Nâng cao chất lượng phổ cập tiếng Anh, góp phần phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Nghiên cứu - Trao đổi 10:04 | 20/03/2026
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếng Anh đã trở thành cầu nối quan trọng không chỉ để giao tiếp giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, mà còn tạo điều kiện cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao khả năng tiếp thu các tri thức khoa học - công nghệ tiên tiến...

ThS. Dương Hồng Nhung

Học viện Báo chí và Tuyên Truyền

Tóm tắt

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc phổ cập tiếng Anh có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng các mục tiêu phát triển. Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và khó khăn trong hoạt động đào tạo, phổ cập tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất một số giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục những hạn chế, từ đó nâng cao hiệu quả của việc phổ cập tiếng Anh trong thời gian tới.

Từ khóa: Phổ cập tiếng Anh, hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức, giải pháp

Summary

In the context of increasing international integration, the widespread adoption of English plays a crucial role in improving the quality of human resources to meet development objectives. This paper analyzes the opportunities and challenges in English education and dissemination in Viet Nam and proposes a set of coordinated solutions to address existing limitations, thereby enhancing the effectiveness of English language expansion in the coming period.

Keywords: English language dissemination, international integration, opportunities and challenges, solutions

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội nhập quốc tế là quá trình hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới để các quốc gia cùng cải thiện mối quan hệ và chia sẻ lợi ích. Từ khi thực hiện đường lối Đổi mới, Việt Nam đã tích cực mở rộng các hoạt động đối ngoại và không ngừng tăng cường hội nhập quốc tế. Tiến trình này được đánh dấu bằng những mốc thời gian quan trọng: năm 1995 chính thức trở thành thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và bình thường hóa quan hệ với Mỹ; năm 1998 gia nhập diễn đàn Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); năm 2020 Việt Nam được 71 quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường… Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần vào quá trình đổi mới và khơi dậy, phát huy tiềm năng của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếng Anh đã trở thành cầu nối quan trọng không chỉ để giao tiếp giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, mà còn tạo điều kiện cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao khả năng tiếp thu các tri thức khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại và khẳng định vị thế đất nước trên trường quốc tế. Hiện nay, việc phổ cập tiếng Anh tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể; môn tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy rộng rãi từ cấp tiểu học đến đại học. Tuy nhiên, việc phổ cập tiếng Anh đến các vùng sâu, vùng xa vẫn còn gặp khó khăn do có sự chênh lệch về phát triển kinh tế xã hội giữa các tỉnh, thành trong cả nước.

Do đó, việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ, trong đó có nâng cao hiệu quả phổ cập tiếng Anh, từ đó nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ cho người học đáp ứng nhu cầu học tập, giao tiếp, tiếp cận tri thức, văn hóa, khoa học, công nghệ toàn cầu và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trên thị trường lao động trong nước và quốc tế. Xây dựng một thế hệ trẻ có khả năng ngoại ngữ tốt, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Thủ tướng Chính phủ, 2025b) là yêu cầu rất quan trọng.

VAI TRÒ TÍCH CỰC CỦA VIỆC PHỔ CẬP TIẾNG ANH Ở VIỆT NAM

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, trong những năm qua, công tác dạy và học tiếng Anh tại Việt Nam đã từng bước được đẩy mạnh và đạt được những kết quả tích cực. Tỉ lệ học sinh tiểu học lớp 1, 2 được làm quen với tiếng Anh đã tăng từ 43% năm 2020 lên 69% năm 2024; ở bậc mầm non, con số này cũng đạt 28,5%. Tỉ lệ học sinh sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế để tham gia xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học tăng đều qua các năm, trong đó tiếng Anh tăng 11-14%. Tỉ lệ giáo viên ngoại ngữ đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ đã tăng từ 66% năm 2018 lên 88% vào năm 2025, tức tăng thêm 22%. Đặc biệt, trên 99% học sinh được học tiếng Anh theo chương trình 10 năm của Chương trình giáo dục phổ thông 2018; riêng học sinh tiểu học từ lớp 3-5 đạt 100%. Năm 2024, tỉ lệ học sinh chọn môn tiếng Anh trong kỳ tuyển sinh đại học chiếm 41%, cao hơn bất kỳ môn học nào khác (Bảo Ngọc, Hà Giang, 2025). Việc nâng cao năng lực tiếng Anh mở ra nhiều cơ hội quan trọng trong các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục, lao động…, góp phần nâng cao năng lực, vị thế của đất nước.

