Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế
Trương Văn Tấn (Tác giả liên hệ)
Email: tvtan@nso.gov.vn
Huỳnh Thanh Tân
Thống kê tỉnh An Giang
Vũ Trọng Nghĩa
Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê; Email: vtnghia@nso.gov.vn
Trần Nghĩa Khang
Khoa Nông nghiệp - Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại học An Giang; Email: tnkhang@agu.edu.vn
Tóm tắt
Phát triển kinh tế bền vững, bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường là mục tiêu chiến lược mà các quốc gia trên thế giới hướng tới. Kinh tế sinh học là cách tiếp cận chiến lược được các quốc gia phát triển thúc đẩy để giải quyết những thách thức đặt ra. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính tổng quan hệ thống, tiến hành phân loại và mã hóa 21 bài báo để tổng hợp và phân tích kết quả các nghiên cứu. Kết quả tổng quan chỉ ra 3 phương pháp được sử dụng phổ biến là bảng đầu vào - đầu ra, tính toán từ dữ liệu khảo sát và cách tiếp cận 3 giai đoạn được sử dụng trong đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế.
Từ khoá: Sự bền vững, kinh tế dựa trên sinh học, đóng góp kinh tế sinh học, giá trị tăng thêm, kinh tế sinh học
Abstract
Sustainable economic development, which balances economic growth, social benefits, and environmental protection, is a strategic objective pursued by countries worldwide. The bioeconomy is a strategic approach promoted by developed countries to address the challenges involved. This study employs a qualitative systematic literature review, classifying and coding 21 articles to synthesize and analyze their research findings. The review identifies three commonly used methods for measuring the bioeconomy's contribution to the economy: input-output tables, survey-based calculations, and the three-stage approach.
Keywords: Sustainability, bio-based economy, bioeconomy contribution, value added, bioeconomy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh kinh tế trên thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, đến các cuộc chiến thuế quan ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế…, phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, hòa nhập xã hội và bảo vệ môi trường là xu hướng tất yếu (United Nations, 2018). Phát triển kinh tế sinh học được công nhận rộng rãi và là cách tiếp cận chiến lược để giải quyết những thách thức toàn cầu, bao gồm an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, khan hiếm tài nguyên, chăm sóc sức khỏe, phát triển bền vững môi trường và biến đổi khí hậu (Mesa và cộng sự, 2024; M'barek và Wesseler, 2023; Issa và cộng sự, 2019; Zilberman và cộng sự, 2018). Bằng cách thúc đẩy đổi mới và hiệu quả trong sử dụng tài nguyên sinh học (động vật, thực vật, vi sinh vật), kinh tế sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao phúc lợi kinh tế - xã hội và lợi ích môi trường (Calicioglu và Bogdanski, 2021; Razminien và cộng sự, 2021; Wesseler và Zhu, 2024). Kinh tế sinh học cũng được nhận định đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những thách thức về môi trường, xã hội và kinh tế ở các nước phát triển và đang phát triển (Zilberman và cộng sự, 2018).
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Hiện nay, định nghĩa về kinh tế sinh học vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chưa có sự thống nhất trên phạm vi toàn thế giới. Theo Ủy ban châu Âu (EC, 2012) kinh tế sinh học theo hoạt động kinh tế bao gồm sản xuất thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, sản phẩm sinh học, năng lượng và dịch vụ (loại trừ các hoạt động ứng dụng chăm sóc sức khỏe) tạo ra sản phẩm sinh học hoặc sử dụng tài nguyên sinh học đầu vào. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA, 2002) định nghĩa kinh tế sinh học là sản phẩm, sản phẩm thương mại hoặc công nghiệp (loại trừ thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi) cấu tạo từ toàn bộ hoặc một phần đáng kể các sản phẩm sinh học hoặc nguyên liệu nông nghiệp có thể tái tạo (thực vật, động vật và biển) hoặc lâm nghiệp (thực vật). Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO, 2016) định nghĩa kinh tế sinh học là hoạt động sản xuất hàng hóa phi thực phẩm (bột giấy và giấy, vật liệu xây dựng, dệt may) vật liệu, hóa chất, dược phẩm và năng lượng dựa trên sinh học (động vật, thực vật, vi sinh vật). Theo các tổ chức quốc tế khác như Malaysian (2022), Japan Bioindustry Association (2020), kinh tế sinh học được định nghĩa rộng hơn, bao gồm tất cả các ngành công nghiệp và lĩnh vực kinh tế sản xuất, quản lý có sử dụng tài nguyên sinh học. Carlson (2016) định nghĩa kinh tế sinh học là việc sử dụng công nghệ kỹ thuật di truyền vào các hoạt động sản xuất như nông nghiệp, y học và sinh học. Còn Biookonomierat (2010), định nghĩa kinh tế sinh học là tất cả các hoạt động bao gồm sản xuất, chế biến, dịch vụ dựa trên hoặc có sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học.
