Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp ở Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:13 | 14/08/2026
Trong những năm qua, khởi nghiệp đã trở thành một trong những chủ đề nhận được sự quan tâm đặc biệt tại Việt Nam, không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ các tổ chức giáo dục, doanh nghiệp và cộng đồng nghiên cứu.

ThS. NCS. Lê Tuấn Anh

Email: [email protected]

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

PGS, TS. Thái Thị Kim Oanh

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Vinh

Tóm tắt

Nghiên cứu tập trung tổng hợp và phân tích liên quan đến khởi nghiệp và hệ sinh thái hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại Việt Nam. Trên cơ sở nhiều công trình trong và ngoài nước, Việt Nam đã hình thành được nền tảng chính sách và hệ sinh thái khởi nghiệp nhất định, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế như thiếu tính liên kết, hiệu quả triển khai chưa đồng đều và các nghiên cứu còn mang tính phân tán, chưa có mô hình tích hợp toàn diện. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tương lai cần tập trung vào mô hình đa tầng, nghiên cứu định lượng sâu hơn và đánh giá mối quan hệ giữa chính sách, hệ sinh thái và kết quả khởi nghiệp trong thực tiễn Việt Nam.

Từ khoá: Thanh niên khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, Việt Nam.

Abstract

This study synthesizes and analyzes the literature on youth entrepreneurship and the entrepreneurial support ecosystem in Viet Nam. Drawing on domestic and international studies, the findings indicate that Viet Nam has established a foundation of entrepreneurship policies and a developing support ecosystem. However, several limitations remain, including weak linkages among ecosystem actors, uneven implementation effectiveness, and fragmented research without a comprehensive integrated framework. Accordingly, the authors propose that future research should focus on multi-level models, more in-depth quantitative analysis, and the relationships among policies, the entrepreneurial ecosystem, and entrepreneurial outcomes in the Vietnamese context.

Keywords: Youth entrepreneurship, innovation, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, khởi nghiệp đã trở thành một trong những chủ đề nhận được sự quan tâm đặc biệt tại Việt Nam, không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ các tổ chức giáo dục, doanh nghiệp và cộng đồng nghiên cứu. Sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái khởi nghiệp kéo theo nhu cầu xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ ngày càng đa dạng, nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp vẫn còn phân tán, thiếu tính đồng bộ và hiệu quả chưa đồng đều giữa các địa phương, lĩnh vực và nhóm đối tượng. Song song với đó, các công trình nghiên cứu về hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam ngày càng gia tăng nhưng chưa được hệ thống hóa một cách đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong việc nhận diện xu hướng nghiên cứu, khoảng trống học thuật cũng như hàm ý chính sách.

Xuất phát từ thực tiễn đó, việc thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam” là cần thiết nhằm tổng hợp, phân tích các kết quả nghiên cứu hiện có, làm rõ các hướng tiếp cận sát với yêu cầu thực tiễn, đồng thời chỉ ra những hạn chế và gợi mở các hướng nghiên cứu trong tương lai.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Về các nhân tố ảnh hưởng tới khởi nghiệp

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) xác định 4 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp gồm: thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, chuẩn chủ quan và giáo dục. Trong đó, thái độ và sự đam mê là yếu tố có tác động mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục khởi nghiệp trong việc hình thành động lực khởi nghiệp của sinh viên.

Nguyễn Anh Tuấn (2018) phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân, xã hội và môi trường với dự định khởi nghiệp. Kết quả chỉ ra rằng, khát vọng thành công, thái độ tích cực với khởi nghiệp, nhận thức kiểm soát hành vi, tính sáng tạo, thái độ với tiền bạc và trải nghiệm khởi nghiệp thực tiễn là các yếu tố then chốt thúc đẩy dự định khởi nghiệp. Nghiên cứu này còn cho thấy, giáo dục khởi nghiệp và môi trường kinh doanh thuận lợi đóng vai trò điều tiết, làm gia tăng ảnh hưởng tích cực của các yếu tố cá nhân.

Nguyễn Đình Toàn và Phạm Thị Huyền (2021) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam. Kết quả cho thấy, 3 yếu tố chính gồm: sự tự tin vào năng lực bản thân, nhu cầu thành tích và sự sẵn sàng của nguồn lực đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Trong đó, sự tự tin vào năng lực bản thân có tác động mạnh nhất. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt theo giới tính và khối ngành học, khi sinh viên nam và sinh viên khối ngành kinh tế có xu hướng khởi nghiệp cao hơn.

Vũ Gia Quỳnh Ngân và Nguyễn Thị Bưởi (2024) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Kết quả cho thấy, 6 yếu tố tác động theo thứ tự giảm dần gồm: đặc điểm tính cách cá nhân, thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, giáo dục khởi nghiệp, hệ sinh thái khởi nghiệp, nguồn vốn kinh doanh và hỗ trợ khởi nghiệp.

