Năm 2025, có 297,5 nghìn doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường, tăng 27,4% so với năm trước và gấp 1,3 lần số doanh nghiệp rút lui. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%; riêng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt hơn 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 118,3% (Cục Thống kê, 2026a). Bảy tháng năm 2026, có 187,2 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, tăng 7,5% so với cùng kỳ và tiếp tục cao hơn số doanh nghiệp rút lui; vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 1.518,9 nghìn tỷ đồng, tăng 63,6% (Cục Thống kê, 2026b). Cùng với đó, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025, trung bình giai đoạn này ước đạt khoảng 13,2%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,13% và số hóa các ngành khác là 5,05% (Cục Thống kê, 2026c). Những chuyển động này cho thấy nền tảng về quy mô, nguồn lực và số hóa đang mở rộng, tạo dư địa để KTTN chuyển sang quỹ đạo tăng trưởng dựa nhiều hơn vào công nghệ, ĐMST và năng suất.
Tuy nhiên, tăng về quy mô chưa đồng nghĩa với chuyển biến tương ứng về chất. Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế về Chỉ số ĐMST toàn cầu, với đầu ra ĐMST xếp thứ 37, cao hơn đầu vào xếp thứ 50 (WIPO, 2025). Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu, còn tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023 (Coppola et al., 2024). Điều này cho thấy hội nhập và tiếp cận công nghệ chưa tự động chuyển thành năng lực công nghệ nội sinh. Khoảng cách giữa tiếp cận và làm chủ, giữa ứng dụng và tạo giá trị làm nổi lên ba điểm nghẽn chủ yếu.
Thứ nhất, điểm nghẽn về thể chế. Tri thức và công nghệ chỉ có thể đi vào sản xuất khi quyền tài sản và sở hữu trí tuệ được bảo đảm; dữ liệu được tiếp cận, khai thác và bảo vệ; kết quả nghiên cứu có cơ chế chuyển giao, thương mại hóa; nguồn lực cho ĐMST được huy động và phân bổ hiệu quả. Vì vậy, yêu cầu không chỉ là tạo môi trường thuận lợi, mà phải khơi thông đường dẫn từ tri thức đến tài sản, từ công nghệ đến năng lực sản xuất và từ đổi mới đến giá trị kinh tế.
Thứ hai, điểm nghẽn về năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp. Tiếp cận công nghệ không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ. Doanh nghiệp có thể đầu tư máy móc, phần mềm và giải pháp số, nhưng nếu thiếu nhân lực, năng lực quản trị, R&D, dữ liệu, tài chính và khả năng tổ chức lại sản xuất, công nghệ vẫn chủ yếu là nguồn lực bên ngoài. Điểm quyết định vì thế không nằm ở việc doanh nghiệp có công nghệ, mà ở khả năng hấp thụ, thích nghi, cải tiến và biến công nghệ thành năng suất, giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh.
Thứ ba, điểm nghẽn về thị trường và liên kết. Công nghệ chỉ tạo ra giá trị kinh tế khi được thương mại hóa và thị trường chấp nhận. Điều này đòi hỏi liên kết thực chất giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp dẫn dắt và chuỗi cung ứng để tri thức được chuyển giao, công nghệ được lan tỏa và năng lực được nâng cấp. Việc tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023 cho thấy thách thức không chỉ là tham gia, mà sâu hơn là nâng cấp vị thế và gia tăng phần giá trị do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra và nắm giữ (Coppola et al., 2024).
Như vậy, điểm nghẽn cốt lõi nằm ở “đoạn giữa” của chuỗi chuyển hóa: nơi tri thức phải trở thành công nghệ, công nghệ trở thành năng lực doanh nghiệp và năng lực đó phải tạo ra năng suất, giá trị và sức cạnh tranh. Vì vậy, “điểm chuyển” của KTTN không nằm ở số lượng công nghệ được tiếp cận, mà ở năng lực biến công nghệ thành sức sản xuất và giá trị mới. Vượt qua điểm chuyển này đòi hỏi ba mắt xích đồng thời được khơi thông: thể chế mở đường - doanh nghiệp làm chủ - thị trường hiện thực hóa giá trị.
TRỌNG TÂM GIẢI PHÁP GIAI ĐOẠN 2026-2030: KIẾN TẠO NĂNG LỰC CHUYỂN HÓA CỦA KHU VỰC KTTN
Giai đoạn 2026-2030, trọng tâm không chỉ là gia tăng nguồn lực cho KHCN, ĐMST và chuyển đổi số, mà phải nâng cao năng lực chuyển hóa các nguồn lực này thành năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và định hướng của Đại hội XIV, cần tập trung vào năm nhóm giải pháp chủ yếu.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế để khơi thông đường đi từ tri thức đến giá trị. Cần tháo gỡ các rào cản trong nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ; bảo đảm quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đổi mới. Đồng thời, tạo cơ chế để doanh nghiệp tham gia từ xác định nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu đến thử nghiệm, tiếp nhận và thương mại hóa kết quả. Thể chế phải bảo đảm tri thức có đường đến công nghệ, công nghệ có đường vào sản xuất và đổi mới có đường ra thị trường.
Thứ hai, chuyển hỗ trợ từ tiếp cận sang hấp thụ và làm chủ công nghệ. Chính sách cần được thiết kế theo năng lực và nhu cầu của từng nhóm doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ về quản trị, kỹ năng số, cải tiến quy trình và tiếp nhận công nghệ; doanh nghiệp có tiềm năng đổi mới cần được thúc đẩy R&D, thử nghiệm, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa; doanh nghiệp tư nhân lớn cần được khuyến khích đầu tư vào công nghệ chiến lược, năng lực R&D và phát triển mạng lưới nhà cung cấp trong nước. Trọng tâm là biến công nghệ được tiếp nhận thành năng lực công nghệ nội sinh của doanh nghiệp.