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu kinh tế sinh học là quá trình chế biến, sản xuất dựa trên sinh khối, cung cấp dịch vụ dựa trên tài nguyên sinh học (động vật, thực vật, vi sinh vật). Dựa trên sinh học là các sản phẩm có toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu đầu vào có sử dụng sinh khối, khi sản phẩm chỉ sử dụng một phần sinh khối thì phải đảm bảo tỷ lệ đầu vào tối thiểu 10%.
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính tổng quan hệ thống. Trước tiên, nhóm nghiên cứu tiến hành tìm kiếm những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học uy tín từ cơ sở dữ liệu khoa học (Google Scholar, Scopus) và các tạp chí khoa học trong nước và các bài báo có liên quan. Sau khi sàng lọc theo tiêu chí, kết quả thu thập được 21 bài báo cho nghiên cứu (Bảng 1).
Bảng 1: Bảng tổng hợp danh sách 21 bài báo được sàng lọc
| STT | Tên giả (Năm xuất bản) | Tên tạp chí/Nơi xuất bản |
|---|---|---|
| 1 | Pellerin và Taylor (2008) | Sage Journals |
| 2 | Carlos và cộng sự (2014) | UNAN-León Journal |
| 3 | Matteo và Kes (2015) | Journal sustainability |
| 4 | Efken và cộng sự (2016) | Wageningen Journal of Life Sciences |
| 5 | Carlson (2016) | Nature Biotechnology |
| 6 | Wim (2016) | Wageningen Journal of Life Sciences |
| 7 | Justus và Joachim (2017) | Annual Reviews |
| 8 | Stefania và cộng sự (2018) | Journal sustainability |
| 9 | Kuosmanen và cộng sự (2020) | European Union |
| 10 | Susanne và cộng sự (2019) | German Journal of Agricultural Economics |
| 11 | Efstratios và cộng sự (2019) | Journal sustainability |
| 12 | Ronzon và cộng sự (2020) | Journal sustainability |
| 13 | D'Adamo và cộng sự (2020) | Ecological Economics |
| 14 | Mauricio và cộng sự (2021) | Journal sustainability |
| 15 | Cingiz và cộng sự (2021) | Journal sustainability |
| 16 | Tévécia và cộng sự (2021) | Structural Change and Economic Dynamics |
| 17 | Lazorcakova và cộng sự (2022) | Biomass and Bioenergy |
| 18 | Tina và Matthew (2023) | Bureau of Economic Analysis |
| 19 | Wesseler và Zhu (2024) | Journal Engineering |
| 20 | Sebastián và cộng sự (2024) | Journal sustainability |
| 21 | Mengshuai và cộng sự (2025) | Environment, Development and Sustainability |
Phân loại và mã hóa dữ liệu thu thập
Nhóm tác giả tiến hành phân loại chi tiết 21 bài báo theo 9 tiêu chí: Loại nghiên cứu, cách tiếp cận, không gian nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, bối cảnh kinh tế, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phạm vi đo lường, kết quả nghiên cứu (Bảng 2). Tương ứng với từng tiêu chí, nhóm tác giả tiếp tục phân loại theo các hạng mục cụ thể, đồng thời mã hóa bằng các chữ cái (A, B, C, D) nhằm xác định đặc điểm và khuynh hướng chính của các bài báo được thu thập. Tùy theo từng tiêu chí mà số lượng hạng mục có sự khác nhau (không cố định giống nhau đối với các tiêu chí) (Bảng 3). Việc phân loại và mã hóa các bài báo là cơ sở để nhận diện phương pháp sử dụng phổ biến, tình hình và xu hướng nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học trong tương lai.
