Đóng góp của lao động đến giá trị tăng thêm của doanh nghiệp ngành công nghiệp tại các khu công nghiệp phía Nam tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu - Trao đổi 19:50 | 27/04/2026
Nghiên cứu phân tích tác động của lao động đến giá trị tăng thêm của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tại các khu công nghiệp phía Nam tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2020-2024.

Trần Thị Mai Linh

Nguyễn Thị Thu Hằng (Tác giả liên hệ)

Email: ntthang@tueba.edu.vn

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích tác động của lao động đến giá trị tăng thêm của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tại các khu công nghiệp phía Nam tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2020-2024. Trên cơ sở hàm sản xuất Cobb-Douglas và dữ liệu bảng của 80 doanh nghiệp, nghiên cứu sử dụng phương pháp tác động cố định để ước lượng vai trò của lao động và vốn, đồng thời cho phép mức độ tác động của lao động khác nhau giữa các nhóm ngành thông qua các biến tương tác. Kết quả cho thấy, Lao động và Vốn đều có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đến Giá trị tăng thêm của doanh nghiệp; tuy nhiên, mức độ đóng góp của Lao động có sự khác biệt giữa các nhóm ngành. Trong khi ngành điện tử - công nghệ cao phụ thuộc nhiều hơn vào vốn và công nghệ, Lao động đóng vai trò nổi trội hơn trong các ngành công nghiệp hỗ trợ và đặc biệt là cơ khí - chế tạo. Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng chính sách phát triển công nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại địa phương.

Từ khóa: Giá trị tăng thêm, lao động, hàm sản xuất Cobb-Douglas, dữ liệu bảng, khu công nghiệp, tỉnh Thái Nguyên.

Abstract

The study analyzes the impact of labor on the value added of industrial enterprises located in industrial zones in the southern area of Thai Nguyen province during the period 2020-2024. Based on the Cobb-Douglas production function and panel data from 80 firms, the study employs a fixed-effects model to estimate the roles of labor and capital, while allowing the effect of labor to vary across industry groups through interaction terms. The findings indicate that both labor and capital have positive and statistically significant effects on firms’ value added; however, the contribution of labor differs across industries. While the electronics and high-technology sector relies more heavily on capital and technology, labor plays a more prominent role in supporting industries, particularly in the mechanical and manufacturing sector. The research results contribute to orienting industrial development policies and improving the efficiency of labor utilization in the province.

Keywords: Value added, labor, Cob-Douglas production function, panel data, industrial zone, Thai Nguyen province

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, khu vực công nghiệp giữ vai trò quyết định trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động. Theo Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, sản lượng của nền kinh tế được hình thành từ sự kết hợp giữa vốn, lao động và tiến bộ công nghệ (Solow, 1957; Mankiw và cộng sự, 1992). Đối với tỉnh Thái Nguyên, hoạt động sản xuất công nghiệp đã trở thành trụ cột của phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp quan trọng vào GRDP và thúc đẩy liên kết vùng giữa các địa phương trong khu vực miền núi phía Bắc. Trong đó, các khu công nghiệp (KCN) phía Nam tỉnh Thái Nguyên, gồm các KCN trọng điểm như: Yên Bình, Điềm Thụy và Nam Phổ Yên, đã hình thành một không gian sản xuất công nghiệp tập trung với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và liên kết vùng thuận lợi. Khu vực này thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, trở thành trung tâm của các ngành công nghiệp trọng yếu và là “đầu tàu” thu hút FDI cho toàn tỉnh.

