Chính sách tài chính thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo của một số quốc gia châu Á
Nguyễn Huy Công
Viện Ứng dụng công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ
Hoàng Văn Tuyên
Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ
Tóm tắt
Hình thành chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D) và đổi mới sáng tạo đã và đang là chủ đề quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích chính sách tài chính mà một số quốc gia châu Á sử dụng trong việc thúc đẩy R&D và đổi mới sáng tạo. Các biện pháp chính sách tài chính mà các quốc gia này sử dụng tập trung vào 2 nhóm chính sách là trực tiếp (tài trợ, hỗ trợ, cho vay, bảo lãnh vay...) và gián tiếp qua công cụ thuế (miễn, giảm và tín dụng thuế). Nhóm quốc gia phát triển (Nhật Bản và Hàn Quốc) chủ yếu sử dụng nhóm chính sách gián tiếp (công cụ tín dụng thuế). Trong khi đó, Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á sử dụng đồng thời cả 2 nhóm chính sách và đặc biệt đối với nhóm chính sách gián tiếp thì tập trung vào công cụ miễn, giảm thuế, hầu như chưa sử dụng công cụ tín dụng thuế.
Từ khóa: R&D và đổi mới sáng tạo, chính sách tài chính, thuế, quốc gia châu Á
Summary
Formulating policies to promote research and development (R&D) and innovation has been a key concern for researchers and policymakers in the field of science, technology, and innovation development in Viet Nam. The paper focuses on analyzing financial policies employed by several Asian countries to stimulate R&D and innovation activities. The financial policy measures employed by these countries focus on two main groups: direct policies (such as grants, subsidies, loans, and loan guarantees) and indirect policies through tax instruments (including exemptions, reductions, and tax credits). Developed countries, such as Japan and South Korea, mainly use indirect financial policies, especially tax credits. In contrast, China and several Southeast Asian countries apply both direct and indirect policies. For indirect policies, they tend to focus on tax exemptions and reductions, and rarely use tax credits.
Keywords: R&D and innovation, financial policy, taxation, Asian countries.
GIỚI THIỆU
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã nhận thức rõ tầm quan trọng của R&D và đổi mới sáng tạo (ĐMST) với vai trò quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. R&D và ĐMST có thể đưa ra các sản phẩm, qui trình và dịch vụ chất lượng, có sức cạnh tranh cao và chính phủ đóng vai trò như người tạo lập một hành lang, hệ sinh thái phù hợp thúc đẩy hoạt động này. Theo nhiều học giả, tổ hợp chính sách thúc đẩy R&D và ĐMST ngày nay của các quốc gia trên thế giới đã vượt ra khỏi phạm vi của chính sách R&D truyền thống, việc thiết kế và phát triển chính sách R&D và ĐMST phù hợp không phải là vấn đề đơn giản (Đỗ Vũ Phương Anh và Hoàng Văn Tuyên, 2022). Kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là nhóm các quốc gia phát triển cho thấy nhiều bài học về chính sách thúc đẩy, hỗ trợ hoạt động R&D và ĐMST. Vì vậy, việc tập trung phân tích chính sách tài chính mà một số quốc gia châu Á sử dụng trong việc thúc đẩy R&D và ĐMST có ý nghĩa đối với Việt Nam.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Công cụ hỗ trợ “trực tiếp”
Tài trợ, hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo
Nhiều quốc gia châu Á hình thành các loại chương trình/quỹ/sáng kiến để tài trợ hoặc hỗ trợ cho hoạt động R&D và ĐMST, thậm chí ở các giai đoạn khác nhau như hình thành ý tưởng, R&D, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và ĐMST. Theo đó, tại Hàn Quốc có các chương trình: tài trợ hoạt động R&D và tài trợ ĐMST phi R&D cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) (EY, 2024).
Trong khi đó, tại Singapore, một số khoản tài trợ phổ biến áp dụng cho hoạt động R&D, chẳng hạn như Sáng kiến Khuyến khích Nghiên cứu cho Doanh nghiệp (RISC), Tài trợ Phát triển Doanh nghiệp và Tài trợ FSTI 3.0, là các khoản tài trợ bằng tiền mặt của chính phủ, đồng tài trợ cho các chi phí R&D đủ điều kiện mà doanh nghiệp bỏ ra để thành lập/mở rộng phòng thí nghiệm ĐMST và phát triển nhân tài trong lĩnh vực FinTech/công nghệ. Mức hỗ trợ khác nhau tùy theo từng chương trình. Nhìn chung, các khoản chi tiêu đủ điều kiện bao gồm chi phí liên quan đến nhân lực, thiết bị và vật liệu, dịch vụ chuyên môn và quyền sở hữu trí tuệ (EY, 2024).
Tại Malaysia, tài trợ bằng tiền mặt đối với các khoản tài trợ R&D được cung cấp theo gói ưu đãi đặc biệt. Các khoản tài trợ cũng có sẵn từ nhiều tổ chức gây quỹ khác nhau và chủ thể nộp thuế thực hiện các hoạt động R&D phải được chính quyền phê duyệt để nhận được khoản tài trợ bằng tiền mặt.
Một số chương trình hỗ trợ tài chính từ các đơn vị gây quỹ như Tập đoàn Phát triển Công nghệ Malaysia (MTDC), Tập đoàn Kinh tế Kỹ thuật số Malaysia (MDEC)…, nhằm cung cấp các khoản tài trợ một phần cho các dự án R&D đủ điều kiện. Số tiền hỗ trợ phê duyệt được xác định dựa trên giá trị của từng hồ sơ đăng ký. Một số tổ chức hỗ trợ tài chính đó là: (i) MTDC: Quỹ Tăng trưởng Doanh nghiệp (BGF), Quỹ Khởi nghiệp Doanh nghiệp (BSF), Quỹ Phát triển Công nghệ Halal, Quỹ Thử nghiệm Công nghệ và ĐMST Quốc gia (Sandbox Fund); (ii) MDEC: Tài trợ Kỹ thuật số Malaysia (MDXG), Tài trợ Nội dung Số (DCG); (iii) Tập đoàn Quỹ Cradle: CIP SPARK, CIP SPRINT; (iv) Tập đoàn Quản lý vốn mạo hiểm: Dana Modal Teroka Korporat; (v) Tập đoàn Vay nợ Malaysia: Kế hoạch Tăng tốc và Thương mại hóa Công nghệ MDV 2.0 (MDV TACT 2.0); (vi) Ngân hàng SME: Quỹ Chuyển đổi Công nghệ DNNVV (STTF).
Cho vay, bảo lãnh vay và/hoặc bảo lãnh cổ phần
Cho vay tín dụng và bảo lãnh tín dụng công nghệ
Chương trình cho vay trực tiếp dường như không phù hợp để tài trợ cho DNNVV thực hiện ĐMST vì chúng không chia sẻ lợi nhuận tiềm năng, nhưng chịu một phần rủi ro đáng kể. Một trong những công cụ điển hình là tín dụng công nghệ. Công cụ này cung cấp thêm cơ hội tài chính cho các khoản đầu tư ĐMST và do đó ảnh hưởng thực sự đến sự phát triển hoạt động ĐMST của DNNVV. Điển hình cho công cụ này là Hàn Quốc, với tên gọi “Technology-Based Lending” cung cấp xếp hạng công nghệ và bảo lãnh tín dụng cho các công ty khởi nghiệp và DNNVV có khả năng về mặt công nghệ nhưng thiếu tài sản thế chấp (Soh Hoon Sahis và cộng sự, 2023).
Cho vay phục vụ đổi mới sáng tạo
Các khoản vay là công cụ tài chính trực tiếp, thường nhắm vào các DNNVV, doanh nghiệp khởi nghiệp và được chính phủ cung cấp trực tiếp hoặc thông qua các công cụ trung gian để giải quyết các khiếm khuyết của thị trường tài chính ngăn cản các ngân hàng thương mại tài trợ đúng mức cho các dự án ĐMST. Tại Hàn Quốc, Cục DNNVV và Khởi nghiệp cung cấp các khoản vay dài hạn và lãi suất thấp cho các DNNVV mà tạo việc làm, mở rộng thị trường hoặc đầu tư vào cơ sở vật chất. Hạn mức vay tối đa là 6 tỷ won, trường hợp đặc biệt, hạn mức vay lên đến 10 tỷ won (OECD, 2023).