Thứ ba, khơi thông tài chính, dữ liệu và nhân lực cho đổi mới. Cần phát triển các công cụ tài chính phù hợp với mức độ rủi ro và thời gian hoàn vốn của R&D, thử nghiệm và thương mại hóa; nâng cao năng lực định giá, khai thác tài sản trí tuệ và tài sản vô hình. Đồng thời, mở rộng khả năng tiếp cận, kết nối và khai thác dữ liệu gắn với bảo đảm an toàn, an ninh; phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu về công nghệ, kỹ năng số và đổi mới. Vốn bảo đảm khả năng đầu tư, dữ liệu nâng cao chất lượng quyết định, con người quyết định khả năng làm chủ công nghệ.
Thứ tư, tăng cường liên kết để thương mại hóa công nghệ và nâng cấp doanh nghiệp. Cần thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp dẫn dắt; gắn thu hút FDI với chuyển giao công nghệ, liên kết R&D, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung cấp trong nước. Mục tiêu không chỉ là mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị, mà quan trọng hơn là thúc đẩy học hỏi công nghệ, nâng cấp năng lực và gia tăng phần giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra và nắm giữ.
Thứ năm, chuyển từ đo mức độ triển khai sang đo kết quả chuyển hóa. Hiệu quả chính sách không nên chỉ được đánh giá bằng số nhiệm vụ nghiên cứu, quy mô đầu tư công nghệ, số nền tảng được triển khai hay số doanh nghiệp được hỗ trợ, mà phải được phản ánh bằng năng suất, giá trị gia tăng, doanh thu từ sản phẩm mới, tài sản trí tuệ được thương mại hóa, công nghệ được làm chủ và vị thế trong chuỗi giá trị. Đối với chuyển đổi số, thước đo cốt lõi phải là mức cải thiện năng suất, chất lượng quản trị và khả năng tạo ra giá trị mới, thay vì chỉ dừng ở mức độ số hóa.
Nhìn tổng thể, giai đoạn 2026-2030 cần tạo bước chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang kiến tạo kết quả; từ tiếp cận sang làm chủ công nghệ; từ đổi mới riêng lẻ sang liên kết hệ sinh thái; từ đo mức độ ứng dụng sang đo giá trị tạo ra. Đích đến là nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong chuyển hóa tri thức và công nghệ thành năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
KẾT LUẬN
Trong giai đoạn phát triển mới, KHCN, ĐMST và chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi được chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Đây là điểm hội tụ giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, phát huy vai trò của KTTN và đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và Đại hội XIV của Đảng.
Đối với khu vực KTTN, vấn đề cốt lõi không còn là tiếp cận và ứng dụng công nghệ, mà là năng lực hấp thụ, làm chủ và biến công nghệ thành năng lực sản xuất nội sinh. Điều đó đòi hỏi sự đồng bộ giữa thể chế, nguồn lực, năng lực doanh nghiệp, thị trường và hệ sinh thái đổi mới. Theo đó, chính sách giai đoạn 2026-2030 cần chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang kiến tạo kết quả, từ khuyến khích ứng dụng sang nâng cao năng lực làm chủ, từ đo mức độ triển khai sang đo giá trị tạo ra. Thước đo thực chất là năng suất, giá trị gia tăng, tài sản trí tuệ được thương mại hóa, công nghệ được doanh nghiệp Việt Nam làm chủ và vị thế được nâng lên trong chuỗi giá trị.
Xét đến cùng, điều quyết định là hình thành một chuỗi chuyển hóa thông suốt: tri thức thành công nghệ, công nghệ thành năng lực doanh nghiệp, năng lực thành năng suất, giá trị và sức cạnh tranh. Khi chuỗi này vận hành hiệu quả, KTTN mới có thể chuyển từ lớn về quy mô sang mạnh về chất lượng và năng lực nội sinh, qua đó góp phần tạo lập chất lượng mới của lực lượng sản xuất, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.
3. Coppola, A., Dray, S., Wai-Poi, M. & Winkler, D. E. (2024). Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World - Pathways to a High-Income Future, World Bank Group, Washington, DC.
4. Cục Thống kê (2026a). Bức tranh phát triển doanh nghiệp Việt Nam năm 2025, Hà Nội. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/buc-tranh-phat-trien-doanh-nghiep-viet-nam-nam-2025/
5. Cục Thống kê (2026b). Một số nét chính tình hình kinh tế - xã hội tháng Bảy và 7 tháng năm 2026, Hà Nội. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/08/mot-so-net-chinh-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-thang-bay-va-7-thang-nam-2026/
6. Cục Thống kê (2026c). Họp báo công bố tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội. https://www.nso.gov.vn/su-kien/2026/01/hop-bao-cong-bo-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/.
7. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (2000). Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
9. World Intellectual Property Organization (2025). Global Innovation Index 2025: Viet Nam Ranking, WIPO, Geneva.
| Ngày nhận bài: 2/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/9/2026; Ngày duyệt đăng: 11/9/2026 |
Các tin khác
Phát huy vai trò của pháp luật đất đai trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững tại Việt Nam
Giải pháp nâng cao sự hài lòng, thúc đẩy ý định quay lại của khách hàng tại chuỗi cà phê thương hiệu Nón Coffee ở TP. Hồ Chí Minh
Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế
Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách
Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan