Nghịch lý đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp Việt Nam: Từ xếp hạng quốc gia đến năng lực cấp doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số
Nguyễn Thị Hà Anh
Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: [email protected]
Tóm tắt
Đổi mới sáng tạo được xác định là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới tại Việt Nam trong bối cảnh các động lực dựa vào lao động chi phí thấp, tài nguyên và mở rộng vốn suy giảm. Bằng phương pháp tổng quan tài liệu, thống kê mô tả và so sánh chuỗi thời gian, nghiên cứu làm rõ nghịch lý đổi mới sáng tạo: Việt Nam xếp hạng 44 thế giới theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) các năm 2024, 2025, trong khi doanh nghiệp công nghệ thấp vẫn chiếm 54,65% ngành chế biến, chế tạo năm 2023; chỉ 6,23% doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D); chi khoa học và công nghệ đạt 0,40% GDP năm 2024 và đóng góp của nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng giảm còn 39,3% giai đoạn 2021-2023. Ngược lại, nhóm doanh nghiệp công nghệ cao chỉ chiếm 13,85% số lượng nhưng tạo ra 46% doanh thu thuần và 70% lợi nhuận trước thuế toàn ngành. Để tháo gỡ nút thắt này và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp: thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW, phát triển tài chính cho R&D, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở và gắn đổi mới sáng tạo với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Từ khóa: Doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, R&D, tăng trưởng 2 con số, TFP, Nghị quyết 57-NQ/TW
Abstract
Innovation has been identified as the central driver of Viet Nam's new growth model amid the declining contributions of traditional growth drivers based on low-cost labor, natural resources, and capital expansion. Using a combination of literature review, descriptive statistics, and time-series comparative analysis, this study examines the innovation paradox in Viet Nam. Although the country ranked 44th globally in the Global Innovation Index (GII) in both 2024 and 2025, low-technology enterprises still accounted for 54.65% of the manufacturing sector in 2023; only 6.23% of enterprises engaged in research and development (R&D) activities; expenditure on science and technology reached just 0.40% of GDP in 2024; and the contribution of total factor productivity (TFP) to economic growth declined to 39.3% during the 2021-2023 period. In contrast, high-technology enterprises represented only 13.85% of the total number of firms but generated 46% of net revenue and 70% of pre-tax profit in the manufacturing sector. To address this structural bottleneck and support the national objective of achieving double-digit economic growth, the study proposes five policy recommendations: institutionalizing Resolution No. 57-NQ/TW, expanding financial support for R&D, strengthening technology absorption capacity, developing an open innovation ecosystem, and integrating innovation with digital and green transformation.
Keywords: Enterprises, innovation, research and development (R&D), double-digit economic growth, total factor productivity (TFP), Resolution No. 57-NQ/TW
GIỚI THIỆU
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data) và kinh tế số đang thay đổi phương thức sản xuất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, khiến đổi mới sáng tạo (ĐMST) trở thành điều kiện thiết yếu để duy trì năng suất và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng cấp thiết khi quy mô GDP năm 2024 đạt khoảng 476,3 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng 7,09%, trong khi mục tiêu tăng trưởng 2 con số đòi hỏi mức cải thiện năng suất cao hơn đáng kể (Cục Thống kê, 2025; World Bank, 2025). Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô vốn, lao động chi phí thấp và gia công xuất khẩu, nền kinh tế khó nâng cấp lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Nhận thức rõ thách thức này, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược, đồng thời đặt doanh nghiệp ở trung tâm của quá trình ứng dụng và thương mại hóa tri thức (Bộ Chính trị, 2024). Định hướng chiến lược này bước đầu được thể chế hóa bằng Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST số 93/2025/QH15 (Quốc hội, 2025).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trong nước đã phân tích tác động của hoạt động R&D, chuyển đổi số, nguồn nhân lực và liên kết hợp tác đến ĐMST của doanh nghiệp (Lê Anh Hưng, 2020; Phan Thu Hiền và cộng sự, 2021; Trịnh Thị Nhuần và Trần Văn Trang, 2023; Lương Thị Ngọc Hà, 2024; Nguyễn Thị Lan Anh và cộng sự, 2024), song phần lớn dừng ở một nhóm nhân tố hoặc một mẫu doanh nghiệp cụ thể. Nghiên cứu này tiếp cận ĐMST như một hệ thống đầu vào - quá trình - đầu ra, gắn với khái niệm nghịch lý ĐMST ở các nước đang phát triển (Cirera và Maloney, 2017). Từ đó, nghiên cứu làm rõ bức tranh tương phản giữa các thành tựu xếp hạng vĩ mô và năng lực công nghệ nội sinh thực tế ở cấp doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Theo OECD/Eurostat (2018), ĐMST trong doanh nghiệp là việc đưa vào sử dụng sản phẩm, quy trình, phương pháp tiếp thị hoặc phương thức tổ chức mới hoặc được cải tiến đáng kể; ý tưởng chỉ trở thành đổi mới khi được triển khai trong thực tiễn và tạo ra giá trị. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh coi ĐMST là nguồn gốc của tăng trưởng dài hạn nhờ hiệu ứng lan tỏa của tri thức và vốn con người (Schumpeter, 1942; Dosi, 1988; Romer, 1990; Aghion và Howitt, 1992; Aghion và cộng sự, 2021). Ở cấp doanh nghiệp, năng lực đổi mới hình thành từ nguồn lực nội bộ, khả năng hấp thụ tri thức bên ngoài và môi trường thể chế - thị trường (Dosi, 1988; Cirera và Maloney, 2017).
Trên cơ sở hướng dẫn Oslo Manual (OECD/Eurostat, 2018) và cách tiếp cận của Cirera và Maloney (2017), khung phân tích của nghiên cứu gồm 5 lớp: (i) bối cảnh và cấu trúc doanh nghiệp; (ii) đầu vào ĐMST gồm: vốn, R&D, nhân lực và công nghệ; (iii) hoạt động đổi mới sản phẩm, quy trình, tổ chức và mô hình kinh doanh; (iv) kết quả đổi mới thể hiện qua doanh thu, lợi nhuận, bằng sáng chế và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP); (v) hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng dựa trên năng suất.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu kết hợp thống kê mô tả và so sánh theo thời gian. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê và các báo cáo của Cục Thống kê, báo cáo Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, Nghị quyết 57-NQ/TW và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu
Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam
Số liệu Bảng 1 cho thấy số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng nhanh, phản ánh tinh thần kinh doanh và môi trường đầu tư được cải thiện. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng tăng mạnh, từ 71.391 doanh nghiệp năm 2015 lên 227.200 doanh nghiệp năm 2025 (Cục Thống kê, 2026). Điều này cho thấy năng lực chống chịu của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế.
Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2015-2025
| Năm | Thành lập mới | Rút lui khỏi thị trường | Đang hoạt động |
|---|---|---|---|
| 2015 | - | 71.391 | 442.485 |
| 2016 | 110.100 | 73.145 | 505.059 |
| 2017 | 126.859 | 72.880 | 654.633 |
| 2018 | 131.275 | 90.651 | 714.755 |
| 2019 | 138.139 | 125.000 | 758.610 |
| 2020 | 134.940 | 101.700 | 811.538 |
| 2021 | 116.839 | 119.800 | 857.551 |
| 2022 | 148.533 | 143.200 | 895.876 |
| 2023 | 159.294 | 172.600 | 921.372 |
| 2024 | 157.240 | 198.000 | 940.078 |
| 2025 | 195.100 | 227.200 | - |
Nguồn: Cục Thống kê (2025, 2026)
Hình 1: Doanh nghiệp thành lập mới trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
|
|
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê (2025)
Bên cạnh đó, số lao động bình quân giảm từ 29 người/doanh nghiệp năm 2015 xuống 20 người năm 2023. Việc suy giảm quy mô lao động bình quân đang tạo ra rào cản trực tiếp đối với năng lực ĐMST. Trái lại, vốn sản xuất, kinh doanh bình quân tăng từ 50 tỷ đồng lên 80 tỷ đồng/doanh nghiệp, nhưng tỷ suất lợi nhuận trước thuế lại có dấu hiệu sụt giảm từ 3,63% xuống 3,20% (Cục Thống kê, 2025). Mức tăng vốn đầu tư chưa đi kèm với mức tăng tương ứng về hiệu quả kinh doanh, phản ánh hạn chế về quản trị và ứng dụng công nghệ.
Xét riêng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Hình 1), cơ cấu doanh nghiệp theo trình độ công nghệ đang bộc lộ sự chuyển dịch thiếu ổn định: tỷ trọng doanh nghiệp công nghệ cao tăng từ 9,80% năm 2015 lên 19,00% năm 2021 nhưng giảm còn 13,85% năm 2023, trong khi nhóm công nghệ thấp tăng trở lại, chiếm 54,65% năm 2023 (Cục Thống kê, 2025). Điều này chứng minh năng lực nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp chưa bền vững và dễ bị tổn thương và chịu tác động của chu kỳ kinh tế, chuỗi cung ứng và khả năng tiếp cận vốn.
Thực trạng đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Ở cấp quốc gia, Việt Nam xếp hạng 44/133 nền kinh tế trong Bảng xếp hạng Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) 2024 và 44/139 trong GII 2025, thuộc nhóm nền kinh tế thu nhập trung bình thấp có kết quả đổi mới vượt mức kỳ vọng so với trình độ phát triển (WIPO, 2024, 2025). Tuy vậy, năm 2024, nhóm chỉ số đầu vào chỉ xếp hạng 53 trong khi nhóm chỉ số đầu ra xếp hạng 36, cho thấy nền tảng thể chế, nhân lực, nghiên cứu và hạ tầng cần được củng cố.
Hình 2: Xếp hạng GII của Việt Nam: chung, đầu vào và đầu ra, 2016-2024
![]() |
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo GII của WIPO (2024, 2025)
Một nguyên nhân trực tiếp cấu thành nền tảng đầu vào kém là nguồn đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) còn thấp so với yêu cầu của nền kinh tế dựa trên tri thức. Tỷ lệ chi KH&CN so với GDP giảm từ 0,38% năm 2015 xuống 0,19% năm 2023, sau đó tăng lên 0,40% năm 2024 (Cục Thống kê, 2025). Mức tăng năm 2024 là chuyển biến tích cực nhưng vẫn thấp so với nhu cầu đầu tư cho R&D, hạ tầng số, phòng thí nghiệm, tiêu chuẩn đo lường và thương mại hóa công nghệ (Bảng 2).
Bảng 2: Tỷ lệ ngân sách cho khoa học và công nghệ
Đơn vị: %
| Năm | 2015 | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tỷ lệ chi KH&CN/Tổng chi ngân sách nhà nước | 1,45 | 1,41 | 1,18 | 1,22 | 1,15 | 1,05 | 1,37 | 1,01 | 0,82 | 1,97 |
| Tỷ lệ chi KH&CN/GDP | 0,38 | 0,35 | 0,33 | 0,31 | 0,28 | 0,22 | 0,25 | 0,21 | 0,19 | 0,40 |
Nguồn: Cục Thống kê (2025)
Về nhân lực và kết quả KH&CN (Hình 3), số người hoạt động R&D tăng từ 131.045 người năm 2015 lên 173.041 người năm 2023 (tăng 32,0%); số tiến sĩ tăng từ 14.376 lên 27.302 người (tăng 89,9%); số bằng sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ tăng từ 1.505 lên 4.136 (tăng 174,8%) (Cục Thống kê, 2025). Tuy nhiên, số bằng sáng chế tăng chưa đồng nghĩa với năng lực thương mại hóa nếu thiếu thị trường công nghệ minh bạch và hệ sinh thái vốn mạo hiểm hỗ trợ giai đoạn ươm tạo.
Hình 3: Nhân lực và kết quả khoa học và công nghệ, 2015-2023
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê (2025)
Khi đặt Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với các quốc gia thuộc khối ASEAN (Bảng 3), bản chất của nghịch lý ĐMST càng lộ diện rõ nét. Theo GII 2024, Việt Nam xếp vị trí thứ 1 thế giới về nhập khẩu công nghệ cao lẫn xuất khẩu hàng hóa sáng tạo, đồng thời đứng thứ 4 xuất khẩu công nghệ cao (WIPO, 2024). Tuy nhiên, kết quả này phần lớn phản ánh vai trò của khu vực FDI và hoạt động lắp ráp trong chuỗi giá trị toàn cầu; thách thức chính là nâng tỷ lệ nội địa hóa, năng lực thiết kế, R&D và sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trong nước.
Bảng 3: Xếp hạng về hiệu quả thương mại công nghệ theo GII năm 2024
| Chỉ số | Việt Nam | Thái Lan | Malaysia |
|---|---|---|---|
| 1. Nhập khẩu công nghệ cao (% tổng thương mại) | 1 | 14 | 3 |
| 2. Xuất khẩu công nghệ cao (% tổng thương mại) | 4 | 23 | 1 |
| 3. Xuất khẩu hàng hóa sáng tạo (% tổng thương mại) | 1 | 32 | 38 |
| 4. Tỷ lệ tăng trưởng GDP trên mỗi lao động | 6 | 64 | 52 |
Nguồn: WIPO (2024)
Ở cấp doanh nghiệp, hoạt động ĐMST vẫn thiên về mua sắm máy móc và cải tiến quy trình hơn là R&D nội sinh. Theo Điều tra ĐMST trong doanh nghiệp năm 2025 của Bộ KH&CN, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động ĐMST giảm từ 38,8% năm 2023 xuống còn 34,6% năm 2024, trong đó doanh nghiệp nhỏ chỉ đạt 28,8% và doanh nghiệp vừa 36,2%; đồng thời chỉ 20,6% doanh nghiệp nhỏ và 13,1% doanh nghiệp vừa có hợp tác với tổ chức khác để đổi mới, cải tiến sản phẩm. Điều tra doanh nghiệp năm 2023 của Ngân hàng Thế giới cũng cho thấy chỉ 6,6% doanh nghiệp nhỏ giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới ra thị trường, thấp hơn gần3 lần mức trung bình của các nước cùng nhóm thu nhập (19,5%) và gần 4 lần mức trung bình thế giới (26,1%). Doanh nghiệp Việt Nam do đó mới ở giai đoạn đầu của tự động hóa và chuyển đổi số.
Dù chiếm tỷ lệ nhỏ, song phân tích tương quan cấu trúc khẳng định trình độ công nghệ có mối quan hệ trực tiếp đối với hiệu quả kinh doanh. Năm 2023, doanh nghiệp công nghệ cao đóng góp 46% doanh thu thuần và 70% lợi nhuận trước thuế của nhóm doanh nghiệp chế biến, chế tạo phân theo trình độ công nghệ, trong khi nhóm công nghệ thấp chỉ đóng góp 25% doanh thu thuần và 13% lợi nhuận trước thuế (Cục Thống kê, 2025). Công nghệ cao chính là chìa khóa vạn năng tạo nên năng suất vượt trội, biên lợi nhuận cao và khả năng tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao hơn (Hình 4).
Hình 4: Doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp theo trình độ công nghệ
Đơn vị: %
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê (2025)
Ở cấp vĩ mô, đóng góp của TFP vào tăng trưởng đạt 34,7% giai đoạn 2011-2015, tăng lên 46% giai đoạn 2016-2020 nhưng giảm còn 39,3% giai đoạn 2021-2023 (Cục Thống kê, 2025), cho thấy tăng trưởng dựa trên năng suất chưa ổn định (Hình 5). Để tăng trưởng 2 con số bền vững, đóng góp của TFP cần được nâng lên thông qua đổi mới công nghệ, quản trị, kỹ năng lao động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Hình 5: Tỷ trọng đóng góp của vốn, lao động và TFP vào tăng trưởng
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê (2025)
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Kết quả phân tích cho thấy một nghịch lý: xếp hạng ĐMST quốc gia liên tục cải thiện và chỉ số đầu ra (hạng 36 năm 2024) cao hơn đáng kể so với chỉ số đầu vào (hạng 53), nhưng năng lực đổi mới ở cấp doanh nghiệp còn hạn chế, thể hiện qua tỷ lệ doanh nghiệp có R&D chỉ 6,23% và tỷ trọng doanh nghiệp công nghệ thấp chiếm 54,65% năm 2023. Khoảng cách này phản ánh việc thành tích quốc gia dựa nhiều vào khu vực FDI hơn là năng lực sáng tạo nội sinh của doanh nghiệp trong nước, phù hợp với hiện tượng nghịch lý ĐMST ở các nước đang phát triển (Cirera và Maloney, 2017).
Mức đầu tư thấp cho KH&CN cùng với quy mô doanh nghiệp nhỏ giải thích vì sao hoạt động đổi mới chủ yếu là cải tiến quy trình hoặc mua sắm thiết bị thay vì phát triển công nghệ lõi. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp công nghệ cao chỉ chiếm 13,85% số doanh nghiệp chế biến, chế tạo năm 2023 nhưng tạo ra 46% doanh thu thuần và 70% lợi nhuận trước thuế của ngành.
Đóng góp của TFP giảm từ 46% giai đoạn 2016-2020 xuống 39,3% giai đoạn 2021-2023 cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn và lao động. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số và nâng đóng góp của TFP lên trên 55% vào năm 2030 theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, năng lực ĐMST cần lan tỏa sâu rộng trong khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đi cùng với tháo gỡ các hạn chế về tài chính cho R&D, nhân lực, liên kết viện - trường - doanh nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
ĐMST là điều kiện cần để doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu. Các chỉ số như: tỷ trọng doanh nghiệp công nghệ thấp chiếm 54,65% năm 2023; tỷ lệ doanh nghiệp có R&D chỉ đạt 6,23% trong khảo sát; chi KH&CN chỉ chiếm 0,40% GDP năm 2024 và đóng góp TFP đạt 39,3% giai đoạn 2021-2023 cho thấy dư địa cải cách còn lớn. Nhằm tháo gỡ triệt để nút thắt này, nghiên cứu đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ:
Thứ nhất, thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và triển khai Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST thành các công cụ chính sách trực tiếp cho doanh nghiệp: ưu đãi thuế đối với chi R&D, thử nghiệm sản phẩm mới và đào tạo kỹ năng số; đơn giản hóa thủ tục sử dụng quỹ KH&CN của doanh nghiệp.
Thứ hai, phát triển tài chính ĐMST theo hướng chia sẻ rủi ro: tín dụng ưu đãi gắn với chỉ tiêu đổi mới cụ thể như: tự động hóa, giảm tiêu hao năng lượng hoặc phát triển sản phẩm mới; mở rộng quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đồng đầu tư công - tư, bảo lãnh tín dụng công nghệ và mua sắm công ĐMST.
Thứ ba, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp: đào tạo đội ngũ quản trị trung gian có khả năng sử dụng dữ liệu, quản trị dự án số và tái thiết kế quy trình; tăng cường sự tham gia của trường đại học, viện nghiên cứu vào các bài toán thực tế của doanh nghiệp thông qua phòng thí nghiệm dùng chung và hợp đồng đặt hàng theo kết quả.
Thứ tư, xây dựng hệ sinh thái ĐMST mở theo nhu cầu ngành cụ thể, với thước đo thành công là số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, số sản phẩm được thương mại hóa, doanh thu từ sản phẩm mới và mức tăng năng suất thực tế.
Thứ năm, gắn ĐMST với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh yêu cầu về môi trường - xã hội - quản trị (ESG), truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn phát thải carbon ngày càng cao, dữ liệu, tiết kiệm năng lượng, quản trị phát thải và tự động hóa cần trở thành một phần của chiến lược cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Tài liệu tham khảo:
1. Aghion, P., & Howitt, P. (1992). A model of growth through creative destruction. Econometrica, 60(2), 323-351. https://doi.org/10.2307/2951599
2. Aghion, P., Antonin, C., & Bunel, S. (2021). The power of creative destruction: Economic upheaval and the wealth of nations. Harvard University Press. https://doi.org/10.4159/9780674258686
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia.