Nguyễn Trọng Tuyến và cộng sự (2026) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong các trường đại học công lập tại Việt Nam. Kế thừa lý thuyết hành vi khởi nghiệp, lý thuyết thể chế và lý thuyết nguồn lực, Kết quả cho thấy, 6 nhóm nhân tố có tác động tích cực, gồm: môi trường kinh tế, môi trường chính sách, nền tảng khoa học - công nghệ của trường đại học, nguồn lực của trường đại học, tinh thần kinh doanh của nhà khoa học và quyết tâm của lãnh đạo.

Nguyễn Thị Thanh Thùy (2026) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên học các chương trình quốc tế tại khu vực TP. Hồ Chí Minh. Kết quả xác định 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nhóm sinh viên này: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, môi trường giáo dục và động lực cá nhân.

Các nghiên cứu cho thấy, dự định khởi nghiệp của thanh niên chịu tác động đồng thời bởi động lực cá nhân, giáo dục và kỹ năng, môi trường kinh doanh, cũng như hệ thống hỗ trợ xã hội và mạng lưới kết nối doanh nghiệp. Nhìn chung, thanh niên có tiềm năng khởi nghiệp cao nhưng vẫn cần hỗ trợ thực chất về năng lực quản trị, tiếp cận vốn, tiếp cận công nghệ và môi trường pháp lý thuận lợi.

Về các cơ chế, chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp

Báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2021) đánh giá toàn diện các chính sách đới với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) và khởi nghiệp tại Việt Nam, nhận định rằng, mặc dù hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, các chương trình hỗ trợ hiện nay còn hạn chế về ngân sách, quy mô và mức độ sử dụng, đặc biệt là các quỹ như SMEDF (Quỹ phát triển SMEs) và CGF (Quỹ bảo lãnh tín dụng). Đồng thời nhấn mạnh rằng, các chính sách cần hướng tới tăng cường kết nối hệ sinh thái, bao gồm nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - nhà khoa học, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho thanh niên khởi nghiệp bền vững.

Nguyễn Chu Dũng (2024) nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đối với thanh niên Việt Nam, tập trung vào việc phân tích hệ thống chính sách của Nhà nước và hiệu quả triển khai trong thực tiễn. Kết quả cho thấy, hệ thống chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ và bao phủ nhiều lĩnh vực như đào tạo, vốn vay, tư vấn và hỗ trợ pháp lý. Tuy nhiên, việc thực thi còn tồn tại hạn chế như thiếu đồng bộ giữa các cấp quản lý, nguồn lực phân bổ chưa hiệu quả và mức độ tiếp cận chính sách của thanh niên còn thấp. Nghiên cứu nhấn mạnh cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực thực thi chính sách ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên.

Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Thủ tướng Chính phủ, 2026) thiết lập hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, triển khai thông qua các dự án nghiên cứu khoa học, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp và đào tạo kỹ năng khởi nghiệp. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Quốc hội (2017) cùng Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Chính phủ, 2018a, 2018b), cung cấp khung pháp lý chi tiết về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, bao gồm tiêu chí xác định, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung và cơ chế hỗ trợ tài chính, bảo lãnh tín dụng, ưu đãi thuế cho SMEs khởi nghiệp sáng tạo.

Báo cáo tổng kết triển khai Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” theo Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 cho thấy, sau 7 năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu bổ sung quy định về hệ sinh thái khởi nghiệp trong Luật Giáo dục đại học, ban hành hướng dẫn triển khai, xây dựng chuyên đề khởi nghiệp đưa vào chương trình đào tạo, thành lập các trung tâm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp và phối hợp với doanh nghiệp tổ chức đào tạo thực tiễn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025).

Nhìn chung, Nhà nước, các cấp, các ngành rất quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp và đã ban hành nhiều chính sách để hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, trong đó có đối tượng thanh niên, học sinh, sinh viên. Các tổ chức, doanh nghiệp, nhà trường đã có sự kết nối để triển khai các cơ chế hỗ trợ tối đa cho thanh niên khởi nghiệp. Qua các nghiên cứu, các cơ chế, chính sách cho thấy, sự phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp đã tạo nền tảng pháp lý, tài chính và kỹ thuật cho thanh niên, nhưng vẫn cần tăng cường hiệu quả triển khai, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ đổi mới sáng tạo thực chất hơn tại Việt Nam.

