Mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
ThS. Nguyễn Ngọc Thức
Trường Kinh tế Tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm xem xét mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Từ dữ liệu của 24 ngân hàng thương mại cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010-2024, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Từ khóa: Vốn chủ sở hữu, hiệu quả hoạt động ngân hàng, Việt Nam
Summary
This study examines the relationship between equity capital and the operational performance of joint-stock commercial banks in Viet Nam. Using panel data from 24 joint-stock commercial banks listed on the Vietnamese stock market over the period 2010-2024, the empirical results indicate a positive relationship between equity capital and banks’ performance.
Keywords: Equity capital, bank performance, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và sự cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên gay gắt, nên hiệu quả hoạt động ngân hàng là vấn đề rất được chú trọng và thu hút nhiều sự quan tâm. Theo Luật Các tổ chức tín dụng, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận (Quốc hội, 2024). Trong quá trình hoạt động, vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động các NHTM thường xuyên được đặt ra nhằm củng cố, nâng cao tiềm lực tài chính và an toàn trong hoạt động. Vốn chủ sở hữu ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình hoạt động và sự phát triển của ngân hàng, tạo niềm tin cho khách hàng, nhà đầu tư và sự ổn định tài chính. Vốn chủ sở hữu được xem là nguồn vốn mồi giúp mở rộng quy mô hoạt động, tạo điều kiện cho ngân hàng đầu tư phát triển mà không phải gánh nợ cao, giúp ngân hàng giảm phụ thuộc vào nợ vay và rủi ro phá sản. Đây cũng là "tấm đệm" giúp ngân hàng đối phó tốt hơn với những rủi ro bất ngờ, đồng thời đáp ứng các quy định an toàn vốn của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng có vốn chủ sở hữu cao được đánh giá ít rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu hút nhà đầu tư và dễ dàng tiếp cận vay vốn với lãi suất ưu đãi hơn từ các tổ chức tín dụng khác, tạo nền tảng vững chắc cho chiến lược mở rộng kinh doanh và tăng trưởng bền vững.
Trong những năm qua, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu ngân hàng đến hiệu quả hoạt động (khả năng sinh lời) của ngân hàng. Nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008), Almazari (2014), Idode và cộng sự (2014), Ongore và Kusa (2013), Trujillo‐Ponce (2013), Lotto (2018), Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2016), Lê Đồng Duy Trung (2020) cho rằng vốn chủ sở hữu ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu của John và Runkle (1993), Jigeer và Koroleva (2023), Al-HarishawiA và ZoghlamiB (2023) cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, nghiên cứu của Alper và Anbar (2011), Ayaydın và Karakaya (2014) lại không tìm thấy mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện để củng cố thêm bằng chứng về ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu ngân hàng đến hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần tại Việt Nam.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008) sử dụng mô hình GMM để kiểm tra tác động của các yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố ngành và yếu tố vĩ mô đến lợi nhuận ngân hàng Hy Lạp giai đoạn 1985-2001; cho thấy vốn ngân hàng (EA) có mối quan hệ tích cực với lợi nhuận (ROA). Nghiên cứu của Almazari (2014) sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng dựa trên dữ liệu của 23 ngân hàng Ả Rập Xê Út và Jordan trong giai đoạn 2005-2011, cho thấy có mối tương quan tích cực giữa ROA và vốn chủ sở hữu (TEA). Nghiên cứu của Idode và cộng sự (2014) xem xét ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết tại Nigeria với dữ liệu được thu thập từ các ngân hàng niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Nigeria (NSE) từ năm 2008-2012, kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ tích cực đáng kể giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời. Nghiên cứu của Ongore và Kusa (2013), Trujillo-Ponce (2013) chỉ ra rằng việc gia tăng vốn chủ sở hữu sẽ giúp các ngân hàng tăng tỷ lệ ROA. Lotto (2018) sử dụng dữ liệu ngân hàng Tanzania giai đoạn 2009-2015 nhằm nghiên cứu tác động của quy định về yêu cầu vốn đến hiệu quả hoạt động; kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2016) cho thấy vốn chủ sở hữu có tương quan thuận với ROA. Lê Đồng Duy Trung (2020) nghiên cứu các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam, qua đó kết luận rằng vốn chủ sở hữu có mối tương quan dương với ROA.