Bảng 2: Các tiêu chí phân loại và mã hóa các bài báo
| STT | Tiêu chí | Ký hiệu mã hóa |
|---|---|---|
| 1 | Loại nghiên cứu | A - Thực nghiệm B - Lý thuyết C - Kết hợp lý thuyết và thực nghiệm |
| 2 | Cách tiếp cận nghiên cứu | A - Định lượng B - Định tính C - Kết hợp định lượng và định tính |
| 3 | Không gian nghiên cứu | A - Một quốc gia B - Khu vực C - Thế giới D - Không xác định (N/A) |
| 4 | Thời gian nghiên cứu | A - Dưới 03 năm B - Từ 03 năm dưới 05 năm C - Từ 05 năm dưới 07 năm D - Từ 07 năm trở lên |
| 5 | Bối cảnh kinh tế | A - Quốc gia phát triển B - Quốc gia đang phát triển C - Kết hợp quốc gia phát triển và đang phát triển |
| 6 | Phương pháp nghiên cứu | A - Thống kê kinh tế B - Mô phỏng/mô hình toán học C - Kinh tế lượng D - Khác (Tổng quan hệ thống/các phương pháp định tính khác,..) |
| 7 | Dữ liệu nghiên cứu | A - Cơ quan thống kê; B - Khảo sát thu thập dữ liệu C - Kết hợp khảo sát và dữ liệu cơ quan thống kê D - Khác/Không xác định (N/A) |
| 8 | Phạm vi đo lường | A - Toàn bộ hoạt động kinh tế B - Giới hạn ở một số hoạt động kinh tế/sản phẩm C - Không xác định (N/A) |
| 9 | Kết quả nghiên cứu | A - Tỷ lệ đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế B - Đưa ra quan điểm về đo lường đóng góp của kinh tế sinh học C - Kết hợp tỷ lệ đóng góp và quan điểm đo lường đóng góp của kinh tế sinh học D - Không xác định được kết quả cụ thể (N/A) |
Bảng 3: Kết quả phân loại và mã hóa các bài báo
| STT | Tiêu chí | Số lượng | |||
| A | B | C | D | ||
| 1 | Loại nghiên cứu | 14 | 7 | 0 | 0 |
| 2 | Cách tiếp cận nghiên cứu | 14 | 7 | 0 | 0 |
| 3 | Không gian nghiên cứu | 9 | 7 | 5 | 0 |
| 4 | Thời gian nghiên cứu | 7 | 2 | 2 | 10 |
| 5 | Bối cảnh kinh tế | 14 | 2 | 5 | 0 |
| 6 | Phương pháp nghiên cứu | 10 | 3 | 1 | 7 |
| 7 | Dữ liệu nghiên cứu | 10 | 1 | 1 | 9 |
| 8 | Phạm vi đo lường | 3 | 14 | 4 | 0 |
| 9 | Kết quả nghiên cứu | 9 | 7 | 4 | 1 |
Phân tích kết quả tổng quan
Sau khi phân loại và mã hóa dữ liệu thu thập, kết quả có 14 bài báo thuộc nhóm tiếp cận định lượng phù hợp tiêu chí được để phân tích sâu các khía cạnh trong đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Xét ở góc độ phạm vi đo lường, nhóm nghiên cứu chia các bài báo thành 2 nhóm (i) phạm vi đo lường toàn bộ hoạt động kinh tế và (ii) phạm vi đo lường ở một số hoạt động kinh tế.
Phạm vi đo lường toàn bộ hoạt động kinh tế
Efken và cộng sự (2016) nghiên cứu sử dụng dữ liệu thống kê chính thức của Cục Thống kê liên bang Đức giai đoạn 2002-2010. Áp bảng đầu vào - đầu ra (bảng Input - Output) xác định năm 2010 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học đóng góp 6% vào nền kinh tế và chiếm 10% tổng lực lượng lao động của nền kinh tế Đức. Tương tự, Wim (2016) tính toán giai đoạn 2008-2012 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học đóng góp khoảng 6,6-7,2% vào nền kinh tế Hà Lan. Còn Mauricio và cộng sự (2021) kết hợp dữ liệu Cơ quan Thống kê quốc gia với dữ liệu khảo sát tính toán năm 2021 cho thấy, giá trị tăng thêm của kinh tế sinh học đóng góp 18,2% vào nền kinh tế Antioquia, đóng góp 16,4% vào nền kinh tế Colombia. Efstratios và cộng sự (2019) nghiên cứu tính toán năm 2010 giá trị tăng thêm theo giá hiện hành của kinh tế sinh học đóng góp khoảng 123-135 tỷ EUR vào nền kinh tế Ba Lan. Cingiz và cộng sự (2021) nghiên cứu tính toán giai đoạn 2005-2015 giá trị tăng thêm của kinh tế sinh học đóng góp khoảng 14-15% vào nền kinh tế các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Lazorcakova và cộng sự (2022) nghiên cứu 4 nước thành viên Liên minh châu Âu (Ba Lan, Hungary, Séc và Slovakia) tính toán năm 2015 giá trị tăng thêm của kinh tế sinh học đóng góp 10% vào nền kinh tế các nước này.