Về hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp

Nguyễn Thị Thu Hà và Vũ Thị Thu Huyền (2021) nghiên cứu hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam thông qua phân tích mối liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái như cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp khởi nghiệp. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp một cách tương đối với hơn 3.000 startup, khoảng 40 quỹ đầu tư mạo hiểm và nhiều không gian hỗ trợ khởi nghiệp. Tuy nhiên, hệ sinh thái vẫn tồn tại hạn chế lớn về mức độ liên kết giữa các chủ thể, dẫn đến hiệu quả khai thác nguồn lực chưa cao và khoảng cách lớn giữa ý tưởng và thương mại hóa sản phẩm. Nghiên cứu khẳng định cần xây dựng mạng lưới kết nối hiệu quả hơn giữa các thành phần trong hệ sinh thái để thúc đẩy đổi mới sáng tạo bền vững.

Hoàng Thanh Tùng và cộng sự (2023) tiến hành nghiên cứu tổng quan về khởi nghiệp của thanh niên Việt Nam. Trong đó, thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp được phân tích như một cấu phần quan trọng của môi trường hỗ trợ khởi nghiệp, bao gồm các thành tố chính như Nhà nước, cơ sở giáo dục - đào tạo, nhà đầu tư, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ trung gian. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam đã bước đầu hình thành và phát triển với sự tham gia ngày càng rõ nét của các chủ thể trong nền kinh tế. Việt Nam có sự gia tăng mạnh về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp và sự hỗ trợ từ các tổ chức như vườn ươm, quỹ đầu tư mạo hiểm và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, hệ sinh thái vẫn được đánh giá là chưa phát triển đồng bộ và còn mang tính phân mảnh, trong đó sự liên kết giữa các thành tố còn lỏng lẻo, đặc biệt là giữa khu vực trường đại học - doanh nghiệp - nhà đầu tư - cơ quan quản lý nhà nước.

Nguyễn Hữu Hiếu (2023) nghiên cứu về phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam theo cách tiếp cận kinh tế phát triển. Nghiên cứu xác định các thành phần chính của hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp bao gồm: hỗ trợ pháp lý, giáo dục - đào tạo, tài chính, hạ tầng khoa học công nghệ và hỗ trợ tinh thần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện, tuy nhiên hiệu quả hoạt động còn hạn chế do thiếu tính liên kết và đồng bộ giữa các thành phần. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hệ thống hỗ trợ có tác động tích cực đến cơ hội khởi nghiệp, nhưng mức độ tác động chưa mạnh và chưa ổn định. Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Hồng Thu (2023) về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp đã có những bước phát triển đáng kể nhờ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu sự liên kết giữa các thành phần, hiệu quả hoạt động chưa cao và chưa bền vững. Các khó khăn chủ yếu nằm ở thể chế, tài chính, nguồn nhân lực và môi trường hỗ trợ. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của chính sách công trong việc thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Nguyễn Anh Hoàn (2025) nghiên cứu cơ chế tài chính hỗ trợ khởi nghiệp sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam, tập trung vào mô hình quỹ đầu tư khởi nghiệp trong trường đại học (SMVFs). Kết quả cho thấy, các mô hình quỹ trong trường đại học không chỉ cung cấp nguồn vốn ban đầu mà còn đóng vai trò đào tạo kỹ năng quản trị dự án, đánh giá cơ hội đầu tư và phát triển mạng lưới khởi nghiệp cho sinh viên. Tuy nhiên, các hoạt động quỹ còn mang tính thử nghiệm, thiếu cơ chế pháp lý rõ ràng và chưa có sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp và nhà đầu tư chuyên nghiệp. Nghiên cứu khẳng định vai trò trung tâm của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp và đề xuất cần hoàn thiện cơ chế tài chính để thúc đẩy thương mại hóa ý tưởng sáng tạo của sinh viên.

KẾT LUẬN

Kết quả cho thấy, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu xoay quanh 4 nhóm chính: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của cá nhân như thái độ, động lực, giáo dục và năng lực bản thân; Các cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp từ phía Nhà nước và các tổ chức; Hệ sinh thái khởi nghiệp với các thành tố như tài chính, thể chế, giáo dục và mạng lưới hỗ trợ; và các nghiên cứu về hệ thống hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tổng thể. Mặc dù vậy, các nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số khoảng trống quan trọng:

Thứ nhất, các nghiên cứu thường tiếp cận riêng lẻ từng nhóm yếu tố mà chưa xây dựng được mô hình tích hợp toàn diện phản ánh sự tương tác giữa các cấp độ.

Thứ hai, mối quan hệ giữa chính sách hỗ trợ và kết quả khởi nghiệp thực tế chưa được lượng hóa đầy đủ và nhất quán trong các nghiên cứu thực nghiệm.

Thứ ba, các nghiên cứu về hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam còn mang tính mô tả, thiếu các phân tích định lượng sâu về mức độ tác động của từng thành phần.

Thứ tư, sự chuyển đổi từ ý định khởi nghiệp sang hành vi khởi nghiệp thực tế vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong bối cảnh các nước đang phát triển như Việt Nam.

