Nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh chuyển đổi số
Nguyễn Thị Thu Hiền
Email: [email protected]
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích yêu cầu nâng cao hiệu quả đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở khái quát thực trạng và các yêu cầu mới đối với đội ngũ quản lý, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm chuẩn hóa tiêu chí đánh giá, đổi mới phương pháp đánh giá, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và gắn 2 hoạt động này với lộ trình chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Từ khóa: Đánh giá, đãi ngộ, nguồn nhân lực quản lý, DNNVV, chuyển đổi số
Abstract
This study analyzes the need to enhance the effectiveness of evaluating and rewarding managerial human resources in small and medium-sized enterprises in the context of digital transformation. Based on an overview of the current situation and emerging requirements for managerial staff, the study proposes four key solution groups: standardizing evaluation criteria, innovating evaluation methods, improving compensation policies, and aligning these activities with the enterprises’ digital transformation roadmap.
Keywords: Evaluation, compensation, managerial human resources, small and medium-sized enterprises, digital transformation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyển đổi số đã đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Bên cạnh năng lực tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động theo phương thức truyền thống, đội ngũ này cần phải có khả năng sử dụng công nghệ trong quản trị, khai thác dữ liệu, thích ứng nhanh với biến động của môi trường kinh doanh để đưa ra các quyết định. Do đó, hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, đánh giá và đãi ngộ giữ vai trò quan trọng đối với các DNNVV. Đánh giá là căn cứ xác định mức độ đáp ứng yêu cầu công việc và hỗ trợ các quyết định sử dụng, phát triển đội ngũ quản lý. Đãi ngộ là công cụ tạo động lực và duy trì sự gắn bó của đội ngũ quản lý với doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nhiều DNNVV, 2 hoạt động này còn thiếu tính hệ thống và chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu của chuyển đổi số.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý
Nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý trong DNNVV là yêu cầu ngày càng rõ nét trong bối cảnh chuyển đổi số. Điều này xuất phát từ sự thay đổi của môi trường quản trị, vai trò của đội ngũ quản lý và những hạn chế còn tồn tại trong cơ chế quản trị nhân lực ở nhiều DNNVV hiện nay. Cụ thể:
Thứ nhất, chuyển đổi số đã làm thay đổi tiêu chuẩn đánh giá đối với đội ngũ quản lý trong DNNVV. Nếu trước đây việc đánh giá chủ yếu tập trung vào mức độ hoàn thành công việc và kết quả vận hành ngắn hạn, thì hiện nay các tiêu chuẩn đó không phản ánh được đầy đủ năng lực quản lý. Bên cạnh đó, đội ngũ quản lý còn phải thích ứng với công nghệ, sử dụng dữ liệu trong quản trị và dẫn dắt thay đổi trong doanh nghiệp.
Thứ hai, đánh giá và đãi ngộ là 2 công cụ tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực quản lý. Đánh giá là căn cứ cho các quyết định đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển và phát triển đội ngũ quản lý; đãi ngộ tạo động lực, khuyến khích nâng cao hiệu quả công việc và duy trì sự gắn bó của nguồn nhân lực quản lý với doanh nghiệp.
Thứ ba, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu phải gắn đánh giá và đãi ngộ với kết quả đổi mới quản trị. Hiệu quả làm việc của đội ngũ quản lý hiện nay không thể chỉ nhìn qua kết quả kinh doanh hoặc khả năng duy trì hoạt động thông thường, mà còn cần xem xét ở phương diện cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ và đóng góp vào tiến trình chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả đánh giá và đãi ngộ là điều kiện để giữ chân và phát huy đội ngũ quản lý có chất lượng. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, cơ chế đánh giá công bằng, minh bạch và chính sách đãi ngộ phù hợp là giải pháp quan trọng để ổn định đội ngũ quản lý và nâng cao hiệu quả quản trị trong DNNVV.
Thực trạng hoạt động đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay
Hiện nay, hoạt động đánh giá đội ngũ quản lý trong nhiều DNNVV chủ yếu dựa vào nhận xét của người đứng đầu doanh nghiệp hoặc cấp quản lý trực tiếp, chưa có bộ tiêu chí cụ thể cho từng vị trí và từng cấp quản lý. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cách đánh giá này bộc lộ rõ hạn chế vì chưa phản ánh đầy đủ các yêu cầu mới như năng lực số, khả năng sử dụng dữ liệu và dẫn dắt thay đổi trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp nhìn chung còn chưa cao, đổi mới hoạt động đánh giá và đãi ngộ còn chậm. Nguyễn Thị Hồng và cộng sự (2024) cho thấy 22,9% doanh nghiệp trong mẫu khảo sát được xếp vào nhóm sẵn sàng chuyển đổi số; 60,42% ở mức cơ bản sẵn sàng và 16,66% chưa sẵn sàng. Hoạt động đãi ngộ đối với đội ngũ quản lý trong nhiều DNNVV còn thiên về duy trì thu nhập hơn là khuyến khích hiệu quả và đổi mới. Đãi ngộ tài chính chủ yếu vẫn dựa vào lương cố định hoặc thưởng ngắn hạn, trong khi sự phân hóa theo mức độ đóng góp hoặc theo kết quả cải tiến quản trị chưa rõ nét; đãi ngộ phi tài chính cũng chưa được quan tâm đúng mức.
Một nghiên cứu khác của Trương Quang Huy và cộng sự (2025) cho thấy 7,6% doanh nghiệp xác định rõ mục tiêu và xây dựng được lộ trình chuyển đổi số cả trong ngắn hạn và dài hạn, trong khi chỉ 2,2% doanh nghiệp thực sự làm chủ được công nghệ. Những số liệu này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa yêu cầu chuyển đổi số với năng lực quản trị hiện có của doanh nghiệp. Từ đó có thể thấy, hoạt động đánh giá nguồn nhân lực quản lý trong nhiều DNNVV còn thiếu tiêu chí rõ ràng, chưa theo kịp yêu cầu của môi trường số. Trong khi đó, chính sách đãi ngộ chưa thực sự gắn với hiệu quả công việc, mức độ đổi mới và đóng góp của đội ngũ quản lý. Đây là những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực quản lý và cản trở quá trình chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO THỜI GIAN TỚI
Thực trạng trên cho thấy, việc hoàn thiện hoạt động đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý trong DNNVV cần được thực hiện đồng bộ, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Trọng tâm là xây dựng cơ chế rõ ràng để đánh giá đúng, ghi nhận đúng và khuyến khích đúng đối với đội ngũ quản lý trong bối cảnh số hóa. OECD (2021a) cho rằng DNNVV muốn nâng cao năng lực quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số cần đồng thời xác định đúng nhu cầu kỹ năng, gắn đánh giá với kết quả công việc và có cơ chế khuyến khích phù hợp, cụ thể:
Một là, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực quản lý theo hướng kết hợp giữa kết quả công việc, năng lực quản trị và năng lực số. Bộ tiêu chí có thể tổ chức theo 5 nhóm: kết quả thực hiện chức năng quản lý; năng lực quản trị và ra quyết định; năng lực số; năng lực đổi mới và thích ứng; phẩm chất, tác phong quản lý (Bảng 1).
Bảng 1: Gợi ý thang đánh giá nguồn nhân lực quản lý trong DNNVV trong bối cảnh chuyển đổi số
|
Nhóm tiêu chí |
Nội dung đánh giá chủ yếu |
Thang đo |
Trọng số gợi ý |
|---|---|---|---|
|
Kết quả thực hiện chức năng quản lý |
Mức độ hoàn thành kế hoạch bộ phận; tiến độ, chất lượng công việc; hiệu quả phối hợp |
1-5 |
25% |
|
Năng lực quản trị và ra quyết định |
Tổ chức công việc; phân công, kiểm soát; xử lý vấn đề; điều phối nguồn lực |
1-5 |
20% |
|
Năng lực số |
Sử dụng phần mềm quản trị; khai thác dữ liệu; sử dụng báo cáo số; phối hợp trên nền tảng số |
1-5 |
20% |
|
Năng lực đổi mới và thích ứng |
Đề xuất cải tiến; hỗ trợ số hóa quy trình; thích ứng với thay đổi; triển khai sáng kiến |
1-5 |
20% |
|
Phẩm chất và tác phong quản lý |
Trách nhiệm; minh bạch; kỷ luật; hỗ trợ nhân viên; tinh thần hợp tác |
1-5 |
15% |
Gợi ý chấm điểm: 1 = Không đạt yêu cầu; 2 = Đạt ở mức thấp; 3 = Đạt yêu cầu; 4 = Tốt; 5 = Rất tốt. Điểm tổng hợp = Σ (điểm từng nhóm tiêu chí × trọng số).