Về quy mô và mức độ tập trung doanh nghiệp, đến hết năm 2024, các KCN phía Nam Thái Nguyên đã thu hút 179 dự án đầu tư thứ cấp, gồm 108 dự án tại KCN Điềm Thụy, 56 dự án tại KCN Yên Bình và 15 dự án tại KCN Nam Phổ Yên. KCN Yên Bình và Điềm Thụy đã đạt tỷ lệ lấp đầy 100%, cho thấy mật độ cao các hoạt động sản xuất và đầu tư. Năm 2024, tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN đạt 34 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu 31 tỷ USD và tổng nộp ngân sách trên 9.500 tỷ đồng, đồng thời tạo thêm khoảng 12.000 việc làm. Về cơ cấu ngành, doanh nghiệp tại các KCN phía Nam Thái Nguyên tập trung vào 4 nhóm chính: (i) Điện tử - công nghệ cao, chủ yếu tại KCN Yên Bình; (ii) Công nghiệp hỗ trợ và linh kiện, phát triển mạnh tại KCN Điềm Thụy và Nam Phổ Yên; (iii) Cơ khí - chế tạo đa ngành; (iv) Dịch vụ hỗ trợ sản xuất như logistics, kho vận, tài chính - ngân hàng và các dịch vụ kỹ thuật (Ban Quản lý các KCN tỉnh Thái Nguyên (2024).

Trong bối cảnh đó, giá trị tăng thêm (VA) được coi là thước đo quan trọng phản ánh hiệu quả sản xuất và đóng góp của doanh nghiệp vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Trong số các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, lao động là nhân tố then chốt ảnh hưởng đến năng suất và VA, song mức độ đóng góp của lao động có thể khác nhau theo ngành nghề, trình độ công nghệ và quy mô doanh nghiệp. Do vậy, nghiên cứu này xây dựng và áp dụng mô hình kinh tế lượng dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas để lượng hóa và phân tích tác động của yếu tố lao động đến giá trị tăng thêm của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tại các KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở ước lượng các tham số và độ co giãn của lao động trong mô hình, nghiên cứu đánh giá mức độ đóng góp tương đối của lao động vào tăng trưởng giá trị tăng thêm, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động và thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững tại địa phương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Trong Lý thuyết kinh tế học sản xuất, mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và kết quả sản xuất được mô tả thông qua hàm sản xuất, trong đó lao động và vốn là 2 yếu tố cơ bản quyết định năng lực tạo ra giá trị gia tăng của doanh nghiệp. Trên nền tảng Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, đặc biệt là Mô hình Solow, sản lượng được hình thành từ sự kết hợp giữa vốn, lao động và trình độ công nghệ (Solow, 1957; Mankiw và cộng sự, 1992).

Ở cấp độ doanh nghiệp, giá trị tăng thêm (Value Added - VA) phản ánh phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất, được xác định bằng tổng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian, qua đó thể hiện trực tiếp hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và đóng góp của doanh nghiệp vào GDP/GRDP (Hulten, 2001).

Lao động (L) bao gồm lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia sản xuất; chất lượng lao động và kỹ năng nghề nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và hiệu quả sản xuất. Vốn (K) đại diện cho tài sản cố định, máy móc thiết bị và cơ sở hạ tầng, trong khi các yếu tố tổng hợp (A) phản ánh trình độ công nghệ, năng lực quản lý và hiệu quả chung của quá trình sản xuất.

Do đó, hiệu quả phát triển của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào quy mô lao động và vốn, mà còn chịu tác động của các yếu tố tổng hợp. Trong bối cảnh các khu công nghiệp với cơ cấu doanh nghiệp đa dạng về quy mô và ngành nghề, việc phân tích vai trò của lao động đối với giá trị tăng thêm có ý nghĩa quan trọng cả về mặt học thuật và thực tiễn.

Trong số các dạng hàm sản xuất, hàm Cobb - Douglas được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm nhờ cấu trúc đơn giản, khả năng diễn giải rõ ràng và tính phù hợp với dữ liệu thực tế (Cobb, C.W. và Douglas, P.H. 1928). Dạng tổng quát của hàm Cobb -Douglas ở cấp doanh nghiệp được biểu diễn như sau:

Trong đó:

là giá trị tăng thêm của doanh nghiệp i tại thời điểm t;

là vốn sản xuất, được đại diện bởi giá trị tài sản cố định;

là lao động;

phản ánh trình độ công nghệ và các yếu tố hiệu quả tổng hợp;

lần lượt là độ co giãn của giá trị tăng thêm theo lao động và vốn.