Do đó, các nghiên cứu tương lai cần tập trung vào việc xây dựng các mô hình nghiên cứu tích hợp, kết hợp đồng bộ, đồng thời các yếu tố cá nhân, giáo dục, môi trường và chính sách với nhau. Đồng thời, cần tăng cường các nghiên cứu định lượng và nghiên cứu đa cấp độ nhằm đánh giá chính xác hơn tác động của từng yếu tố đối với ý định và hành vi khởi nghiệp. Việc tiếp cận theo hướng hệ sinh thái không chỉ giúp nâng cao tính toàn diện của nghiên cứu mà còn cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp trong thực tiễn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Báo cáo tổng kết Đề án hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025.

2. Chính phủ (2018a). Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 về việc quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

3. Chính phủ (2018b). Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

4. Hoàng Thanh Tùng, Trần Hoàng Anh, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Ngọc Thuý Ngân (2023). Starting a Business of Vietnamese Young People: Opportunities and Challenges. IRJEMS - International Research Journal of Economics and Management Studies, 2(4), 35 - 43.

5. Nguyễn Anh Hoàn (2025), Chính sách phát triển quỹ đầu tư khởi nghiệp sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội, số 65, 69-75.

6. Nguyễn Anh Tuấn (2018). Các nhân tố tác động tới dự định khởi nghiệp của thanh niên ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 42, 55-74.

7. Nguyễn Chu Dũng (2024). Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đối với thanh niên, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 338, 47-52.

8. Nguyễn Đình Toàn, Phạm Thị Huyền (2021). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: so sánh sự khác biệt giới tính và khối ngành. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 292, 89-97.

9. Nguyễn Hồng Thu (2023). Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 191, 61-70.

10. Nguyễn Hữu Hiếu (2023). Phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Kinh tế - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương.

11. Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các trường đại học, cao đẳng ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 10, 55-64.

12. Nguyễn Thị Thanh Thùy (2026). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên học các chương trình quốc tế tại khu vực TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, số 25.

13. Nguyễn Thị Thu Hà và Vũ Thị Thu Huyền (2021). Nghiên cứu mô hình hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới. Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Ngoại thương.

14. Nguyễn Trọng Tuyến, Đỗ Thị Hằng và Đỗ Hữu Hải (2026). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong các trường đại học công lập tại Việt Nam. https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/cac-nhan-to-anh-huong-den-y-dinh-thanh-lap-doanh-nghiep-khoi-nghiep-trong-cac-truong-dai-hoc-cong-lap-tai-viet-nam-145222.html

15. OECD (2021). SME and Entrepreneurship Policy in Viet Nam. https://doi.org/10.1787/30c79519-en .

16. Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số 04/2017/QH14, ngày 12/6/2017.

17. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.

18. Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.

19. Vũ Gia Quỳnh Ngân và Nguyễn Thị Bưởi (2024), Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Tạp chí Khoa học & Công nghệ - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 7(2), 69-76.

Ngày nhận bài: 20/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/7/2026; Ngày duyệt đăng: 10/8/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại Nhà hàng Miwaku Premium Landmark 81

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao của phân khúc ẩm thực cao cấp, chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Lao động xuyên biên giới tại Đồng Tháp: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Có thể hiểu lao động xuyên biên giới là sự di chuyển của người lao động qua đường biên giới quốc gia để thực hiện hoạt động lao động tại quốc gia bên kia, trong thời gian ngắn hạn hoặc theo một thỏa thuận lao động nhất định, nhằm tạo ra thu nhập hoặc các giá trị kinh tế.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán tại TP. Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư cá nhân ngày càng dễ dàng tiếp cận thông tin, tham gia giao dịch và tác động đáng kể đến thanh khoản cũng như sự vận động của thị trường.
Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Hiểu biết số và hiệu suất công việc của nhân viên marketing: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường marketing số, hiểu biết số ngày càng trở thành năng lực quan trọng quyết định khả năng khai thác dữ liệu, nội dung và nền tảng công nghệ của nhân viên.
Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tác động của nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong các ngân hàng thương mại cổ phần, nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Tác động của tiền gửi không kỳ hạn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam: Vai trò điều tiết của tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Khả năng sinh lời là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng danh mục cho vay.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao tại một số quốc gia Đông Nam Á

Thu hút FDI tại Đông Nam Á đang chuyển từ chú trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa công nghệ. Nghiên cứu tiếp cận FDI theo cơ cấu ngành để làm rõ vai trò của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, vốn nhân lực và năng lượng tái tạo đối với khả năng thu hút FDI chất lượng cao trong khu vực.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp, năng lực tự thân và tư duy trong quyết định khởi nghiệp

Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài chỉ có thể biến thành quyết định khởi nghiệp thực tế khi chúng được chuyển hóa thành niềm tin vào năng lực cá nhân và tư duy khởi nghiệp.