Để tăng tính khả dụng, mỗi tiêu chí cần kèm mô tả hành vi. Chẳng hạn, với tiêu chí “năng lực sử dụng dữ liệu trong quản lý”, mức 1 là gần như không sử dụng dữ liệu khi ra quyết định; mức 3 là sử dụng được báo cáo cơ bản để theo dõi công việc; mức 5 là chủ động khai thác dữ liệu, sử dụng dashboard hoặc báo cáo số để điều hành và đề xuất cải tiến.
Hai là, đổi mới phương pháp đánh giá theo hướng kết hợp đánh giá nhiều nguồn với kết quả công việc. DNNVV cần đổi mới phương pháp đánh giá để hạn chế tình trạng đánh giá một chiều và phụ thuộc quá lớn vào cảm nhận của người đứng đầu doanh nghiệp. Trong điều kiện thực tế, không nhất thiết phải áp dụng đầy đủ mô hình 360 độ như ở doanh nghiệp lớn, mà có thể sử dụng cấu trúc đơn giản hơn gồm: đánh giá của cấp trên trực tiếp, tự đánh giá của người quản lý và phản hồi từ cấp dưới hoặc đồng cấp. Theo Bracken và Rose (2020), phản hồi nhiều nguồn chỉ phát huy hiệu quả khi kết quả được thảo luận lại với người được đánh giá và gắn với kế hoạch phát triển cụ thể.
Bên cạnh đánh giá năng lực và hành vi, doanh nghiệp cần gắn đánh giá với kết quả thực hiện công việc thông qua một số chỉ số đơn giản, dễ theo dõi. Với DNNVV, mỗi vị trí quản lý chỉ nên gắn với 3-5 chỉ số trọng tâm như: tỷ lệ hoàn thành mục tiêu bộ phận, tỷ lệ công việc đúng hạn, tỷ lệ sai lệch báo cáo, số sáng kiến cải tiến quy trình được áp dụng hoặc mức độ sử dụng công cụ số trong quản lý bộ phận. Doanh nghiệp cũng cần quy định chu kỳ đánh giá rõ ràng: theo dõi ngắn hạn hàng tháng với một số KPI chính; đánh giá tổng hợp theo quý và rà soát toàn diện theo năm.
Ba là, hoàn thiện chính sách đãi ngộ theo hướng gắn với vị trí, kết quả công việc và mức độ đóng góp vào đổi mới quản trị. Trong điều kiện nguồn lực tài chính còn hạn chế, chính sách đãi ngộ của DNNVV cần được thiết kế theo nguyên tắc phân hóa hợp lý (Bảng 2). Một cấu trúc đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ quản lý có thể gồm 3 phần: lương vị trí; thưởng hiệu quả công việc; và thưởng theo kết quả đổi mới hoặc chuyển đổi số.
Bảng 2: Gợi ý quy đổi đãi ngộ theo kết quả đánh giá đối với nguồn nhân lực quản lý
|
Điểm đánh giá tổng hợp |
Mức xếp loại |
Gợi ý xử lý đãi ngộ |
|---|---|---|
|
Dưới 3,0 |
Chưa đạt |
Không thưởng hiệu quả; yêu cầu lập kế hoạch cải thiện; xem xét đào tạo/hỗ trợ bắt buộc |
|
Từ 3,0 đến dưới 3,5 |
Đạt |
Thưởng hiệu quả ở mức 0,5 tháng lương; tiếp tục theo dõi |
|
Từ 3,5 đến dưới 4,0 |
Khá |
Thưởng hiệu quả ở mức 1 tháng lương; ưu tiên tham gia chương trình phát triển quản lý |
|
Từ 4,0 đến dưới 4,5 |
Tốt |
Thưởng hiệu quả ở mức 1,5 tháng lương; xem xét giao thêm quyền tự chủ hoặc nhiệm vụ chiến lược |
|
Từ 4,5 trở lên |
Rất tốt |
Thưởng hiệu quả ở mức 2 tháng lương; ưu tiên quy hoạch, bổ nhiệm hoặc thưởng đổi mới/chuyển đổi số |
Ngoài khoản thưởng theo điểm đánh giá, doanh nghiệp có thể bổ sung thưởng đổi mới hoặc chuyển đổi số cho các trường hợp quản lý có sáng kiến cải tiến được áp dụng, giúp giảm thời gian xử lý công việc, nâng tỷ lệ số hóa quy trình hoặc cải thiện chất lượng dữ liệu quản lý. Với những doanh nghiệp chưa lượng hóa được hiệu quả bằng tiền, có thể chia thưởng theo mức A, B, C tùy giá trị sáng kiến.