Việc logarit hóa hàm sản xuất cho phép chuyển mô hình sang dạng tuyến tính, thuận tiện cho ước lượng kinh tế lượng:

Trong đó, các hệ số có thể được diễn giải trực tiếp là mức phần trăm thay đổi của giá trị tăng thêm khi lao động hoặc vốn tăng 1%, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.

Mô hình nghiên cứu

Trong bối cảnh các KCN, các doanh nghiệp thuộc những nhóm ngành khác nhau có trình độ công nghệ và tỷ trọng các yếu tố sản xuất không đồng nhất, dẫn đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị tăng thêm có thể khác nhau giữa các ngành. Các doanh nghiệp điện tử - công nghệ cao thường có mức độ tự động hóa cao và thâm dụng vốn lớn, trong khi các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và cơ khí - chế tạo phụ thuộc nhiều hơn vào số lượng và chất lượng lao động. Do đó, giả định tác động đồng nhất của lao động đối với giá trị tăng thêm trong hàm sản xuất truyền thống có thể không phù hợp trong bối cảnh các KCN đa ngành. Trên cơ sở hàm sản xuất Cobb-Douglas (Cobb, C.W. và Douglas, P.H. 1928), nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế lượng cho phép độ co giãn của lao động khác nhau theo nhóm ngành thông qua các biến tương tác giữa lao động và biến giả ngành (Baltagi, 2005; Wooldridge, 2010):

.

Biến phụ thuộc: là giá trị tăng thêm của doanh nghiệp i tại thời điểm t, được đo bằng triệu đồng, là logarit tự nhiên của giá trị tăng thêm.

Biến độc lập:

là lao động sử dụng của doanh nghiệp i tại thời điểm t, được đo bằng số lao động bình quân (người); là logarit tự nhiên của lao động.

là vốn sử dụng của doanh nghiệp i tại thời điểm t, đại diện bởi giá trị tài sản cố định, được đo bằng triệu đồng; là logarit tự nhiên của vốn.

là biến giả nhóm ngành, nhận giá trị bằng 1 nếu doanh nghiệp i thuộc nhóm ngành s, và bằng 0 trong các trường hợp còn lại.

phản ánh mức chênh lệch trong tác động của lao động đến giá trị tăng thêm giữa nhóm ngành s và nhóm ngành tham chiếu.

là hiệu ứng cố định theo doanh nghiệp, nhằm kiểm soát các đặc điểm không quan sát được nhưng bất biến theo thời gian của từng doanh nghiệp.

là hiệu ứng thời gian, phản ánh các cú sốc chung ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu.

là sai số ngẫu nhiên.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Số liệu và các biến

Nguồn số liệu đươc sử dụng là bộ số liệu điều tra doanh nghiệp thuộc các KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên do nhóm tác giả tiến hành điều tra. Nghiên cứu sử dụng số liệu có được của 80 doanh nghiệp giai đoạn 2020-2024 để đánh giá đóng góp của yếu tố lao động đến giá trị mới tạo ra (VA) của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được sắp xếp ở 3 nhóm ngành chính trong ngành công nghiệp, đó là:

Nhóm ngành 1: Điện tử - Công nghệ cao với số doanh nghiệp khảo sát là 35.

Nhóm ngành 2: Công nghiệp hỗ trợ và linh kiện với số doanh nghiệp khảo sát là 25.

Nhóm ngành 3: Cơ khí chế tạo số doanh nghiệp khảo sát là 20.

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy số liệu mảng với số quan sát N = 80 doanh nghiệp theo ngành công nghiệp và theo thời gian T = 5.

Số liệu các biến số sử dụng trong mô hình hồi quy: Để phục vụ tốt nhất cho việc phân tích thống kê, nhóm tác giả đã loại bỏ các quan sát không có ý nghĩa thực tế: doanh thu âm, số lao động, vốn bằng 0 có thể do sai hoặc nhầm trong các phiếu điều tra.