Phạm vi đo lường ở một số hoạt động kinh tế
Pellerin và Taylor (2008) sử dụng dữ liệu cơ quan Thống kê quốc gia Canada, với phương pháp tiếp cận 3 giai đoạn, tính toán năm 2007 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học vào khoảng 78,3 tỷ USD, đóng góp 6,4% vào nền kinh tế. Carlos và cộng sự (2014) sử dụng dữ liệu Ngân hàng Trung ương Nicaragua tính toán giai đoạn 1994-2000 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học đóng góp 28%, giai đoạn 2000-2006 đóng góp 7% vào nền kinh tế Nicaragua. Carlson (2016) đo lường kinh tế sinh học chỉ ở một số sản phẩm sinh học (thuốc công nghệ sinh học), cây trồng biến đổi gen và công nghệ sinh học công nghiệp thuộc các ngành sản xuất, chế biến; tính toán dựa trên dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát các công ty sản xuất, chế biến sản phẩm sinh học của Hoa Kỳ, cho thấy năm 2012 doanh thu kinh tế sinh học chiếm 2% nền kinh tế. Susanne và cộng sự (2019) sử dụng dữ liệu chính thức của Cục Thống kê liên bang Đức và kết hợp dữ liệu khảo sát, đã tính toán năm 2014 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học khoảng của Đức là 2,2 tỷ EUR. Ở khu vực châu Âu, Ronzon và cộng sự (2020) nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học ở các ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống, thuốc lá và dịch vụ kinh tế sinh học dựa trên dữ liệu khảo sát và quyền số tỷ lệ dựa trên sinh học, cho thấy giai đoạn 2008-2017 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học ngành chế biến thực phẩm, đồ uống và thuốc lá chiếm 37%, nông nghiệp chiếm 30%, còn dịch vụ giai đoạn 2015-2017 chiếm 5-8,6%. Ở châu Á, nghiên cứu của Mengshuai và cộng sự (2025) sử dụng dữ liệu cơ quan thống kê Trung Quốc tính toán năm 2018 giá trị tăng thêm kinh tế sinh học đóng góp 15,71-19,17% vào nền kinh tế.
KẾT LUẬN
Kết quả lược khảo 21 nghiên cứu liên quan về đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế, cho thấy 4 kết luận cốt lõi sau:
Thứ nhất, kinh tế sinh học là hoạt động kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp, dịch vụ được phân loại thống kê theo hệ thống tiêu chuẩn nhất định. Từ đó, đo lường đóng góp kinh tế sinh học vào nền kinh tế theo phạm vi ngành kinh tế theo phân loại thống kê sử dụng như phân loại thống kê ngành công nghiệp tiêu chuẩn Bắc Mỹ (Pellerin và Taylor, 2008; Carlos và cộng sự, 2014), phân loại thống kê hoạt động kinh tế tiêu chuẩn châu Âu (Efstratios và cộng sự, 2019; Susanne và cộng sự, 2019; Ronzon và cộng sự, 2020; D'Adamo và cộng sự, 2020; Lazorcakova và cộng sự, 2022), phân loại thống kê hoạt động kinh tế tiêu chuẩn quốc tế (Mengshuai và cộng sự, 2025).
Thứ hai, các phương pháp đo lường được sử dụng là thống kê kinh tế, khảo sát thu thu thập dữ liệu, cách tiếp cận 3 giai đoạn với phạm vi đo lường là toàn bộ các hoạt động kinh tế hoặc một số hoạt động kinh tế. Khi sử dụng bảng IO (Input - Output) thì phạm vi đo lường đóng góp kinh tế sinh học với toàn bộ hoạt động kinh tế (Efken và cộng sự, 2016; Wim, 2016; Efstratios và cộng sự, 2019; Mauricio và cộng sự, 2021; Cingiz và cộng sự, 2021; Lazorcakova và cộng sự, 2022).
