Tăng cường thu hút FDI vào phát triển công nghiệp xanh tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu - Trao đổi 17:53 | 14/01/2026
Bài viết khái quát thực trạng thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh Nghệ An, từ đó, đề xuất một số giải pháp liên quan.

ThS. Hoàng Thị Thúy Hằng

Trường Đại học Nghệ An

Tóm tắt

Từ một tỉnh có nhiều hạn chế về hạ tầng, nguồn nhân lực và khả năng thu hút đầu tư, Nghệ An đang vươn lên trở thành điểm đến chiến lược của các tập đoàn công nghiệp toàn cầu. Không chỉ đóng vai trò “đòn bẩy” về tăng trưởng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Nghệ An còn đang mở đường cho một định hướng phát triển mới: công nghiệp xanh, thông minh và bền vững. Bài viết khái quát thực trạng thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh Nghệ An, từ đó, đề xuất một số giải pháp liên quan.

Từ khóa: Thu hút FDI, phát triển công nghiệp xanh, tỉnh Nghệ An

Summary

From a province with limitations in infrastructure, human resources, and investment attraction capacity, Nghe An is emerging as a strategic destination for global industrial corporations. Foreign direct investment (FDI) in Nghe An not only serves as a “lever” for economic growth but also creates opportunities for a new development orientation: green, smart, and sustainable industrialization. The study outlines the current state of FDI attraction for green industrial development in the province and proposes several related solutions to enhance this process.

Keywords: FDI attraction, green industrial development, Nghe An Province

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc Việt Nam đang thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào 2050 đã đặt ra yêu cầu chuyển dịch dòng vốn FDI từ số lượng sang chất lượng. Thu hút FDI xanh trở thành trọng tâm chiến lược phát triển quốc gia nhằm chuyển giao công nghệ sạch, giảm thiểu tác động đến môi trường và xã hội, tạo việc làm xanh và kiến tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững, tối ưu hóa cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững.

Đối với Nghệ An, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 18/7/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hướng Tỉnh phát triển thành trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ. Trong thu hút FDI, Nghệ An từ một địa phương có điểm xuất phát thấp (năm 2018 chỉ thu hút được 25,68 triệu USD, xếp hạng 45/63 tỉnh thành) đến cuối năm 2024h đã thu hút được 169 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 5,686 tỷ USD, trong đó có 31 dự án thuộc các ngành sản xuất công nghệ tiên tiến như linh kiện điện tử, phụ tùng ô tô, linh kiện quang học, ắc quy tính năng cao... (Cục Thống kê, nay là Thống kê tỉnh Nghệ An, 2024). Với mục tiêu phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2030, Nghệ An chú trọng phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng đầu tư thiết bị công nghiệp hiện đại, ưu tiên các ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sạch, tiêu tốn ít nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, quá trình thu hút cũng đang đặt ra một số vấn đề hạn chế, khó khăn, đòi hỏi cần có các giải pháp, nhằm tăng cường thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp xanh tỉnh Nghệ An.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khái niệm thu hút vốn FDI xanh

FDI xanh là nguồn vốn triển khai các quy trình sản xuất giảm thiểu ô nhiễm môi trường hoặc đầu tư vào sản xuất sản phẩm và dịch vụ môi trường, trong đó có tính đến sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế xã hội và việc sử dụng hợp lý tài nguyên, tránh hủy hoại môi trường, biến đổi khí hậu và mất cân bằng sinh thái ở quốc gia nhận đầu tư. Dòng vốn này cũng nhằm vào ngành, dự án, công nghệ hoặc quy trình giúp đạt được các mục tiêu môi trường, khí hậu, bảo tồn tài nguyên, đồng thời vẫn theo đuổi hiệu quả kinh tế.

Thu hút vốn FDI xanh là việc Chính phủ các quốc gia hoặc chính quyền địa phương ban hành các chính sách, thực thi các công cụ, biện pháp để các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn đến đầu tư trực tiếp bằng các hình thức khác nhau có áp dụng các quy trình sản xuất giảm thiểu ô nhiễm môi trường hoặc đầu tư vào sản xuất sản phẩm và dịch vụ môi trường phù hợp với lợi ích chung.