Bảng 1: Thống kê mô tả biến VA, L và K

Biến

Obs

Mean

Std. Dev.

Min

Max

VA (triệu đồng)

400

338.400

720.000

5.000

25.000.000

L (người)

400

3.250

9.500

60

70.000

K - TSCĐ (triệu đồng)

400

18.500

28.500

3.000

120.000.000

Nguồn: Xử lý từ bộ số liệu của nhóm tác giả

Bảng 1 trình bày thống kê mô tả các biến chính trong mô hình với 400 quan sát, tương ứng 80 doanh nghiệp công nghiệp trong giai đoạn 2020-2024. Kết quả cho thấy, sự phân hóa rất lớn về quy mô giữa các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, thể hiện qua giá trị trung bình và độ lệch chuẩn cao của các biến giá trị tăng thêm, lao động và vốn. Đặc biệt, giá trị tối đa của các biến phản ánh sự hiện diện của một số doanh nghiệp FDI quy mô rất lớn trong các KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên, điển hình là tổ hợp sản xuất của Samsung, trong khi phần lớn các doanh nghiệp còn lại có quy mô nhỏ và vừa. Đặc điểm này phù hợp với bối cảnh nghiên cứu và được kiểm soát trong mô hình thông qua các hiệu ứng cố định theo doanh nghiệp và theo thời gian.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb - Douglas dạng log-log với dữ liệu bảng, trong đó cho phép độ co giãn của lao động khác nhau theo nhóm ngành công nghiệp thông qua các biến tương tác giữa lao động và biến giả ngành. Mô hình được ước lượng bằng phương pháp tác động cố định (Fixed Effects - FE) nhằm kiểm soát các yếu tố không quan sát được nhưng bất biến theo thời gian của từng doanh nghiệp, đồng thời đưa vào hiệu ứng năm để kiểm soát các cú sốc chung trong giai đoạn nghiên cứu. Sai số chuẩn được điều chỉnh theo cụm doanh nghiệp để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu bảng ngắn (Baltagi, 2005; Wooldridge, 2010).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 2: Kết quả ước lượng tổng thể của mô hình

Biến

Hệ số ước lượng

Sai số chuẩn

Ln(L)

0,420***

(0,058)

Ln(K)

0,560**

(0,051)

0,110**

(0,046)

0,180***

(0,050)

Hiệu ứng doanh nghiệp

Có

Hiệu ứng năm

Có

Số quan sát

400

Số doanh nghiệp

80

(within)

0,720

Nguồn: Xử lý từ bộ số liệu của nhóm tác giả

Trong đó:

Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ & linh kiện

Doanh nghiệp cơ khí - chế tạo

Nhóm ngành gốc: Điện tử - công nghệ cao

** p<0,01; ** p<0,05; * p<0,10

Sai số chuẩn điều chỉnh theo cụm doanh nghiệp

Kết quả ước lượng ở Bảng 2 cho thấy, mô hình có mức độ phù hợp cao, với hệ số xác định trong mô hình FE đạt khoảng 72,1%, cho thấy các biến giải thích trong mô hình có khả năng giải thích tốt sự biến động của giá trị tăng thêm giữa các doanh nghiệp theo thời gian. Kiểm định F cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ giữa Lao động, Vốn và Giá trị tăng thêm của doanh nghiệp công nghiệp trong các KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra, kết quả ước lượng cho thấy, tác động của Lao động đến Giá trị tăng thêm khác nhau giữa các nhóm ngành công nghiệp. Cụ thể như sau:

(i) Nhóm ngành điện tử - công nghệ cao (nhóm gốc)

Hệ số của biến ln(L) ước lượng đạt 0,420 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Kết quả này cho thấy, khi Lao động của doanh nghiệp ngành điện tử tăng 1%, Giá trị tăng thêm của doanh nghiệp tăng trung bình khoảng 0,42%, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này cho thấy ngành điện tử - công nghệ cao có đặc điểm sử dụng vốn và công nghệ ở mức cao, trong đó lao động đóng vai trò quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định chủ đạo đối với việc tạo ra giá trị gia tăng.