Nghiên cứu của John và Runkle (1993) phân tích dữ liệu từ các ngân hàng Mỹ nhằm kiểm tra các lý thuyết về mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và hiệu suất; kết quả thực nghiệm cho thấy bằng chứng hạn chế hỗ trợ các lý thuyết, nhưng có mối liên hệ tiêu cực giữa tỷ lệ vốn (capital ratio) và hiệu suất ROA, với lý do là vốn cao hơn làm tăng chi phí tài trợ và giảm lợi nhuận trên tài sản. Jigeer và Koroleva (2023) nghiên cứu các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM với dữ liệu của 16 NHTM tại Trung Quốc niêm yết từ 2008-2020; kết quả cho thấy mức độ an toàn vốn có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến lợi nhuận. Al-HarishawiA và ZoghlamiB (2023) nghiên cứu tác động của cơ cấu sở hữu đến khả năng sinh lời và sự đa dạng của sản phẩm ngân hàng tại các NHTM niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Iraq, đã chỉ ra rằng cơ cấu sở hữu vốn tác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng.
Nghiên cứu của Alper và Anbar (2011) phân tích các yếu tố đặc thù của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010, kết quả cho thấy không có mối quan hệ nào giữa vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời trên tài sản. Tương tự, Ayaydin và Karakaya sử dụng dữ liệu của 23 NHTM Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2003 đến 2011 để điều tra tác động của vốn ngân hàng đến lợi nhuận và rủi ro cũng không tìm thấy mối liên hệ.
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Từ các nghiên cứu thực nghiệm đề cập đến mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng và hiệu quả hoạt động ngân hàng, mô hình tác giả đề xuất trong nghiên cứu này như sau:
ROAit = β0 + β1CARit + β2LIQit + β3ASTit + β4AGEit + εit
Trong đó:
- Biến phụ thuộc (ROA): Hiệu quả hoạt động ngân hàng
- Biến độc lập (CAR): Vốn chủ sở hữu ngân hàng
- Các biến kiểm soát, gồm: Tính thanh khoản (LIQ); Tỷ trọng tài sản cố định (AST); Tuổi ngân hàng (AGE).
Biến phụ thuộc: Hiệu quả hoạt động ngân hàng được đo lường bởi các chỉ tiêu khác nhau như: lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), chỉ số Tobin’s Q và lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS). Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ tiêu ROA để đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đây là chỉ số quan trọng được ngân hàng và doanh nghiệp xem xét và đánh giá định kỳ, phản ánh khả năng quản lý tài sản và hiệu quả hoạt động và đã được rất nhiều học giả sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng, hiệu quả tài chính hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tính toán chỉ tiêu ROA cũng rất khác nhau trong các nghiên cứu, chẳng hạn: (1) lợi nhuận sau thuế (EAT) trên tổng tài sản; (2) lợi nhuận trước thuế (EBT) trên tổng tài sản và (3) lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên tổng tài sản. Trong các cách tính ROA, thì cách tính lợi nhuận sau thuế (EAT) trên tổng tài sản được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích cũng như trong nghiên cứu khoa học, do đó tác giả sử dụng cách đo lường này.
Biến độc lập: Vốn chủ sở hữu ngân hàng (CAR) là một chỉ tiêu tài chính quan trọng, phản ánh tổng giá trị tài sản còn lại thuộc quyền sở hữu của ngân hàng (cổ đông) sau khi trừ nợ phải trả và được ngân hàng sử dụng vào quá trình hoạt động kinh doanh để nâng cao hiệu quả, góp phần làm gia tăng giá trị ngân hàng. Để đo lường CAR, nhiều nghiên cứu lấy vốn chủ sở hữu chia tổng tài sản và tác giả cũng chọn cách đo lường này.
Biến kiểm soát: Biến kiểm soát được giữ cố định giúp làm rõ ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu ngân hàng (CAR) đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (ROA). Do đó, việc sử dụng biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu có thể cho hiệu quả tốt hơn đến kết quả đầu ra của nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, biến kiểm soát được sử dụng, gồm: Tính thanh khoản (LIQ), Tỷ trọng tài sản cố định (AST) và Tuổi ngân hàng (AGE).
Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
|
Tên biến |
Ký hiệu |
Cách đo lường |
|
Biến phụ thuộc |
|
|
|
Hiệu quả hoạt động ngân hàng |
ROA |
Lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản |
|
Biến độc lập |
|
|
|
Vốn chủ sở hữu ngân hàng |
CAR |
Vốn chủ sở hữu chia tổng tài sản |
|
Biến kiểm soát |
|
|
|
Tính thanh khoản |
LIQ |
Tiền và tương đương tiền chia cho tổng tài sản |
|
Tỷ trọng tài sản cố định |
AST |
Tài sản cố định chia cho tổng tài sản |
|
Tuổi ngân hàng |
AGE |
Năm nghiên cứu trừ năm thành lập |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng cân bằng, thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán và báo cáo thường niên của 24 NHTM cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010-2024. Sau khi thu thập và cập nhật dữ liệu vào phần mềm excel, tác giả thực hiện tính toán giá trị các biến trong mô hình nghiên cứu.