Khái niệm về phát triển công nghiệp xanh

Công nghiệp là một ngành kinh tế bao gồm các hoạt động khai thác tài nguyên, chế biến, chế tạo quy mô lớn, sử dụng các máy móc thiết bị công nghệ để tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh.

Công nghiệp xanh là nền sản xuất công nghiệp không gây hại cho môi trường và bảo tồn tài nguyên với 2 trụ cột chính là xanh hóa các ngành công nghiệp hiện có và tạo ra các ngành công nghiệp xanh mới.

Phát triển công nghiệp xanh là phương thức bao gồm các chính sách, chiến lược, lộ trình để đạt được mục tiêu về nền sản xuất công nghiệp không gây hại môi trường và bảo tồn tài nguyên.

Nội dung thu hút FDI vào phát triển công nghiệp xanh của chính quyền cấp tỉnh

Thứ nhất, tạo lập môi trường đầu tư

Tạo lập môi trường thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp xanh của chính quyền cấp tỉnh là quá trình chính quyền địa phương xây dựng các điều kiện về thể chế, cơ sở hạ tầng, thị trường, xã hội nhằm tạo ra sức hấp dẫn đối với các dự án FDI sử dụng công nghệ sạch, tiết kiệm tài nguyên, phát thải thấp và đáp ứng tiêu chuẩn phát triển bền vững vào các ngành công nghiệp. Đây là chức năng kiến tạo của quản lý kinh tế vừa cải thiện môi trường đầu tư nói chung vừa định hướng dòng vốn FDI vào ngành công nghiệp xanh.

Thứ hai, ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư

Ưu đãi đầu tư là chiến lược quan trọng trong thu hút vốn FDI. Chính quyền địa phương ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, với các ưu đãi về thuế, đất đai là chủ yếu. Trong đó, thu hút vốn FDI phát triển công nghiệp xanh sẽ trở thành lĩnh vực ưu tiên trọng yếu của địa phương.

Thứ ba, tổ chức xúc tiến đầu tư

Xúc tiến đầu tư trong thu hút vốn FDI phát triển công nghiệp xanh là quá trình chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động quảng bá, hợp tác, kết nối và hỗ trợ nhà đầu tư tăng cường thu hút các dự án FDI sử dụng công nghệ sạch, hiệu quả năng lượng, phát thải thấp trong các ngành công nghiệp phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh.

Thứ tư, sàng lọc, giám sát dự án thực hiện cam kết xanh

Sàng lọc, thẩm định dự án và giám sát thực hiện cam kết xanh trong thu hút vốn FDI phát triển công nghiệp xanh của chính quyền địa phương quá trình lựa chọn, đánh giá các dự án FDI trên cơ sở tiêu chí công nghệ sạch, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức phát thải và tuân thủ chuẩn mực môi trường - xã hội.

THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH TỈNH NGHỆ AN

Những kết quả đạt được

Nhìn chung, tỉnh Nghệ An đã có những bứt phá về quy mô và vị thế trong thu hút FDI xanh nói chung và vốn FDI phát triển công nghiệp xanh nói riêng. Các chính sách ưu đãi đầu tư đã được chính quyền địa phương chú trọng và tuyên bố định hướng phát triển công nghiệp xanh bền vững trên cơ sở thu hút vốn FDI. Nhờ đó, kết quả thu hút FDI trên địa bàn Tỉnh giai đoạn 2018-2024 đạt nhiều kết quả rất tích cực.

Theo số liệu từ Cục Thống kê tỉnh Nghệ An, năm 2018, thu hút FDI của Tỉnh còn ở mức thấp (chỉ thu hút được 25,68 triệu USD, xếp hạng 45/63 tỉnh thành). Do đó, Tỉnh đã bắt đầu cải thiện môi trường đầu tư, triển khai mô hình “5 sẵn sàng”. Kết quả cải thiện rõ rệt, năm 2020 đạt 169,4 triệu USD - hạng 25, năm 2021 đạt 318,5 triệu USD - hạng 20. Trong giai đoạn này, Tỉnh tiếp tục cải cách, tháo gỡ vướng mắc dự án chậm tiến độ. Đặc biệt là hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp trọng điểm, như: Khu kinh tế Đông Nam được mở rộng trên 80.000 ha, Khu công nghiệp VSIP và WHA cũng nhanh chóng được lấp đầy.

Năm 2022 đánh dấu bước phát triển vượt trội khi quy mô vốn tăng mạnh và vươn lên vị trí thứ 8 cả nước về thu hút FDI. Trong năm 2024, thu hút đầu tư tiếp tục tăng lên, với tổng số vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt trên 61.488 tỷ đồng; trong đó vốn FDI đạt hơn 1,7 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay, nằm trong top 10 cả nước.

Dòng vốn FDI cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Nghệ An. Tính đến năm 2024, Tỉnh đã thu hút 108 dự án công nghiệp, trong đó có 31 dự án công nghệ cao chuyên sản xuất linh kiện điện tử, phụ tùng ôtô, linh kiện quang điện, ắc-quy hiệu năng cao… Hơn 68% tổng vốn FDI ở Nghệ An đang tập trung vào lĩnh vực công nghiệp điện tử và năng lượng xanh, tạo tiền đề cho việc phát triển nhiều ngành công nghiệp chủ lực mới như điện tử - công nghệ cao, điện năng lượng tái tạo, thép công nghệ cao, linh kiện ôtô…. Các dự án lớn về điện tử và phụ tùng ôtô do các nhà đầu tư nước ngoài triển khai mới đây (Luxshare, Goertek, Juteng…) đã giúp sản xuất các sản phẩm công nghệ đạt mức tăng trưởng đột phá so với cùng kỳ. Đồng thời, các ngành dịch vụ hỗ trợ cũng phát triển.

Một tác động trọng yếu khác của FDI là chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất. Đầu tư nước ngoài vào Nghệ An hầu hết là các dự án sử dụng công nghệ hiện đại, dây chuyền tự động và thiết bị tiên tiến. Các tập đoàn lớn như Foxconn, Luxshare, Goertek, Juteng, Everwin đã xây dựng nhiều nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, phụ tùng ôtô với dây chuyền công nghệ cao, gia tăng đáng kể năng lực sản xuất của Tỉnh.

Năm 2025, Nghệ An thu hút thu hút vốn FDI vượt mốc 1 tỷ USD với 25 dự án mới, tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trên địa bàn Tỉnh (Nguyễn Thuấn, 2026). Nhìn chung, số lượng dự án FDI mới mỗi năm tăng dần và có những phát triển vượt trội. Kết quả đó đã tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Tỉnh thông qua việc bổ sung nguồn lực đầu tư, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng xuất khẩu, đóng góp ngân sách, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng lao động.

Đáng chú ý, Nghệ An không chạy theo số lượng dự án thuần túy, mà đang chuyển hướng xúc tiến đầu tư theo chiều sâu, ưu tiên những lĩnh vực công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện môi trường. Danh mục ưu tiên gồm điện tử, vi mạch, bán dẫn, năng lượng tái tạo (LNG, hydrogen xanh, điện mặt trời), vật liệu mới, sản xuất thông minh (AIoT, robot, công nghiệp 4.0)... Nhờ đó, hàng loạt các dự án thu hút FDI hướng đến phát triển công nghiệp xanh đã được rót vốn đầu tư tại Nghệ An (Bảng). Chiến lược này cho thấy, tăng trưởng kinh tế không thể đánh đổi bằng môi trường và an sinh xã hội. Thay vì trở thành “công xưởng gia công” với giá trị nội địa hóa thấp, Nghệ An muốn hình thành hệ sinh thái công nghiệp dựa trên đổi mới công nghệ, năng lượng sạch và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong năm 2025, Nghệ An đang triển khai kế hoạch phát triển thêm 4 khu công nghiệp mới, mở rộng thêm 760 ha để đón làn sóng đầu tư công nghệ cao và công nghiệp phụ trợ (Thu Hiền, 2025). Hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải… đang được tỉnh chỉ đạo nâng cấp đồng bộ, theo hướng xanh - thông minh - bền vững.