4. Cirera, X., & Maloney, W. F. (2017). The innovation paradox: Developing-country capabilities and the unrealized promise of technological catch-up. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-1160-9
5. Cục Thống kê (2025). Niên giám Thống kê năm 2024. Nxb Thống kê.
6. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
7. Dosi, G. (1988). Sources, procedures, and microeconomic effects of innovation. Journal of Economic Literature, 26(3), 1120-1171. https://www.jstor.org/stable/2726526
8. Lê Anh Hưng (2020). Thực trạng hoạt động ĐMST của các doanh nghiệp Việt Nam. https://tapchicongthuong.vn/thuc-trang-hoat-dong-doi-moi-sang-tao-cua-cac-doanh-nghiep-viet-nam-75101.htm
9. Lương Thị Ngọc Hà (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐMST của doanh nghiệp ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp chế biến, chế tạo. Luận án tiến sĩ, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.
10. Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Đức Toàn, Dương Thị Trâm Anh, Đào Mai Khánh, Trịnh Thị Nhuần (2024). Nghiên cứu động lực ảnh hưởng đến việc áp dụng ĐMST mở của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. https://tapchicongthuong.vn/nghien-cuu-dong-luc-anh-huong-den-viec-ap-dung-doi-moi-sang-tao-mo-cua-cac-doanh-nghiep-san-xuat-tai-viet-nam-119962.htm
11. OECD/Eurostat (2018). Oslo Manual 2018: Guidelines for collecting, reporting and using data on innovation (4th ed.). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264304604-en
12. Phan Thu Hiền, Nguyễn Đức Hoàng, Nguyễn Hoàng Giang, Peyrache, A., Takayama, S., Yeo, T., Phạm Đức Mạnh, Phan Nhân, Cameron, A., Nguyễn Trường Phi, Trần Sơn Tùng, Atherton, J., & Vũ Hoàng Đạt (2021). Đổi mới công nghệ ở Việt Nam: Đóng góp của công nghệ vào tăng trưởng kinh tế. CSIRO, Brisbane. https://research.csiro.au/aus4innovation-phase1/wp content/uploads/sites/294/2021/10/2100109_DATA61_REPORT_VietnamTechnologicalChange_Vietnamese_WEB_211018-1.pdf
13. Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và ĐMST, Luật số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025.
14. Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5), S71-S102. https://doi.org/10.1086/261725
15. Schumpeter, J. A. (1942). Capitalism, socialism and democracy. Harper & Brothers.
16. Trịnh Thị Nhuần, Trần Văn Trang (2023). Rào cản trong áp dụng ĐMST mở: Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội. Tạp chí Khoa học thương mại, 175, 103-116.
17. World Bank (2025). Viet Nam overview and country data. https://www.worldbank.org/en/country/vietnam/overview
18. World Intellectual Property Organization - WIPO (2024). Global Innovation Index 2024: Viet Nam ranking profile. https://www.wipo.int/edocs/gii-ranking/2024/vn.pdf
19. World Intellectual Property Organization - WIPO (2025). Global Innovation Index 2025: Viet Nam ranking profile. https://www.wipo.int/gii-ranking/en/viet-nam
| Ngày nhận bài: 15/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/7/2026; Ngày duyệt đăng: 27/7/2026 |
Các tin khác
Sự chấp nhận đối với phát triển điện gió tại Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết suy luận hành vi
Tác động của marketing xã hội doanh nghiệp và marketing gắn với mục đích xã hội đến tài sản thương hiệu trong ngành sữa tại Việt Nam
Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chấp nhận sử dụng trợ lý mua hàng trực tuyến
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm
Hoàn thiện chính sách phát triển các sản phẩm tài chính xanh tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo tại các trường đại học công lập khối ngành kinh tế: Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Hành vi thích nghi công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tổng quan lý thuyết và khung khái niệm trong bối cảnh chuyển đổi số