Thứ ba, đo lường đóng góp kinh tế sinh học vào nền kinh tế sử dụng dữ liệu thứ cấp có sẵn hoặc sơ cấp thông qua khảo sát. Dữ liệu thứ cấp có sẵn phổ biến vẫn là nguồn dữ liệu chính thức của cơ quan Thống kê quốc gia để đảm bảo tính thống nhất với hệ thống phân loại thống kê các hoạt động kinh tế của quốc gia. Dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát để thu thập thông tin các hoạt động kinh tế sinh học đưa vào tính toán đóng góp vào nền kinh tế.
Thứ tư, việc định nghĩa kinh tế kinh tế sinh học chưa có sự thống nhất ở phạm vi thế giới dẫn đến phạm vi, phương pháp sử dụng để đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế cũng khác nhau nên chưa thể so sánh kết quả đo lường giữa các quốc gia với nhau.
Tài liệu tham khảo:
1. Biookonomierat (2010). Bioeconomy innovation research and technologicaldevelopment to ensure food security, the sustainable use of resources and competitiveness. Bioeconomy Council Report 2010. https://www.scirp.org/reference/referencespapers?referenceid=1919861
2. Carlson, R. (2016). Estimating the biotech sector’s contribution to the US economy. Nature Biotechnology, 34(3), 247-255. https://doi.org/10.1038/nbt.3491
3. Calicioglu, Ö., & Bogdanski, A. (2021). Linking the bioeconomy to the 2030 sustainable development agenda: Can SDG indicators be used to monitor progress towards a sustainable bioeconomy? New Biotechnology, 61, 40-49. https://doi.org/10.1016/j.nbt.2020.10.010
4. Cingiz, K., Gonzalez-Hermoso, H., Heijman, W., & Wesseler, J. H. H. (2021). A cross-country measurement of the EU bioeconomy: An input-output approach. Sustainability, 13(6), 3033. https://doi.org/ 10.3390/su13063033
5. Carlos, A., & Zúniga, G. (2014). Medición de la contribución de la Bioeconomía: Caso Nicaragua. Universitas (León) Revista Cientíca de la UNAN-León, 5(1), 59- 82.
6. D’Adamo, I., Falcone, P. M., & Morone, P. (2020). A new socio-economic indicator to measure the performance of bioeconomy sectors in Europe. Ecological Economics, 176, 106724. https://doi.org/ 10.1016/j. ecolecon.2020.106724
7. European Commission (2012). Innovating for Sustainable Growth: A Bioeconomy for Europe. COM(2012), 60 final. DOI: https://doi.org/10.2777/6462
8. Efstratios, L., Piotr, J., Stelios, R., & Antoni, F. (2019). Assessing the Potentials of Bioeconomy Sectors in Poland Employing Input-Output Modeling. Sustainability, 11(3), 594. https://doi:10.3390/su11030594
9. FAO (2016). How Sustainability Is Addressed in Official Bioeconomy Strategies at International, National, and Regional Leveles - An Overview. Rome, Italy.
10. Issa, I., Delbrück, S., & Hamm, U. (2019). Bioeconomy from experts’ perspectives - Results of a globalexpert survey. PLoS ONE, 14(5), e0215917. https://doi.org/10.1371/journ al.pone.0215917
11. Efken, J., Walter, D., Peter, K., & Marius, K. (2016). Measuring the importance of the bioeconomy in Germany: Conceptand illustration. Wageningen Journal of Life Sciences, 77, 9-17. https://dx.doi.org/10.1016/j.njas.2016.03.008
12. Justus, W., & Joachim, V. B. (2017). Measuring the Bioeconomy: Economics and Policies. Annual Reviews, 9, 275-298. https://doi.org/10.1146/annurev-resource-100516-053701
13. Japanese Bioindustry Association (2020). Profile of Japan Bioindustry Association. https://jba.or.jp/en/ProfileofJBA2020.pdf
14. Kuosmanen, T., Kuosmanen, N., El-Meligi, A., Ronzon, T., Gurria, P., Iost, S., & M'Barek, R. (2020). How big is the bioeconomy? Reflections from an economic perspective. Luxembourg: Publications Office of the European Union. https://doi.org/10.2760/144526
15. Lazorcakova, E., Dries, L., Peerlings, J., & Pokrivcak, J. (2022). Potential of the bioeconomy in Visegrad countries: An input-output approach. Biomass and Bioenergy, 158, 106366. https://doi.org/10.1016/j.biomb ioe.2022.106366
16. Matteo, D. B., & Kes, M. C. (2015). Towards a Bioeconomy in Europe: National, Regional and Industrial Strategies. Sustainability, 7, 10461-10478. https://doi:10.3390/su70810461