Bảng: Các dự án FDI hướng tới phát triển công nghiệp xanh tiêu biểu tại Nghệ An

STT

TÊN DỰ ÁN

NHÀ ĐẦU TƯ

VỐN ĐẦU TƯ

Nhà máy công nghệ Luxshare (Việt Nam)

Công ty TNHH Công nghệ Luxshare (Việt Nam)

358,5 triệu USD

Dự án Nhà máy công nghệ Everwin Precision (Nghệ An)

Công ty TNHH công nghệ Everwin Precision (Việt Nam)

400 triệu USD

1

Dự án Nhà máy điện khí LNG Quỳnh Lập

Tập đoàn SK (Hàn Quốc)

2,15 tỷ USD

2

Nhà máy sản xuất thanh Silic đơn tinh thể và bán dẫn (Runergy)

Tập đoàn Runergy PV Technology (Thái Lan)

293 USD

3

Nhà máy ắc quy năng lượng Tianneng (Thiên Năng)

Tập đoàn Tianneng (Trung Quốc)

71 Tỷ đồng

4

Dự án Radiant Opto-Electronics

Radiant (Đài Loan)

145 triệu USD

5

Dự án Innovation Precision

Shandong Innovation Metal Technology (Trung Quốc)

165 triệu USD

6

Dự án Điện rác Galax

Công ty cổ phần Galax

3.100 tỷ đồng

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Những vấn đề đặt ra

Tuy vậy, việc thu hút FDI vào phát triển công nghiệp xanh tỉnh Nghệ An cũng đang đặt ra một số vấn đề. Theo đó, các dự án lớn đã đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất quy mô công nghiệp, nhưng chưa có cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ hiệu quả, nhiều doanh nghiệp trong nước chưa tiếp cận được chuỗi cung ứng và công nghệ cao. Ngoài ra, áp lực tăng trưởng nhanh từ các dự án công nghiệp hiện đại cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách, quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ môi trường và phát triển hạ tầng đồng bộ.

Cùng với đó, để FDI thực sự trở thành động lực cho một nền công nghiệp xanh và bền vững, Nghệ An phải đối diện một số thách thức. Đó là nguy cơ phụ thuộc vào FDI nếu tỷ lệ nội địa hóa thấp và doanh nghiệp trong nước không đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị. Áp lực về hạ tầng giao thông, điện, nước, xử lý chất thải... khi số lượng dự án tăng nhanh.

Bên cạnh các chính sách ưu đãi chung của Nhà nước, chính quyền cấp Tỉnh đã ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư về các loại thuế, cũng như các hỗ trợ ưu đãi về đất đai cho các dự án đặc biệt trong lĩnh vực ngành nghề ưu đãi đầu tư, trong đó có các ngành công nghiệp xanh. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn bộc lộ nhiều yếu kém mà các nhà đầu tư phản ánh qua chỉ số PCI về "Tiếp cận đất đai". Bên cạnh đó, việc mong muốn thu hút vốn FDI mạnh về số lượng cũng là rào cản liên quan đến việc sàng lọc, thẩm định dự án và giám sát thực hiện cam kết xanh. Mặt khác, các tập đoàn công nghệ lớn đều có lộ trình sử dụng 100% năng lượng tái tạo (RE100), trong khi đó, khả năng cung ứng năng lượng sạch của Nghệ An còn hạn chế.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Nhằm tăng cường thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp xanh tỉnh Nghệ An, theo tác giả, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh phát triển công nghiệp xanh tại tỉnh Nghệ An, ưu đãi đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh và hướng tới phát triển công nghiệp xanh bền vững. Ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng công nghiệp.

Hai là, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Theo đó, Tỉnh phải nhanh chóng cải cách thủ tục hành chính bằng các giải pháp chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường đối thoại giữa lãnh đạo Tỉnh và doanh nghiệp, nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi.

Ba là, nâng cao năng lực thẩm định, sàng lọc dự án đầu tư bằng bộ tiêu chí dựa trên mức phát thải, tiêu hao năng lượng. Đặc biệt là tạo ra các ưu đãi đặc biệt cho các dự án FDI trong các ngành công nghiệp xanh. Mặt khác, củng cố tổ chức và quy trình thẩm định liên ngành đối với dự án vốn FDI xanh, phát triển nguồn nhân lực thực thi có năng lực công nghệ số và dữ liệu đầy đủ.

Bốn là, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch với việc thiết lập cơ sở dữ liệu và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng như: danh mục dự án kêu gọi đầu tư vào phát triển công nghiệp xanh, các chính sách ưu đãi, quy hoạch sử dụng đất... Đặc biệt, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đặt ra yêu cầu phải xác định thẩm quyền của UBND cấp tỉnh và cấp xã; nhanh chóng có cơ chế phân cấp và phối hợp, bảo đảm thống nhất về tiêu chí thống nhất trên toàn tỉnh nhưng vẫn cho phép linh hoạt trong tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở.

Năm là, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, đặc biệt là đổi mới quan điểm và nội dung xúc tiến theo hướng chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm; nhấn mạnh các giải pháp cung cấp dịch vụ và hỗ trợ toàn diện cho nhà đầu tư. Xây dựng và phát huy vai trò các đại sứ thương hiệu về phát triển công nghiệp xanh, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của Nghệ An; hình thành cộng đồng doanh nghiệp FDI chất lượng cao.

Đồng thời, hoàn thiện và công khai minh bạch các chính sách ưu đãi đầu tư, quy hoạch sử dụng đất, quy trình thẩm định công nghệ, tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, cũng như hệ thống kết cấu hạ tầng, giao thông kết nối. Bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2018-2024). Niên giám Thống kê các năm 2018 đến năm 2024.

2. Nguyễn Thuấn (2026). 2025: Nghệ An thu hút FDI đạt hơn 1 tỷ USD với 25 dự án mới. https://vneconomy.vn/2025-nghe-an-thu-hut-fdi-dat-hon-1-ty-usd-voi-25-du-an-moi.htm#:~:text.

3. Thu Hiền (2025). Nghệ An đón “đại bàng” khẳng định vị thế trung tâm công nghiệp xanh Bắc Trung Bộ. https://cafef.vn/nghe-an-don-dai-bang-khang-dinh-vi-the-trung-tam-cong-nghiep-xanh-bac-trung-bo-188251108094021154.chn.

Ngày nhận bài: 16/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/12/2025; Ngày duyệt đăng: 13/1/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh

Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu hành vi theo thời gian thực, các nền tảng số đang ngày càng có khả năng cung cấp những trải nghiệm được cá nhân hóa cụ thể như việc gợi ý sản phẩm phù hợp, đưa nội dung thích ứng và khả năng tương tác với khách hàng cũng được điều chỉnh theo từng cá nhân.
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG

Kể từ khi Thỏa thuận Xanh châu Âu được thông qua, EU đã đẩy mạnh việc chuyển đổi các chuẩn mực tự nguyện về ESG sang nghĩa vụ pháp lý có gắn chế tài và có tác động xuyên biên giới.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Bước vào những năm 2010, khái niệm AI đã vượt khỏi phạm trù khoa học máy tính thuần túy và bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nghề yêu cầu kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu.
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Nghiên cứu tại Công ty MEDIA

Sự thay đổi nhanh của thị trường lao động, công nghệ và nhu cầu tuyển dụng xuyên biên giới đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và phát triển nguồn nhân lực.
Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở trình độ cao gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, những hạn chế về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực đã bộc lộ rõ.
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững, việc áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001 được xem là một chiến lược phổ biến giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình vận hành và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Dự báo các tác động của công nghệ STARA đối với việc làm ngành dịch vụ tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Smart Technology (Công nghệ thông minh) - Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo) - Robotics (Người máy) - Algorithms (Thuật toán) (STARA) đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống hàng ngày (Brougham và Haar, 2018). Với những lợi ích của việc tăng hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra khác biệt hóa, nâng cao trải nghiệm khách hàng và cuối cùng là cải thiện hiệu suất tổng thể, nhiều công ty đã áp dụng công nghệ STARA vào hoạt động của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành dịch vụ đang có mức độ ứng dụng công nghệ rất cao nhằm tối ưu hóa hoạt động kinh doanh (Bandoim, 2019).
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trong phát triển chính quyền số: Thực tiễn nghiên cứu tại Hà Tĩnh và hàm ý chính sách

Nếu chính phủ điện tử chủ yếu nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính hiện hữu, thì chính quyền số đòi hỏi sự thay đổi sâu hơn về quy trình, dữ liệu, văn hóa tổ chức và quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân.
Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Hiểu biết tài chính và kiểm soát rủi ro dịch vụ mua trước trả sau của Gen Z Việt Nam

Mua trước trả sau cho phép người tiêu dùng nhận hàng trước rồi thanh toán sau hoặc chia thành nhiều kỳ. Sự thuận tiện này cải thiện thanh khoản ngắn hạn nhưng cũng có thể làm mờ cảm nhận về tổng nghĩa vụ.