(ii) Nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ và linh kiện

Hệ số tương tác giữa Lao động và biến giả ngành công nghiệp hỗ trợ có giá trị 0,110 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Do đó, độ co giãn của Lao động đối với giá trị tăng thêm trong nhóm ngành này được xác định là: . Điều này cho thấy Lao động đóng góp mạnh hơn vào Giá trị tăng thêm trong các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và linh kiện so với doanh nghiệp điện tử - công nghệ cao. Kết quả này phù hợp với thực tiễn, bởi các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thường có đặc điểm sử dụng nhiều lao động hơn, đặc biệt trong các khâu gia công, lắp ráp, sản xuất linh kiện và phụ tùng.

(iii) Nhóm ngành cơ khí - chế tạo

Hệ số tương tác giữa Lao động và biến giả ngành cơ khí - chế tạo đạt 0,180 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Theo đó, độ co giãn của Lao động trong nhóm ngành này là: . Kết quả này cho thấy, Lao động có vai trò lớn nhất trong việc tạo ra Giá trị tăng thêm đối với các doanh nghiệp cơ khí - chế tạo. Điều này phản ánh đúng đặc trưng của ngành, khi chất lượng tay nghề, kinh nghiệm và kỹ năng lao động đóng vai trò then chốt trong quá trình sản xuất và gia công cơ khí.

Về tác động của vốn (TSCĐ) đến Giá trị tăng thêm: Hệ số của biến ln(K) đạt 0,560 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, cho thấy khi Vốn tăng 1% thì Giá trị tăng thêm của doanh nghiệp tăng trung bình 0,56%. Kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của vốn, đặc biệt là tài sản cố định và máy móc thiết bị, trong các ngành công nghiệp tại KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên. So sánh tương đối cho thấy, trong nhóm ngành điện tử - công nghệ cao, vai trò của vốn lớn hơn vai trò của lao động, trong khi ở các ngành cơ khí và công nghiệp hỗ trợ, lao động có xu hướng đóng vai trò nổi trội hơn.

Về hiệu ứng năm và bối cảnh kinh tế, các biến giả năm cho thấy: Năm 2021 có tác động âm và có ý nghĩa thống kê, phản ánh ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19 và đứt gãy chuỗi cung ứng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp; các năm 2023-2024 có tác động dương và có ý nghĩa thống kê cao, cho thấy sự phục hồi và mở rộng sản xuất trong giai đoạn hậu đại dịch COVID-19. Điều này cho thấy, mô hình đã kiểm soát tốt các yếu tố chu kỳ và cú sốc vĩ mô ảnh hưởng chung đến toàn bộ doanh nghiệp.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Nghiên cứu phân tích tác động của lao động đến giá trị tăng thêm của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tại các KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2020-2024, trên cơ sở mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas với dữ liệu bảng. Bằng việc sử dụng phương pháp tác động cố định và cho phép độ co giãn của lao động khác nhau theo nhóm ngành thông qua các biến tương tác, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò của Lao động và Vốn trong quá trình tạo ra Giá trị gia tăng ở cấp doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 2 biến Lao động và Vốn đều có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đến Giá trị tăng thêm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ đóng góp của lao động có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm ngành công nghiệp. Trong khi ngành điện tử - công nghệ cao phụ thuộc nhiều hơn vào vốn và công nghệ, các ngành công nghiệp hỗ trợ và đặc biệt là cơ khí - chế tạo cho thấy vai trò nổi trội hơn của Lao động trong việc tạo ra giá trị tăng thêm. Điều này phản ánh sự khác biệt về cấu trúc sản xuất và yêu cầu về kỹ năng lao động giữa các ngành trong KCN. Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy, tác động đáng kể của các yếu tố theo thời gian, với ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19 trong giai đoạn đầu và sự phục hồi rõ nét của hoạt động sản xuất trong giai đoạn hậu đại dịch. Điều này khẳng định sự cần thiết phải kiểm soát các cú sốc vĩ mô và yếu tố chu kỳ khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Từ các kết quả trên, nghiên cứu hàm ý rằng, chính sách phát triển công nghiệp tại các KCN phía Nam tỉnh Thái Nguyên cần được thiết kế theo đặc thù ngành, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với các ngành thâm dụng lao động như cơ khí và công nghiệp hỗ trợ, đồng thời thúc đẩy đầu tư công nghệ và đổi mới thiết bị đối với các ngành thâm dụng vốn và công nghệ cao.

Nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa theo chiều sâu và cung cấp cơ sở thực nghiệm phục vụ hoạch định chính sách phát triển công nghiệp bền vững ở cấp địa phương.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên (2024). Báo cáo tổng hợp tình hình hoạt động doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên.

2. Baltagi, B.H. (2005). Econometric Analysis of Panel Data (3rd ed.). John Wiley & Sons, Chichester.

3. Cobb, C.W. & Douglas, P.H. (1928). A theory of production. American Economic Review, 18(Supplement), 139-165.

4. Greene, W.H. (2012). Econometric Analysis (7th ed.). Pearson Education, New York.

5. Hulten, C.R. (2001). Total factor productivity: A short biography. In New Developments in Productivity Analysis (1-47). University of Chicago Press, Chicago.

6. Mankiw, N.G., Romer, D. & Weil, D.N. (1992). A contribution to the empirics of economic growth. Quarterly Journal of Economics, 107(2), 407-437.

7. Solow, R.M. (1957). Technical change and the aggregate production function. Review of Economics and Statistics, 39(3), 312-320.

8. Tổng cục Thống kê (2024). Kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2023. Nxb Thống kê.

9. Wooldridge, J.M. (2010). Econometric Analysis of Cross-Section and Panel Data (2nd ed.). MIT Press, Cambridge, MA.

Ngày nhận bài: 3/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/4/2026; Ngày duyệt đăng: 24/4/2026

Các tin khác

Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam

Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam

Các hệ thống tự động ngày càng có khả năng thực hiện các hoạt động tạo ra hệ quả pháp lý với mức độ can thiệp của con người thấp hơn, từ đó đặt ra những vấn đề mới đối với pháp luật hợp đồng, đặc biệt là việc công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi của hệ thống tự động.
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Theo báo cáo thực tiễn, 93% SME tại Việt Nam đã tiếp cận hoặc sử dụng ít nhất một công cụ AI trong hoạt động kinh doanh, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về mức độ phổ cập AI ban đầu.
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam

Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam

Khung chuyển đổi chi phí kế toán quản trị thành mô hình QUBO cho thấy tối ưu hóa phân bổ hàng hóa F&B phụ thuộc nhiều vào năng lực mô hình hóa dữ liệu hơn phần cứng lượng tử, khi các phương pháp cổ điển như MILP vẫn vượt trội về tốc độ và khả năng mở rộng.
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Sau cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 tại COP26 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, chuyển đổi xanh đã trở thành định hướng chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam.
Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách

Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách

Động lực tăng trưởng của Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng gia tăng vai trò của năng suất, chất lượng lao động và đổi mới. AI có thể hỗ trợ chuyển đổi động lực tăng trưởng thông qua nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động và tri thức.
Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan

Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan

Nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong quản lý, xử lý tài sản tịch thu thuộc lĩnh vực hải quan, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, quy trình thực hiện, cơ chế phối hợp và quản lý dữ liệu nhằm giảm chi phí phát sinh, hạn chế tồn đọng và nâng cao hiệu quả xử lý tài sản.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hải quan tại các khu thương mại tự do ở Việt Nam

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hải quan tại các khu thương mại tự do ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, nghiên cứu trường hợp và thống kê mô tả, bài viết đánh giá thực tiễn quản lý hải quan tại các mô hình FTZ, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, chuyển đổi số và phối hợp liên ngành.
Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.