Phương pháp phân tích
Dữ liệu nghiên cứu ở dạng dữ liệu bảng nên có rất nhiều phương pháp để hồi quy cho mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu này sử dụng: phương pháp bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), phương pháp tác động cố định (FEM), phương pháp tác động ngẫu nhiên (REM) và phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS).
Để lựa chọn mô hình và phương pháp hồi quy tốt nhất cho nghiên cứu, tác giả thực hiện kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (VIF) để lựa chọn một mô hình hoàn chỉnh hơn; kiểm định F để chọn FEM hay Pooled OLS; kiểm định Breusch and Pagan Lagranian để chọn REM hay Pooled OLS; kiểm định Hausman để chọn FEM hay REM; kiểm định hiện tượng phương sai của sai số thay đổi; kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp FGLS để ước lượng khi có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi, hiện tượng tự tương quan phần dư hoặc xảy ra cả 2 trường hợp trong mô hình nghiên cứu. Hồi quy bằng phương pháp FGLS cũng được đề cập và ứng dụng để xử lý khi có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan phần dư trong mô hình nghiên cứu dữ liệu bảng (Panel data). Phương pháp FGLS được sử dụng phổ biến hơn phương pháp GLS khi xử lý hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan phần dư.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kiểm định giả thuyết mô hình nghiên cứu
Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến được thực hiện qua hệ số nhân tử phóng đại (VIF) cho kết quả VIF < 10. Do đó, hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu được đánh giá là không đáng kể.
Kiểm định Wald cho thấy mô hình nghiên cứu có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi với mức ý nghĩa 1%.
Kiểm định Wooldridge cho thấy mô hình nghiên cứu có hiện tượng tự tương quan phần dư với mức ý nghĩa 1%.
Bảng 2: Kết quả kiểm định
|
Kiểm định đa cộng tuyến |
Kiểm định phương sai |
Kiểm định tự tương quan |
||
|
Biến |
VIF |
1/VIF |
Wald test |
Wooldridge test |
|
CAR |
1,36 |
0,737666 |
Chi2 (24) = 827,25 |
F(1, 23) = 42,249 |
|
LIQ |
1,00 |
0,997609 |
||
|
AST |
1,32 |
0,754895 |
||
|
AGE |
1,03 |
0,969506 |
||
|
Giá trị trung bình = 1,18 |
Prob > chi2 = 0,0000*** |
Prob > F = 0,0000*** |
||
Ghi chú: *** có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Nguồn: Tác giả thực hiện và trích xuất từ kết quả phần mềm Stata 17
Kết quả hồi quy và thảo luận
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, gồm: Pooled OLS, FEM và REM. Kết quả phân tích cho thấy, hồi quy bởi phương pháp FEM phù hợp hơn do kiểm định F (23,332) = 4,63 với Prob > F = 0,0000 có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% và kiểm định Hausman chi2(4) = 17,79 với Prob > chi2 = 0,0014 có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan phần dư, nên tác giả sử dụng phương pháp FGLS để ước lượng mô hình nghiên cứu.
Bảng 3: Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu bằng phương pháp FGLS
|
Tên biến |
Ký hiệu |
Hệ số hồi quy |
Giá trị xác suất |
|
Vốn chủ sở hữu |
CAR |
0,0935346*** |
0,000 |
|
Tính thanh khoản |
LIQ |
-0,000442 |
0,891 |
|
Tỷ trọng tài sản cố định |
AST |
-0,2024004*** |
0,000 |
|
Tuổi ngân hàng |
AGE |
0,0000204 |
0,377 |
Ghi chú: *** có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Nguồn: Tác giả thực hiện và trích xuất từ kết quả phần mềm Stata 17
Kết quả hồi quy ở Bảng 3 cho thấy hệ số hồi quy của biến CAR mang giá trị dương và có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Do đó, kết quả này là cơ sở góp phần đi đến khẳng định rằng tồn tại mối quan hệ tích cực giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng và hiệu quả hoạt động NHTM cổ phần. Kết quả này cho thấy, khi vốn chủ sở hữu ngân hàng (tỷ lệ vốn chủ sở hữu) tăng lên sẽ làm gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết quả này nhất quán với kết quả nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008), Almazari (2014), Idode và cộng sự (2014), Ongore và Kusa (2013), Trujillo‐Ponce (2013), Lotto (2018), Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2016), Lê Đồng Duy Trung (2020) cho rằng vốn chủ sở hữu ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để ước lượng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ tích cực giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng (CAR) và hiệu quả hoạt động NHTM