Bốn là, mở rộng đãi ngộ phi tài chính và gắn đánh giá, đãi ngộ với lộ trình chuyển đổi số của doanh nghiệp. Đối với nhiều DNNVV, cạnh tranh về thu nhập với doanh nghiệp lớn là rất khó. Vì vậy, bên cạnh đãi ngộ tài chính, cần coi trọng các hình thức đãi ngộ phi tài chính như: ghi nhận công khai kết quả làm việc; mở rộng quyền tự chủ trong phạm vi công việc; tạo cơ hội tham gia các quyết định quản trị quan trọng; ưu tiên tham gia các chương trình phát triển năng lực và thiết lập môi trường làm việc khuyến khích học tập, chia sẻ và đổi mới. Cùng với đó, đánh giá và đãi ngộ không nên được vận hành như 2 hoạt động độc lập, mà phải được đặt trong tổng thể chiến lược chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý của doanh nghiệp. Theo OECD (2021b), các công cụ quản trị nhân lực trong DNNVV cần được đặt trong tổng thể chiến lược chuyển đổi số của doanh nghiệp để bảo đảm tính nhất quán giữa phát triển con người và đổi mới mô hình quản trị. Ở giai đoạn đầu, trọng tâm có thể là chuẩn hóa tiêu chí đánh giá và xác định các năng lực số thiết yếu; khi doanh nghiệp tiến xa hơn trong chuyển đổi số, cần gắn đánh giá và đãi ngộ với các kết quả như mức độ số hóa quy trình, hiệu quả sử dụng dữ liệu và tốc độ ra quyết định.
KẾT LUẬN
Nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực quản lý trong DNNVV cần được tiếp cận như một nội dung trọng tâm đổi mới quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số. Việc xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng, áp dụng phương pháp đánh giá khách quan hơn, gắn kết kết quả đánh giá với các quyết định nhân sự và thiết kế cơ chế đãi ngộ có phân hóa sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hơn đội ngũ quản lý, đồng thời tạo động lực cho đổi mới và thích ứng trong môi trường số. Về lâu dài, đây cũng là điều kiện để DNNVV nâng cao chất lượng quản trị, tăng khả năng giữ chân đội ngũ quản lý có năng lực và tạo nền tảng nhân lực cho quá trình chuyển đổi số bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Bracken, D. W. và Rose, D. S (2020). What Makes a 360-Degree Review Successful? Harvard Business Review. https://hbr.org/2020/12/what-makes-a-360-degree-review-successful
2. Nguyễn, T.H., và cộng sự (2024). Mức độ sẵn sàng và khả năng thích ứng của doanh nghiệp và người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn/muc-do-san-sang-va-kha-nang-thich-ung-cua-doanh-nghiep-va-nguoi-lao-dong-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-30387.html
3. OECD (2021a). Raising Skills in SMEs in the Digital Transformation. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2021/06/raising-skills-in-smes-in-the-digital-transformation_15cef2fa/bdedf705-en.pdf
4. OECD (2021b). The Digital Transformation of SMEs. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2021/02/the-digital-transformation-of-smes_ec3163f5/bdb9256a-en.pdf
5. Trương Quang Huy, Nguyễn Thị Thu Vân, Nguyễn Tiến Thành (2025). Chuyển đổi số và những yêu cầu mới trong phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn/chuyen-doi-so-va-nhung-yeu-cau-moi-trong-phat-trien-nguon-nhan-luc-tai-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-viet-nam-31910.html
| Ngày nhận bài: 22/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/5/2026; Ngày duyệt đăng: 15/5/2026 |
Các tin khác
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Phát triển năng lực số của người lao động tại doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ mô hình bảng động tại các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE
Tác động của dự trữ tiền mặt đến đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19