Thứ nhất, sử dụng thành thạo tiếng Anh có tác động sâu sắc đến quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam. Khi có năng lực tiếng Anh, người lao động không chỉ giao tiếp tốt với người nước ngoài mà còn có điều kiện để tiếp cận các nền tri thức hiện đại trên thế giới, các chương trình đào tạo chuyên môn và các nền tảng khoa học - công nghệ tiên tiến. Đồng thời, người lao động còn có thể tham gia các dự án quốc tế, các buổi trao đổi học thuật với doanh nghiệp nước ngoài, từ đó góp phần hình thành đội ngũ nhân lực có trình độ, đáp ứng được yêu cầu cao trong công việc và tăng nâng cao năng suất lao động.

Thứ hai, phổ cập tiếng Anh có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng cơ hội việc làm cho người lao động trước bối cảnh thị trường lao động ngày càng mang tính toàn cầu. Việc trang bị năng lực tiếng Anh cho người lao động không chỉ giúp họ nâng cao tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn giúp họ có thể tiếp cận đến các vị trí cao hơn trong công việc, đặc biệt với các công ty nước ngoài, các doanh nghiệp quốc tế hay môi trường làm việc đa quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các nhà tuyển dụng đánh giá cao tiêu chí năng lực tiếng Anh với các ứng viên. Theo Nguyễn Thị Mai Sương (2023): khi lao động trẻ có thể sử dụng tốt tiếng Anh, họ có thể ứng tuyển vào các vị trí có mức lương cao và có cơ hội thăng tiến, từ đó cải thiện thu nhập và ổn định tài chính cá nhân. Điều này không chỉ giúp cải thiện nguồn thu, ổn định tài chính mà còn thúc đẩy năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.

Thứ ba, Tiếng Anh là cầu nối để giao lưu, giúp các nước hiểu biết lẫn nhau, góp phần thúc đẩy hợp tác văn hóa và củng cố quan hệ hữu nghị. Thông qua ngôn ngữ, quá trình hợp tác, trao đổi văn hóa, du lịch diễn ra thuận lợi hơn. Đồng thời góp phần thúc đẩy sự thấu hiểu nền văn hóa giữa các quốc gia, tiếp thu chọn lọc các tinh hoa văn hóa nhân loại. Việc sử dụng tiếng Anh trong hợp tác quốc tế giúp củng cố quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, mở rộng hợp tác và nâng cao hình ảnh, vị thế Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Thứ tư, trong môi trường giáo dục và khoa học, phổ cập tiếng Anh giúp phát triển tư duy, năng lực học tập và nghiên cứu, từ đó tạo tiền đề để tiếp cận gần hơn với các công trình đào tạo và nghiên cứu tri thức tiên tiến trên thế giới. Do đó, Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến 2045” (Thủ tướng Chính phủ, 2025a) đã nhấn mạnh: đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế; đảm bảo ngôn ngữ tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Cách tiếp cận này đã thể hiện được sự hài hòa giữa tiếp thu nền văn minh, tri thức tiên tiến nhưng vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

THÁCH THỨC CỦA VIỆC PHỔ CẬP TIẾNG ANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Theo nhận định của Nguyễn Huyền Trang (2025), ở Việt Nam, năng lực tiếng Anh trung bình của học sinh, sinh viên và cả lực lượng lao động vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là khi so sánh với các nước trong khu vực. Cụ thể, việc phổ cập tiếng Anh ở Việt Nam hiện vẫn đứng trước nhiều thách thức:

Một là, tâm lý sợ nói tiếng Anh là rào cản phổ biến nhất. Dù đa số người học đều có nền tảng tốt về ngữ pháp, các kỹ năng làm bài như đọc và viết, song do thiếu môi trường thực hành các kỹ năng nghe và nói nên nhiều người học nảy sinh tâm lý sợ hãi khi phải thực hành 2 kỹ năng này, sợ mắc lỗi khi phát âm, sợ sai và dần dần là thiếu tự tin trong giao tiếp. Điều này về lâu dài nếu không có những phương án giải quyết cụ thể sẽ làm hạn chế khả năng sử dụng ngoại ngữ trong cuộc sống và ảnh hưởng đến hiệu quả phổ cập tiếng Anh trong nước.

Hai là, môi trường tiếp xúc chủ yếu là ngôn ngữ mẹ đẻ cùng việc thiếu đội ngũ giáo viên giảng dạy bằng tiếng Anh khiến người học ít được tiếp xúc với ngôn ngữ, thiếu cơ hội được rèn luyện và thực hành thường xuyên các kỹ năng nghe - nói. Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng nhiều đến các hoạt động tương tác khiến người học dẫu nắm vững lý thuyết ngữ pháp và từ vựng nhưng vẫn gặp khó khăn trong sử dụng tiếng Anh trong thực tiễn. Do đó, tiếng Anh tại Việt Nam chưa thực sự trở thành một công cụ phổ biến được áp dụng trong thực tiễn, làm giảm hiệu quả học tập và sử dụng tiếng Anh khi thực hành trong thực tế.

Ba là, việc tiếng Anh vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của thi cử. Các bài thi tiếng Anh tại Việt Nam đa số đề cao lý thuyết và ngữ pháp. Điều này mang lại lợi ích là người học có nền tảng ngữ pháp vững chắc nhưng lại hạn chế về khả năng nghe và giao tiếp trong các tình huống thực tế. Sự thiếu chú trọng 2 kỹ năng nghe - nói làm giảm sự chủ động tương tác và chủ động xử lý các tình huống tiếng Anh của người học trong học tập cũng như trong công việc và đời sống.

Bốn là, sự phát triển không đồng đều về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các tỉnh, thành đã tạo khoảng cách lớn trong việc phổ cập tiếng Anh. Tại các vùng sâu, vùng xa, điều kiện về cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, thiếu hụt giáo viên có trình độ chuyên môn tiếng Anh tốt và thiếu tài liệu học tập đã tạo khoảng cách tiếp cận và học tập tiếng Anh của các bạn học sinh. Khoảng cách này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục mà còn ảnh hưởng đến chất lượng học tập và phát triển của người học các vùng sâu, vùng xa (Nguyễn Huyền Trang, 2025).

Năm là, đẩy mạnh phát triển tiếng Anh trên phạm vi toàn quốc đặt ra vấn đề cho việc vừa phổ cập được một ngôn ngữ mới nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, song song với việc phổ cập tiếng Anh, vẫn cần quan tâm và đảm bảo giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, giữ vững được tiếng Việt. Việc cân bằng giữa hội nhập và bảo tồn không chỉ giúp tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới mà còn góp phần khẳng định bản sắc riêng, đảm bảo sự phát triển bền vững cả về văn hóa và ngôn ngữ của đất nước.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỔ CẬP TIẾNG ANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ nhất, để khắc phục tâm lo sợ khi nói tiếng Anh, cần xây dựng một môi trường học tập thân thiện, cởi mở và khuyến khích người học mạnh dạn, tự tin về khả năng nói của bản thân đồng thời chấp nhận những lỗi sai và cải thiện hàng ngày. Tạo điều kiện cho người học được tham gia các hoạt động thảo luận, giao tiếp nhóm nhỏ và cùng làm việc bằng tiếng Anh sẽ giúp họ bỏ qua sự tự ti, rèn luyện phản xạ về tự duy ngôn ngữ, cải thiện hơn về cách lắng nghe, cách phát âm cũng như sửa được các lỗi mắc phải trong giao tiếp.

Thứ hai, xây dựng môi trường học tập và sử dụng tiếng Anh thường xuyên tại các trường học, mở rộng không gian sử dụng tiếng Anh cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, giao tiếp hàng ngày để tiếng Anh trở thành một công cụ phục vụ thực tiễn thay vì là các kiến thức trong sách vở (Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Văn Sáng, 2025). Bên cạnh đó, cần chú trọng việc đào tạo đội ngũ giảng viên giảng dạy bằng tiếng Anh có trình độ chuyên môn cao và đáp ứng được các yêu cầu cao trong đổi mới giáo dục. Theo đó, cần bám sát những giải pháp đã được nêu tại Đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045” (Thủ tướng Chính phủ, 2025a), cụ thể như: tổ chức bồi dưỡng năng lực sử dụng ngoại ngữ, năng lực sư phạm dạy học ngoại ngữ, dạy học bằng ngoại ngữ cho giáo viên, giảng viên dạy ngoại ngữ, giáo viên, giảng viên dạy các môn khoa học và chuyên ngành, nghề bằng ngoại ngữ đảm bảo đáp ứng nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn nghề nghiệp, khung năng lực giáo viên ngoại ngữ. Ngoài ra, việc mời giảng viên nước ngoài về tham gia công tác giảng dạy tại các trường học cũng góp phần tạo môi trường tương tác ngôn ngữ một cách tự nhiên, nâng cao khả năng phản xạ về giao tiếp.Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy trong trường học là một trong những giải pháp quan trọng nhằm khắc phục tình trạng học tiếng Anh nặng về thi cử. Cụ thể, cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh, dạy học bằng tiếng Anh; tổ chức dạy học cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó chú trọng kỹ năng nghe và nói (Thủ tướng Chính phủ, 2025a). Thay vì tập trung nhiều vào lý thuyết ngữ pháp, các bài học cần có sự kết hợp cả bốn kỹ năng nhằm cung cấp đầy đủ các tri thức và kỹ năng cho học sinh. Bên cạnh đó, việc học tiếng Anh cần gắn với các tình huống thực tế trong đời sống, gắn với các yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai. Các phương pháp giảng dạy phù hợp, tích cực và năng động sẽ giúp người học tự tin, chủ động và hình thành được các kỹ năng một cách hiệu quả.

Thứ tư, để đảm bảo việc phổ cập tiếng Anh diễn ra thuận lợi, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ đến vùng sâu, vùng xa nhằm rút ngắn khoảng cách giữa vùng sâu, vùng xa với đồng bằng. Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên có chuyên môn cao tới các vùng sâu, vùng xa nhằm đáp ứng mục tiêu giảng dạy tiếng Anh cho học sinh nơi đây, theo định hướng phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách; giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu giáo viên, thiếu trường, thiếu lớp và thiết bị dạy học. Song song với đó là ứng dụng khoa học - công nghệ vào việc dạy học nhằm mở rộng cơ hội được tiếp cận đến tiếng Anh của học sinh vùng sâu, vùng xa (Báo điện tử Chính phủ, 2025).

Thứ năm, chú trọng bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nâng cao năng lực ngoại ngữ không đồng nghĩa việc coi nhẹ ngôn ngữ mẹ đẻ, thay vào đó là sử dụng như một công cụ để phục vụ quá trình hội nhập quốc tế hiện nay. Giáo dục tiếng Anh nhưng cần gắn với giáo dục nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Điều này giúp người học vừa có cơ hội rèn luyện một ngôn ngữ mới để tăng khả năng giao tiếp với bạn bè quốc tế, vừa có ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

KẾT LUẬN

Phổ cập tiếng Anh gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay là một yêu cầu tất yếu. Để đáp ứng yêu cầu này, Việt Nam cần có những chính sách điều chỉnh cách tiếp cận phát triển năng lực làm việc bằng tiếng Anh, định hướng mục tiêu giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, các tài liệu học thuật bằng tiếng Anh cần được cập nhật thường xuyên, đạt chuẩn theo khung năng lực quốc tế, khai thác sâu vào các lĩnh vực, ngành nghề cụ thể, chú trọng vào giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành, giúp người học có thể sử dụng một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy cũng cần chú trọng trong việc phát triển đồng bộ các kỹ năng, kết hợp việc dạy học tiếng Anh trong nhà trường với môi trường thực tế để rèn luyện 4 kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghe và nói. Song song với đó là nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, mở rộng tài liệu, giáo trình song ngữ và các tài liệu tiếng Anh liên quan nhằm đảm bảo người học có thể tiếp thu đa dạng các kiến thức không chỉ các kiến thức chuyên môn mà còn các tri thức toàn cầu… Việc thực hiện đồng bộ những giải pháp này sẽ giúp nâng cao, phát huy hiệu quả phổ cập tiếng Anh ở Việt Nam, góp phần vào sự phát triển bền vững và khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo điện tử Chính phủ (2025). Dự kiến đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/dua-tieng-anh-tro-thanh-ngon-ngu-thu-hai-trong-truong-hoc-119251017171225526.htm

2. Bảo Ngọc, Hà Giang (2025). Dạy - học tiếng Anh trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế: Cơ hội đột phá từ Nghị quyết số 71-NQ/TW. Tạp chí Giáo dục. https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/90225/211/day-hoc-tieng-anh-trong-boi-canh-tang-cuong-hoi-nhap-quoc-te-co-hoi-dot-pha-tu-nghi-quyet-so-71-nq-tw/

3. Minh Đức (2025). Không chỉ là ngôn ngữ: Tiếng Anh là hành trang hội nhập vững chắc. https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/khong-chi-la-ngon-ngu-tieng-anh-la-hanh-trang-hoi-nhep-vung-chec-835296

4. Nguyễn Huyền Trang (2025). Từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/cac-van-de/tung-buoc-dua-tieng-anh-tro-thanh-ngon-ngu-thu-hai-trong-truong-hoc-849173

5. Nguyễn Thanh Phong, TS. Nguyễn Văn Sáng (2025). Quốc tế hóa giáo dục đại học với việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong điều kiện đại học hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/18/quoc-te-hoa-giao-duc-dai-hoc-voi-viec-dua-tieng-anh-tro-thanh-ngon-ngu-thu-hai-trong-dieu-kien-tu-chu-dai-hoc-hien-nay/

6. Nguyễn Thị Mai Sương (2023). Đào tạo tiếng Anh góp phần đa dạng hoá nguồn thu nhập cho lao động trẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, Số 637, 86-88.

7. Thanh Xuân (2025). Phê duyệt Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. https://nhandan.vn/phe-duyet-de-an-dua-tieng-anh-thanh-ngon-ngu-thu-hai-trong-truong-hoc-post918968.html

8. Thủ tướng Chính phủ (2025a). Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 phê duyệt Đề án Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025- 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

9. Thủ tướng Chính phủ (2025b). Quyết định số 2732/QĐ-TTg ngày 16/12/2025 phê duyệt Đề án Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045.

Ngày nhận bài: 8/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 14/3/2026; Ngày duyệt đăng: 19/3/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.