17. Mauricio, A., Andrés, G. S., Laura, R. G., & Simón, V. V. (2021). Measuring the Contribution of the Bioeconomy: The Case of Colombia and Antioquia. Sustainability, 13(6), 2353. https://doi.org/10.3390/su13042353
18. Malaysian (2022). Bioeconomy Development Corporation. https://bioeconomycorporation.my/bioeconomymalaysia/investing-in-bioeconomy/investment-overview
19. Mesa, J.A., Sierra-Fontalvo, L.,Ortegon, K., & Gonzalez-Quiroga, A. (2024). Advancing circular bioeconomy: A critical review and assessment of indicators. Sustainable Production and Consumption, 46(2024), 324-342. https://doi.org/10.1016/j.spc.2024.03.006
20. Mengshuai, Z., Kutay, C., Jifang, L., Jianzhai, W., & Justus, W. (2025). Measuring the Chinese bioeconomy: a hypothetical extraction method with input-output tables. Environ Dev Sustain (2025). https://doi.org/10.1007/s10668-025-06020-x
21. Pellerin, W., & Taylor, D. (2008). Measuring the biobased economy: A Canadian perspective. Industrial Biotechnology, 4(4):363-366. https:// doi.org/10.1089/ind.2008.4.363
22. Ronzon, T., Piotrowski, S., Tamosiunas, S., Dammer, L., Carus, M., & M’barek, R. (2020). Developments of economic growth and employment in bioeconomy sectors across the EU. Sustainability, 12(11), 4507. https:// doi.org/10.3390/su12114507
23. Razminien, K., Vinogradova, I., & Tvaronavi, M. (2021). Clusters in transition to circular economy: Evaluation of relation. Acta Montanistica Slovaca, 26, 455-465. https://doi.org/10.46544/AMS.v26i3.06
24. Stefania, B., Ozgul, C., Marta, G. S. J., & Alessandro, F. (2018). Assessing the Contribution of Bioeconomy to the Total Economy: A Review of National Frameworks. Sustainability, 10(6), 1698. https://doi:10.3390/su10061698
25. Susanne, I., Naemi, L., Martin, B., Natalia, G., Dominik, J., Jörg, S., Sascha, W., & Holger, W. (2019). German Bioeconomy: Economic Importance and Concept of Measurement. GJAE, 68(2019), Number 4. https://doi.org/10.52825/gjae.v68i4.2141
26. Sebastián, L., Gabriela, A., Elen, P., Marco, A. M., & Edson, T. (2024). Measuring the Bioeconomy Economically: Exploring the Connections between Concepts, Methods, Data, Indicators and Their Limitations. Sustainability, 16(20), 8727. https://doi.org/10.3390/su16208727
27. Tévécia, R., Susanne, I., & George, P. (2021). An output-based measurement of EU bioeconomy services: Marrying statistics with policy insight. Structural Change and Economic Dynamics, 60(2022), 290-301. https://doi.org/10.1016/j.strueco.2021.10.005
28. Tina, H. & Matthew, C. (2023). Developing a National Measure of the Economic Contributions of the Bioeconomy (March 2023). Bureau of Economic Analysis U.S. Department of Commerce.
29. United Nations (2018). The Sustainable Development Agenda - United Nations Sustainable Development. https://www.un.org/sustainabledevelopment/development-agenda
30. The United States Department of Agriculture (2002). Farm Security and Rural Investment Act of 2002 (the 2002 Farm Bill). https://www.govinfo.gov/content/pkg/PLAW-107publ171/pdf/PLAW-107publ171.pdf
31. Wim, H. (2016). How big is the bio-business? Notes on measuring the size of theDutch bio-economy. Wageningen Journal of Life Sciences, 77, 5-8. https://dx.doi.org/10.1016/j.njas.2016.03.004
32. Wesseler, J., & Zhu, M. (2024). The contribution of the bioeconomy to sustainable development. Engineering, 43(2024), 25-27. https://doi.org/10.1016/j.eng.2024.08.019
33. Zilberman, D., Gordon, B., Hochman, G., & Wesseler, J. (2018). Economics of sustainable development and the bioeconomy. Applied Economic Perspectives and Policy, 40(1), 22-37. https://doi.org/10.1093/aepp/ ppx051
| Ngày nhận bài: 12/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/10/2026; Ngày duyệt đăng: 2/11/2026 |
Các tin khác
Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách
Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hải quan tại các khu thương mại tự do ở Việt Nam
Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam