Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp hỗ trợ tại TP. Hồ Chí Minh
ThS. Nguyễn Thị Hải Âu
Khoa Tài chính - Bảo hiểm, Trường Đại học Lao động - Xã hội, Cơ sở II, TP. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
TS. Võ Thành Tâm
Khoa Kinh tế, Trường Kinh tế Luật, Quản lý nhà nước, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở tổng hợp tài liệu, chính sách và các chỉ tiêu về tỷ lệ nội địa hóa, sản phẩm CNHT tiêu biểu, kết nối doanh nghiệp và sản xuất công nghiệp. Kết quả cho thấy, CNHT Thành phố đã có những chuyển biến tích cực, nhưng năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng còn hạn chế do khoảng cách về công nghệ, chất lượng, tiêu chuẩn, năng suất, nguồn nhân lực, quản trị và tài chính. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 8 nhóm giải pháp tập trung vào nâng cao năng lực doanh nghiệp, hoàn thiện chính sách, tăng cường liên kết chuỗi, phát triển hệ sinh thái CNHT, cải thiện tài chính, nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, sản xuất xanh.
Từ khóa: Công nghiệp hỗ trợ, năng lực cạnh tranh, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
The study analyzes the current state of competitiveness in Ho Chi Minh City’s supporting industries based on a review of relevant literature, policies, and indicators, including localization rates, representative supporting industry products, business linkages, and industrial production. The findings indicate that the city’s supporting industries have made positive progress; however, their capacity to participate more deeply in supply chains remains limited by gaps in technology, quality, standards compliance, productivity, human resources, management, and finance. Accordingly, the study proposes eight groups of solutions focusing on strengthening firm-level capabilities, improving policy frameworks, enhancing supply chain linkages, developing the supporting industry ecosystem, improving access to finance, developing human resources, and promoting digital transformation, technological innovation, and green manufacturing.
Keywords: Supporting industries, competitiveness, Ho Chi Minh City
ĐẶT VẤN ĐỀ
CNHT giữ vai trò nền tảng đối với năng lực cạnh tranh công nghiệp và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thông qua cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện và sản phẩm trung gian. Phát triển CNHT góp phần gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc nhập khẩu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đa quốc gia. Trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu tái cấu trúc, nâng cao năng lực nhà cung ứng trong nước trở thành yêu cầu quan trọng để cải thiện năng suất và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế (OECD, 2025).
Tại Việt Nam, mặc dù thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hội nhập quốc tế tạo nhu cầu lớn về sản phẩm CNHT, nhưng khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao còn hạn chế. Khối FDI hiện chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu, trong khi tỷ trọng đầu vào nhập khẩu vẫn ở mức cao (OECD, 2025), cho thấy dư địa lớn để nâng cao năng lực cung ứng nội địa. Trong những năm gần đây, khung chính sách về CNHT tiếp tục được hoàn thiện với Nghị định số 205/2025/NĐ-CP và Thông tư số 65/2025/TT-BCT, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ, năng suất, chất lượng và kết nối thị trường (Chính phủ, 2025; Bộ Công Thương, 2025).
Là trung tâm kinh tế - công nghiệp lớn, tập trung nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và doanh nghiệp FDI, TP. Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển CNHT. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của ngành vẫn còn những hạn chế về quy mô, tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi.
Trước yêu cầu đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh CNHT TP. Hồ Chí Minh cần gắn nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp với hoàn thiện chính sách và tăng cường liên kết trong hệ sinh thái sản xuất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng, nhận diện những điểm nghẽn và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cung ứng, tăng cường liên kết chuỗi và khả năng tham gia của doanh nghiệp Thành phố vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
CNHT là khu vực sản xuất cung cấp các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và sản phẩm trung gian cho quá trình sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Theo Mori (2005), CNHT có thể được tiếp cận theo nghĩa hẹp, gồm sản xuất linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp; hoặc theo nghĩa rộng, bao gồm cả nguyên vật liệu, máy móc và thiết bị. Tại Việt Nam, CNHT được quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 205/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2015, 2025).
Theo lĩnh vực sản xuất, CNHT phục vụ các ngành cơ khí - chế tạo, ô tô, điện - điện tử, dệt may, da giày và công nghệ cao. Ohno (2007) chia CNHT thành 3 nhóm: cung cấp máy móc, thiết bị; nguyên phụ liệu; linh kiện, phụ tùng. Đây là những yếu tố đầu vào tác động trực tiếp đến chất lượng, chi phí và sức cạnh tranh của sản phẩm cuối cùng.
Về vai trò kinh tế, CNHT tạo liên kết giữa nhà cung ứng và doanh nghiệp sản xuất, góp phần hình thành mạng lưới sản xuất nội địa, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. CNHT phát triển còn tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia; ngược lại, CNHT hạn chế làm gia tăng phụ thuộc vào nhập khẩu và giảm giá trị gia tăng giữ lại trong nước (OECD, 2021, 2025).
Trong bối cảnh yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, công nghệ và tiêu chuẩn môi trường, năng lực cạnh tranh CNHT phụ thuộc vào năng lực đổi mới, nguồn nhân lực, quản trị, tài chính và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng. Vì vậy, phát triển CNHT cần đồng thời nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp và tăng cường liên kết trong hệ sinh thái sản xuất trong nước và quốc tế.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TP. HỒ CHÍ MINH
Là trung tâm sản xuất, thương mại, logistics và đổi mới sáng tạo lớn của cả nước, TP. Hồ Chí Minh tập trung nhiều doanh nghiệp FDI cùng hệ thống khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc yêu cầu đối với việc phát triển CNHT của Thành phố không chỉ là mở rộng quy mô, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực công nghệ, chất lượng, năng suất và khả năng tham gia chuỗi cung ứng. OECD (2025) cũng nhấn mạnh nâng cao chất lượng nhà cung ứng nội địa và tăng cường liên kết với khu vực FDI là điều kiện quan trọng để gia tăng năng suất và khai thác hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 1: Một số chỉ báo về phát triển công nghiệp hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh
|
Chỉ báo |
Kết quả |
Ý nghĩa đối với năng lực cạnh tranh |
|---|---|---|
|
Tỷ lệ nội địa hóa (4 ngành trọng yếu và 2 ngành truyền thống, 2022-2023) |
55,2% |
Năng lực cung ứng nội địa cải thiện nhưng dư địa nâng cao còn lớn |
|
Bình chọn sản phẩm tiêu biểu 2024 |
59 doanh nghiệp đăng ký/96 sản phẩm 42 doanh nghiệp đạt/74 sản phẩm |
Phản ánh độ đa dạng sản phẩm và nhóm doanh nghiệp có năng lực chất lượng nổi bật |
|
Kết nối chuỗi cung ứng Samsung 2025 |
16 doanh nghiệp tham gia 2 doanh nghiệp tiếp tục làm việc |
Cho thấy sự chuyển dịch từ xúc tiến diện rộng sang lựa chọn nhà cung ứng thực tế |
|
Tăng trưởng Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) TP. Hồ Chí Minh (Quý I/2026) |
Chung: +11,0% Cơ khí: +11,3% |
Sản xuất công nghiệp phục hồi; ngành cơ khí nền tảng tăng trưởng tốt |
Nguồn: Tổng hợp từ Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh (2024-2026), các thông tin về kết nối doanh nghiệp với Samsung và số liệu sản xuất công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Giai đoạn 2022-2023, tỷ lệ nội địa hóa của 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 2 ngành truyền thống đạt 55,2%, cho thấy năng lực cung ứng nội địa đã được cải thiện nhưng mức độ phụ thuộc vào nguyên vật liệu, linh kiện nhập khẩu vẫn đáng kể. Vì vậy, phát triển CNHT cần chuyển trọng tâm từ mở rộng số lượng doanh nghiệp sang nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm.
Hoạt động kết nối doanh nghiệp cũng chuyển dần từ xúc tiến diện rộng sang đáp ứng nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp dẫn dắt. Năm 2025, Thành phố tổ chức kết nối doanh nghiệp CNHT với các tập đoàn FDI trong các lĩnh vực chế tạo, vi mạch, hàng không vũ trụ (Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, 2025). Chương trình kết nối với Samsung năm 2025 là một trường hợp điển hình. Trong số 16 doanh nghiệp tham gia, 2 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cơ khí, nhựa và kim loại được lựa chọn để tiếp tục làm việc. Mặc dù số lượng chưa lớn, kết quả này phản ánh xu hướng chuyển từ hoạt động kết nối mang tính xúc tiến sang quá trình lựa chọn, đánh giá và nâng cấp nhà cung ứng dựa trên tiêu chuẩn thực tế của doanh nghiệp dẫn dắt.
Sản xuất công nghiệp cũng ghi nhận tín hiệu tích cực khi IIP quý I/2026 tăng 11% so với cùng kỳ, trong đó ngành cơ khí tăng 11,3% (Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, 2026). Tuy nhiên, năng lực trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 của doanh nghiệp CNHT Thành phố còn hạn chế do những khoảng cách về công nghệ, chất lượng, tiêu chuẩn, quản trị và tiến độ giao hàng. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận tài chính còn hạn chế, ảnh hưởng đến đầu tư máy móc, kiểm định, chứng nhận và chuyển đổi số.
Cùng với cải thiện năng lực doanh nghiệp, khung chính sách về CNHT tiếp tục được hoàn thiện. Nghị định số 205/2025/NĐ-CP và Thông tư số 65/2025/TT-BCT tạo cơ sở hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ, nhân lực và kết nối chuỗi cung ứng (Chính phủ, 2025; Bộ Công Thương, 2025). Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển CNHT giai đoạn 2026-2035 xác định CNHT là nền tảng nâng cao tính tự chủ công nghiệp, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc nhập khẩu (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Ở cấp địa phương, Quyết định số 5119/QĐ-UBND ngày 13/8/2026 phê duyệt Chương trình phát triển CNHT TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030, tập trung vào tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, giá trị gia tăng nội địa và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Bảng 2: Một số mục tiêu phát triển CNHT TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030
|
Chỉ tiêu |
Mục tiêu đến năm 2030 |
|---|---|
|
Tốc độ tăng tỷ lệ nội địa hóa CNHT |
5-10%/năm |
|
Tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử |
> 30% |
|
Tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí chế tạo |
> 40% |
|
Tỷ lệ nội địa hóa ngành ô tô |
> 30% |
|
Tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may |
> 60% |
|
Tỷ lệ nội địa hóa ngành da giày |
> 65% |
|
Tỷ lệ nội địa hóa công nghiệp công nghệ cao |
> 15% |
|
Doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu |
Ít nhất 7-12 doanh nghiệp |
Nguồn: UBND TP. Hồ Chí Minh (2026)
Chương trình phát triển CNHT Thành phố giai đoạn 2026-2030 cho thấy định hướng chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang nâng cao năng lực doanh nghiệp gắn với chuỗi cung ứng, trong đó chú trọng nghiên cứu và phát triển (R&D), tiêu chuẩn hóa, sản xuất thông minh, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.
Nhìn chung, CNHT TP. Hồ Chí Minh đã có chuyển biến về năng lực sản phẩm, kết nối chuỗi cung ứng và chính sách phát triển. Tuy nhiên, năng lực doanh nghiệp còn chưa đồng đều và số lượng nhà cung ứng ổn định cho các tập đoàn đa quốc gia còn hạn chế. Do đó, hiệu quả phát triển CNHT cần được đánh giá bằng các kết quả đầu ra như tỷ lệ nội địa hóa, số nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, giá trị gia tăng trong nước và số sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
GIẢI PHÁP
Từ những kết quả đạt được và các hạn chế nêu trên, để nâng cao năng lực cạnh tranh CNHT TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới, cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao năng lực nội tại và khả năng tự chủ của doanh nghiệp CNHT. Doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, từng bước chuyển từ sản xuất các chi tiết giá trị thấp sang linh kiện kỹ thuật cao đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời nâng cao năng lực quản trị sản xuất, quản trị chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tăng cường đầu tư cho R&D, tự động hóa, chuyển đổi số. Thành phố cần ưu tiên nguồn lực cho các doanh nghiệp có tiềm năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 hoặc tham gia các phân khúc có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng đơn giản, minh bạch và dựa trên kết quả đầu ra. Trên cơ sở Nghị định số 205/2025/NĐ-CP và Thông tư số 65/2025/TT-BCT, Thành phố cần đẩy mạnh số hóa quy trình thẩm định, giải ngân và xác nhận ưu đãi, giảm chi phí và thời gian thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp. Hiệu quả chính sách cần được đánh giá bằng các chỉ tiêu thực chất như số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế, số sản phẩm tham gia chuỗi cung ứng, số nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 và mức gia tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Thứ ba, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp dẫn dắt. Hoạt động kết nối cần chuyển từ xúc tiến chung sang kết nối định kỳ theo nhu cầu cụ thể về linh kiện, nguyên liệu và tiêu chuẩn kỹ thuật của doanh nghiệp FDI (Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, 2025; Thủ tướng Chính phủ, 2026). Đồng thời, cần xây dựng cơ chế hỗ trợ các “nhà cung cấp tiềm năng” nâng cấp năng lực, lấy khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hợp đồng cung ứng thực tế làm thước đo kết quả.
Thứ tư, phát triển không gian sản xuất và hệ sinh thái CNHT. Thành phố cần phát triển các khu, cụm CNHT; nhân rộng mô hình nhà xưởng xây sẵn, nhà xưởng nhiều tầng và không gian sản xuất dùng chung phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hạ tầng sản xuất cần được kết nối với logistics, kho bãi, xử lý môi trường, trung tâm kiểm định và viện - trường nhằm hình thành hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, giảm chi phí và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận công nghệ.
Thứ năm, cải thiện khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp CNHT. Cần tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các dự án ưu tiên theo Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND của UBND TP. Hồ Chí Minh; đồng thời phát triển các hình thức tài trợ phù hợp với đặc thù ngành. Nguồn vốn cần ưu tiên cho đầu tư máy móc chính xác, tự động hóa, chuyển đổi số và công nghệ cao; nghiên cứu cơ chế tài trợ, bảo lãnh tín dụng dựa trên dòng tiền và hợp đồng cung ứng đối với doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm.
Thứ sáu, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin CNHT thống nhất. Thành phố cần xây dựng cơ sở dữ liệu số về năng lực sản xuất, công suất, sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và chứng nhận quốc tế của doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ kết nối cung - cầu giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI. Đồng thời, cần thống nhất và cập nhật định kỳ các chỉ tiêu về doanh thu, xuất khẩu, tỷ lệ nội địa hóa, số nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 và các dự án được hỗ trợ để phục vụ hoạch định và đánh giá chính sách.
Thứ bảy, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật và tăng cường liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Đào tạo cần gắn với nhu cầu vị trí việc làm, tập trung vào các lĩnh vực như cơ khí chính xác, chế tạo khuôn mẫu, tự động hóa, robot, vi mạch và quản trị sản xuất thông minh. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế đặt hàng đào tạo, khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tiếp nhận thực tập và phối hợp đào tạo với các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu.
Thứ tám, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và phát triển CNHT xanh. Cần hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng các hệ thống quản trị và sản xuất thông minh như ERP, MES, tự động hóa, quản lý sản xuất theo thời gian thực và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, ưu tiên các dự án đổi mới công nghệ theo hướng tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và sử dụng nguyên liệu tái chế, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao của chuỗi cung ứng quốc tế.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy CNHT TP. Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến tích cực về năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, tỷ lệ nội địa hóa và kết nối cung - cầu. Tuy nhiên, khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, đặc biệt là trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các doanh nghiệp FDI, vẫn còn hạn chế do những điểm nghẽn về công nghệ, tiêu chuẩn, quản trị, nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận tài chính.
Trong giai đoạn tới, nâng cao năng lực cạnh tranh CNHT Thành phố cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, lấy khả năng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp dẫn dắt và tham gia chuỗi cung ứng làm thước đo. Theo đó, cần đồng bộ các giải pháp về công nghệ, quản trị, tài chính, nguồn nhân lực, liên kết cung - cầu, chuyển đổi số và sản xuất xanh; đồng thời đánh giá hiệu quả chính sách thông qua các kết quả đầu ra như tỷ lệ nội địa hóa, số nhà cung ứng cấp 1, cấp 2, số sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế và giá trị gia tăng tạo ra trong nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương (2025). Thông tư số 65/2025/TT-BCT ngày 31/12/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 205/2025/NĐ-CP.
2. Chính phủ (2015). Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ.
3. Chính phủ (2025). Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày 14/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ.
4. Mori, J. (2005). Development of supporting industries for Vietnam’s industrialization: Increasing positive vertical externalities through collaborative training [Master’s thesis, Nagoya University].
5. OECD (2021). SME and entrepreneurship policy in Viet Nam. https://doi.org/10.1787/30c79519-en
6. OECD (2025). OECD economic surveys: Viet Nam 2025. https://doi.org/10.1787/fb37254b-en
7. Ohno, K. (2007). Building supporting industries in Vietnam.
8. Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh (2024). Kết quả bình chọn sản phẩm công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024.
9. Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh (2025). Hội nghị tìm kiếm nhà cung cấp công nghiệp hỗ trợ năm 2025.
10. Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh (2026). Thông tin về phát triển công nghiệp hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035.
12. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 5119/QĐ-UBND ngày 13/8/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030.
| Ngày nhận bài: 25/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026 |
Các tin khác
Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)