cổ phần tại Việt Nam (ROA). Nghĩa là, khi ngân hàng có vốn chủ sở hữu (tỷ lệ vốn chủ sở hữu) lớn sẽ thúc đẩy ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn và làm gia tăng hiệu quả hoạt động cho ngân hàng. NHTM cổ phần có vốn chủ sở hữu (tỷ lệ vốn chủ sở hữu) lớn thể hiện sức khoẻ tài chính, năng lực tự chủ và an toàn cho hoạt động làm cho tâm lý khách hàng tin tưởng hơn vì có tính an toàn cao, sẽ có lợi thế hơn so với các ngân hàng có vốn chủ sở hữu (tỷ lệ vốn chủ sở hữu) thấp. Vì vậy, xu hướng phần lớn khách hàng sẽ đến giao dịch với các ngân hàng có vốn chủ sở hữu (tỷ lệ vốn chủ sở hữu) lớn và điều này sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, trong quá trình hoạt động và phát triển, ngân hàng nên tăng vốn chủ sở hữu (tỷ lệ vốn chủ sở hữu) phù hợp với nguồn lực và năng lực để đáp ứng nhu cầu xã hội và mục tiêu lợi nhuận.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm này là cơ sở góp phần giúp các cơ quan quản lý, ngân hàng, doanh nghiệp, nhà đầu tư và nhà nghiên cứu nhận định rõ hơn về mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng và hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Tài liệu tham khảo:
1. Al-HarishawiA, Z. H. K. & ZoghlamiB. F. (2023). The impact of ownership structure on bank profitability and the diversity of products: New evidence from iraqi banks. International journal of professional Business review, 8(5), 1-17.
2. Almazari, A., A. (2014). Impact of Internal Factors on Bank Profitability: Comparative Study between Saudi Arabia and Jordan. Journal of Applied Finance & Banking, 4(1), 125-140.
3. Alper, D. & Anbar, A. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: empirical evidence from Turkey. Business and Economics Research Journal, 2(2), 139-152.
4. Athanasoglou, P. P., Brissmis, S. N., & Delis, M., D. (2008). Bank-specific, industry-specific and macroeconomic determinants of bank profitability. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, vol. 18(2), 121-136.
5. Ayaydin, H. & Karakaya, A. (2014). The effect of bank capital on profitability and risk in Turkish banking. International Journal of Business and Social Science, 5(1), 252-271.
6. Idode, P. E., Adeleke, T. M., Ogunlowore, A. J., & Ashogbon, O., S. (2014). Influence of capital structure on profitability: Empirical Evidence from listed Nigerian banks. IOSR Journal of Business and Management, 16(11), 22-28.
7. Jigeer, S., & Koroleva, E. (2023). The Determinants of Profitability in the City Commercial Banks: Case of China. Risks, 11(3), 53.
8. John, H. B. & Runkle, D., E. (1993). Size and Performance of Banking Firms: Testing the Predictions of Theory. Journal of Monetary Economics, 31(1), 47-67.
9. Lê Đồng Duy Trung (2020), Các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của NHTM tại Việt Nam: Tiếp cận theo mô hình thực nghiệm động. Tạp chí Ngân hàng, 12, 20-25.
10. Lotto, J. (2018). The Empirical Analysis of the Impact of Bank Capital Regulations on Operating Efficiency. International Journal of Financial Studies, 6(2), 34.
11. Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2016). Tác động của vốn ngân hàng đến khả năng sinh lời và rủi ro tín dụng: Trường hợp các NHTM Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 27(3), 25-44.
12. Ongore V. O., & Kusa G., B. (2013). Determinants of financial performance of commercial banks in Kenya. International Journal of Economics and Financial, 3(1), 237-252.
13. Quốc hội (2024). Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/1/2024.
14. Trujillo‐Ponce, A. (2013). What determines the profitability of banks? Evidence from Spain. Accounting and Finance, 53(2), 561-586.
| Ngày nhận bài: 16/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/1/2026; Ngày duyệt đăng: 20/1/2026 |
Các tin khác
Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã
Tín dụng bất động sản Việt Nam: Thực trạng và những vẫn đề đặt ra
Phân tích FINBERT về sự lan truyền tâm lý chung và tâm lý thị trường cụ thể đến thị trường chứng khoán cận biên Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng
Nâng cao dịch vụ sau bán hàng trong logistics Việt Nam: Tiếp cận từ hiệu quả tài chính và trung thành khách hàng
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò trung gian của năng lực số nhân viên
Vai trò của hệ sinh thái ngân hàng trong thúc đẩy tiếp cận dịch vụ tài chính số