Bảo lãnh vay cho đổi mới sáng tạo
Các chương trình bảo lãnh vay giúp giảm thiểu rủi ro từ bên cho vay bằng cách bù đắp một phần tổn thất tiềm ẩn khi doanh nghiệp vỡ nợ, từ đó khuyến khích các ngân hàng cho vay đối với các dự án ĐMST vốn không có đủ tài sản thế chấp. Tại Hàn Quốc, Tập đoàn Tài chính Công nghệ (KOTEc) mở rộng bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp có công nghệ khả thi nhưng khả năng tiếp cận vay hạn chế do thiếu tài sản thế chấp (OECD, 2023).
Hỗ trợ vốn chủ sở hữu giai đoạn đầu
Chính phủ cung cấp vốn cho các “thiết chế trung gian tài chính” để đầu tư vào vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhỏ và mới thành lập, có năng lực ĐMST cao. Các thiết chế trung gian này có thể là cá nhân, nhóm nhà đầu tư thiên thần, quỹ có tổ chức, quỹ liên kết với các nhà cung cấp dịch vụ như chương trình tăng tốc khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp lớn. Công cụ hỗ trợ vốn chủ sở hữu giai đoạn đầu thường hướng đến việc thúc đẩy mạng lưới quan hệ và lan tỏa ĐMST.
Mua sắm công cho đổi mới sáng tạo
Mua sắm công cho ĐMST được sử dụng như một trong những công cụ chính sách chủ chốt để khuyến khích ĐMST và thúc đẩy tăng trưởng của doanh nghiệp. Tại Hàn Quốc, công cụ chủ yếu của chính sách này là hỗ trợ đổi mới công nghệ dành cho DNNVV. Triết lý của chương trình này nhấn mạnh vào việc đảm bảo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ mang lại đổi mới công nghệ về lâu dài. Trong số 9 chính sách mua sắm công ĐMST, có 4 chính sách hỗ trợ trực tiếp cho việc tạo lập thị trường của DNNVV, 2 chính sách gắn kết mua sắm với khuyến khích hoạt động R&D và 3 chính sách hỗ trợ gián tiếp cho việc quản lý hiệu quả các quy trình mua sắm công (Charles Edquist và cộng sự, 2015).
Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp
Các ưu đãi thuế cho các hoạt động liên quan đến R&D và/hoặc ĐMST giúp giảm chi phí thực tế cho hoạt động R&D và/hoặc ĐMST của doanh nghiệp đã trở thành công cụ hỗ trợ ưu việt cho các hoạt động này của doanh nghiệp. Trong hơn 2 thập kỷ qua, ngày càng nhiều quốc gia sử dụng công cụ ưu đãi này. Ngoài ra, một số công cụ ưu đãi thuế khác như “hộp bằng độc quyền sáng chế/ hộp sở hữu trí tuệ hoặc hộp ĐMST” tạo điều kiện cho doanh nghiệp áp mức thuế ưu đãi hơn, cũng ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Ưu đãi thuế R&D và/hoặc ĐMST có thể được cung cấp dưới hình thức hỗ trợ, miễn, giảm trong một thời gian, khấu trừ hoặc tín dụng thuế (tax credit). Tài trợ, miễn, giảm và khấu trừ thuế thực chất được trừ vào cơ sở tính thuế (thu nhập chịu thuế) trước khi tính toán nghĩa vụ thuế (được xem gần đúng như chi phí hợp lý), và do đó làm giảm số tiền chịu thuế trước khi đánh thuế. Hình thức tín dụng thuế được trừ trực tiếp vào số thuế phải nộp sau khi tính toán tổng nghĩa vụ thuế. Trong trường hợp áp dụng các điều khoản khấu hao nhanh đối với máy móc, thiết bị dùng cho hoạt động R&D, chi phí máy móc, thiết bị dùng cho R&D có thể được loại bỏ hoặc khấu hao nhanh theo tỷ lệ cao, cung cấp một khoản tài trợ (giảm thu nhập chịu thuế) cho đối tượng nộp thuế trong năm đầu tiên đầu tư (Đỗ Vũ Phương Anh và Hoàng Văn Tuyên, 2022).
Hỗ trợ, miễn, khấu trừ thuế
Cho đến nay chỉ còn một số ít quốc gia phát triển áp dụng biện pháp hỗ trợ, khấu trừ thuế đối với các chi phí phục vụ cho hoạt động R&D và ĐMST của doanh nghiệp. Nhật Bản và Hàn Quốc không áp dụng công cụ này, thay vào đó là công cụ liên quan đến hộp sở hữu trí tuệ hoặc hộp ĐMST.
Tại Trung Quốc, theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, từ ngày 1/1/2018 đến ngày 31/12/2023, doanh nghiệp được khấu trừ 175% chi phí R&D đủ điều kiện để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó, mức siêu khấu trừ đối với chi phí R&D của doanh nghiệp sản xuất được tăng từ 175% lên 200% (có hiệu lực hồi tố từ ngày 1/1/2021). Ngoài ra, tỷ lệ siêu khấu trừ đối với chi phí R&D đủ điều kiện phát sinh từ ngày 1/10/2022 đến 31/12/2022 tăng từ 175% lên 200% đối với các doanh nghiệp đủ điều kiện, trừ DNNVV và siêu nhỏ công nghệ cao; Doanh nghiệp được khấu trừ trước chi phí R&D theo quy định, sau đó khấu trừ thêm một khoản bằng 100% số phát sinh trước thuế từ ngày 1/1/2023; nếu chúng được hình thành thành tài sản vô hình, được phép khấu hao trước thuế dựa trên 200% giá trị tài sản vô hình kể từ ngày 1/1/2023; Doanh nghiệp sản xuất mạch tích hợp hoặc doanh nghiệp sản xuất máy móc thiết bị công nghiệp được khấu trừ chi phí R&D theo mức quy định, sau đó khấu trừ thêm một khoản bằng 120% số tiền phát sinh trước thuế trong giai đoạn từ ngày 1/1/2023 đến 31/12/2027 trên cơ sở khấu trừ thực tế theo quy định; tài sản hình thành tài sản vô hình được khấu hao trước thuế theo 220% nguyên giá tài sản vô hình trong kỳ nêu trên (EY, 2024).
Tại Singapore, từ năm tài chính 2024-2026, khấu trừ lên đến 400% cho các chi phí R&D đủ điều kiện được thực hiện tại Singapore. Khoản khấu trừ này áp dụng cho 400.000 SGD đầu tiên của các chi phí R&D đủ điều kiện phát sinh hàng năm. Ngoài 400.000 SGD ban đầu, chủ thể nộp thuế có thể được hưởng khoản khấu trừ R&D nâng cao 250%. Khoản khấu trừ thuế 400% cũng sẽ được áp dụng cho tối đa 50.000 SGD chi phí ĐMST đủ điều kiện mà doanh nghiệp chi trả cho mỗi năm tài chính đối với các dự án ĐMST đủ điều kiện được thực hiện với các tổ chức đối tác. Dự án ĐMST đủ điều kiện là các dự án chủ yếu liên quan đến một hoặc nhiều hoạt động ĐMST sau: hoạt động R&D; hoạt động kỹ thuật, thiết kế và các hoạt động sáng tạo khác; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ; hoạt động phát triển phần mềm và cơ sở dữ liệu. Đối với các dự án R&D được thực hiện ở nước ngoài, khấu trừ 100% chi phí R&D đủ điều kiện phát sinh từ các dự án R&D liên quan đến hoạt động thương mại hoặc kinh doanh của bên yêu cầu (EY, 2024)..
Tại Malaysia, doanh nghiệp nộp thuế được khấu trừ 200% tổng chi phí R&D đủ điều kiện, không bao gồm chi phí vốn. Bên cạnh mức siêu khấu trừ chi phí R&D này, Malaysia còn áp dụng ưu đãi thuế cho nhân lực: các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu được miễn thuế 50% trong 05 năm đối với thu nhập nhận được từ việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Tại Thái Lan, doanh nghiệp được khấu trừ 100% thuế đối với các chi phí liên quan đến hoạt động R&D. Từ ngày 25/2/2016, doanh nghiệp Thái Lan có thể được khấu trừ bổ sung thêm 100% thuế (khấu trừ kép) đối với các chi phí R&D. Ngoài ra, doanh nghiệp đầu tư hoạt động R&D tại Thái Lan có thể được hưởng một số lợi ích sau: (i) Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp tối đa 8 năm và có thể gia hạn tối đa 13 năm nếu số tiền đầu tư/chi tiêu cho R&D và/hoặc phát triển nhân lực đạt đến một ngưỡng nhất định; (ii) Miễn thuế đối với việc phân phối cổ tức trong thời gian miễn thuế và tối đa 6 tháng sau khi thời gian miễn thuế kết thúc; (iii) Khấu trừ 2 lần chi phí liên quan đến vận tải, điện, nước tùy thuộc vào địa điểm đầu tư; (iv) Miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, máy móc, thiết bị nhập khẩu để sử dụng trong quá trình R&D...
Tín dụng thuế
Tại Nhật Bản, có 2 loại tín dụng thuế cơ sở R&D, gồm:
- Tín dụng cho chi phí R&D chung là tổng chi phí R&D chung nhân với một tỷ lệ nhất định. Tỷ lệ tín dụng R&D được xác định như sau: (chi phí R&D hiện tại - chi phí R&D trung bình trong 3 năm tài chính gần nhất) chia cho chi phí R&D trung bình trong 3 năm tài chính gần nhất. Chủ thể nộp thuế sử dụng tỷ lệ gia tăng này trong một công thức cụ thể để tính tỷ lệ tín dụng R&D. Phạm vi cho phép của tỷ lệ tín dụng R&D là từ 1% đến 14% (từ năm 2024 giảm ngưỡng dưới từ 1% xuống 0%).
- Tín dụng cho chi phí R&D và ĐMST mở đặc biệt nhằm mục đích thúc đẩy ĐMST tại Nhật Bản. Chi phí R&D và ĐMST mở đặc biệt là chi phí R&D phát sinh trong nghiên cứu chung với các tổ chức R&D hoặc trường đại học đặc biệt và nghiên cứu được thuê ngoài. Đối với nghiên cứu chung, khoản tín dụng thuế là chi phí R&D đặc biệt nhân với 30% (đối với chi phí phát sinh trong nghiên cứu chung với tổ chức R&D hoặc trường đại học) hoặc 20% (đối với chi phí phát sinh trong nghiên cứu chung với các tập đoàn tư nhân nhưng là 25% trong trường hợp liên doanh R&D).
Tại Hàn Quốc, 3 loại tín dụng thuế sau đây được áp dụng theo phương thức tín dụng thuế dành cho các khoản chi phí hoạt động R&D đủ điều kiện, cụ thể:
- Tín dụng thuế cho chi phí hoạt động R&D trong các công nghệ chiến lược quốc gia (các công nghệ quan trọng đối với mục tiêu an ninh kinh tế quốc gia và có tác động lan tỏa lớn đến nền kinh tế, an sinh xã hội và các ngành công nghiệp), áp dụng cho các khoản chi phí hoạt động R&D phát sinh từ ngày 1/7/2021 đến ngày 31/12/2024: 30% chi phí R&D, 40% chi phí R&D đối với DNNVV; Tỷ lệ chi phí R&D trên tổng doanh thu gấp 3 lần, được giới hạn ở mức 10%.
- Tín dụng thuế cho chi phí R&D trong các lĩnh vực tăng trưởng mới hoặc để đảm bảo công nghệ nguồn (gốc), áp dụng cho chi phí R&D phát sinh đến ngày 31/12/2024, cụ thể: 20% chi phí R&D (25% đối với một số doanh nghiệp quy mô vừa đủ điều kiện được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Hàn Quốc - KOSDAQ); 30% chi phí R&D đối với DNNVV; Tỷ lệ chi phí cho R&D trên tổng doanh thu gấp 3 lần, được giới hạn ở mức 10% chi phí cho R&D (15% đối với một số DNNVV đủ điều kiện niêm yết trên KOSDAQ).
- Khoản tín dụng thuế thông thường cho chi phí R&D, áp dụng với các tập đoàn lớn; doanh nghiệp quy mô vừa đủ điều kiện và DNNVV.
Song song với phương thức tín dụng thuế đối với các khoản chi phí hoạt động R&D, Hàn Quốc còn áp dụng phương thức tín dụng thuế cho khoản đầu tư vào phương tiện, thiết bị phục vụ R&D, cụ thể: khoản tín dụng thuế bổ sung (10% cho DNNVV, 5% cho doanh nghiệp quy mô vừa và 1% cho các tập đoàn lớn) có thể được áp dụng cho số tiền đầu tư vào phương tiện phục vụ mục đích kinh doanh, bao gồm cả phương tiện hoặc tài sản cố định phục vụ R&D.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Từ những kinh nghiệm quốc tế được đối chiếu, có thể rút ra một số định hướng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện chính sách khuyến khích R&D và ĐMST trong giai đoạn tới:
Một là, chuyển từ tư duy quản lý và hỗ trợ sang tư duy kiến tạo. Việt Nam cần xác lập vai trò Nhà nước không chỉ là “người cấp vốn” mà là “người điều phối hệ sinh thái đổi mới”, với chức năng dẫn dắt, học hỏi và phản hồi chính sách dựa trên bằng chứng thực nghiệm.
Hai là, xác định các sứ mệnh đổi mới quốc gia rõ ràng và có thể đo lường. Các lĩnh vực tiềm năng bao gồm: chuyển đổi số trong DNNVV, năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, công nghiệp văn hóa và y tế công cộng. Mỗi sứ mệnh nên gắn với mục tiêu cụ thể, lộ trình thực hiện và bộ chỉ số đánh giá định lượng.
Ba là, phát triển cụm đổi mới vùng gắn với đại học và khu công nghệ cao. Mô hình liên kết Nhà nước - Viện - Doanh nghiệp - Xã hội (Quadruple Helix) nên được áp dụng để hình thành các trung tâm lan tỏa tri thức và ươm tạo công nghệ địa phương.
Bốn là, mở rộng cơ chế mua sắm công cho đổi mới. Chính phủ nên trở thành “khách hàng đầu tiên” của sản phẩm đổi mới trong các lĩnh vực công như năng lượng sạch, giáo dục số, y tế thông minh - tương tự như kinh nghiệm của Singapore và Hàn Quốc.
Năm là, tăng đầu tư cho nhân lực và dữ liệu tri thức. Việt Nam cần ưu tiên ngân sách cho đào tạo kỹ năng số, đổi mới giáo dục đại học, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nghiên cứu mở để hỗ trợ học hỏi và đánh giá chính sách.
Tài liệu tham khảo:
1. Charles Edquist, Nicholas S. Vonortas, Jon Mikel Zabala-Iturriagagoitia and Jakob Edler (eds.) (2015). Public Procurement for Innovation, Edward Elgar Publishing Limited.
2. Đỗ Vũ Phương Anh và Hoàng Văn Tuyên (2022). Công cụ chính sách thúc đẩy ĐMST của doanh nghiệp nhỏ và vừa, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 4, 20-22.
3. EY (2024). Worldwide Research and Development Incentives Reference Guide 2024, https://www.ey.com/content/dam/ey-unified-site/ey-com/en-gl/services/tax/documents/en-gl-r-and-d-03-oct-2024.pdf.
4. Masahito Ambashi (ed.) (2018). Innovation Policy in ASEAN, Economic Research Institute for ASEAN and East Asia (ERIA).
5. OECD (2023). OECD Reviews of Innovation Policy: Korea 2023, OECD Reviews of Innovation Policy, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/bdcf9685-en.
6. OECD (2023). Income-based tax relief for R&D and Innovation an integrated view, http://www.oecd.org/termsandconditions.
7. Soh Hoon Sahib, Youngsun Koh, and Anwar Aridi (eds.) (2023). Innovative Korea: Leveraging Innovation and Technology for Development. Washington, DC: World Bank. doi:10.1596/978-1-4648-1961-2.
8. Sang-Soog Lee, Seung Won Yu, and Joon Mo Ahn (2024). The Impact of Innovation Voucher on Digital Transformation in SMEs: The Case of AI Voucher in Korea, International Telecommunications Policy Review, 25(3).
9. WB (2024). A Case Study on Korea’s R&D Tax Incentives: Principles, Practices, and Lessons for Developing Countries, World Bank Publications, The World Bank Group, 1818 H Street NW, Washington, DC 20433.
| Ngày nhận bài: 10/10/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2025; Ngày duyệt đăng: 28/11/2025 |
Các tin khác
Sự chấp nhận đối với phát triển điện gió tại Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết suy luận hành vi
Tác động của marketing xã hội doanh nghiệp và marketing gắn với mục đích xã hội đến tài sản thương hiệu trong ngành sữa tại Việt Nam
Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chấp nhận sử dụng trợ lý mua hàng trực tuyến
Tính chân thực của livestreamer và ý định mua lại của khách hàng: Vai trò của niềm tin và chất lượng thông tin sản phẩm
Hoàn thiện chính sách phát triển các sản phẩm tài chính xanh tại Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng chuyển đổi số của doanh nghiệp du lịch tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý chất lượng dịch vụ đào tạo tại các trường đại học công lập khối ngành kinh tế: Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Hành vi thích nghi công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tổng quan lý thuyết và khung khái niệm trong bối cảnh chuyển đổi số