Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Thực trạng và giải pháp trong kỷ nguyên mới

Tài chính - Ngân hàng 08:26 | 24/09/2026 Nguyễn Phi Long
Trong cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính xu hướng mà đã trở thành yếu tố sống còn, quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành.

Nguyễn Phi Long

Tổng Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp Vạn Xuân (VAXUCO)/BQP

Emai: [email protected]

Tóm tắt

Trong tiến trình chuyển đổi số, bên cạnh những kết quả và thành tựu nổi bật đã đạt được, ngành Ngân hàng cũng đứng trước nhiều thách thức mới. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng chuyển đổi số tại hệ thống ngân hàng Việt Nam những năm gần đây, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số ngành ngân hàng, trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: Chuyển đổi số, ngành Ngân hàng, kinh tế số

Abstract

In the process of digital transformation, the banking sector faces new challenges alongside the notable results and achievements it has attained. Based on an analysis and assessment of the current state of digital transformation in the Vietnamese banking system in recent years, this article proposes several solutions to accelerate digital transformation in the banking sector in the digital era.

Keywords: Digital transformation, banking sector, digital economy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính xu hướng mà đã trở thành yếu tố sống còn, quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành. Với sự định hướng sát sao của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông qua các chiến lược quốc gia và ngành, hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đã đạt được những bước tiến đột phá, từ việc hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cấp hạ tầng dữ liệu đến việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và mở rộng hệ sinh thái số. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình này vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế, thách thức cần có những giải pháp khắc phục, tháo gỡ điểm nghẽn, qua đó thúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, hiệu quả và toàn diện.

THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Về thể chế

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ xác định tài chính - ngân hàng là một trong 8 lĩnh vực ưu tiên. Tiếp đó, Chiến lược phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025 và 30% vào năm 2030, nhấn mạnh vai trò của hạ tầng thanh toán và dịch vụ tài chính số trong tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế.

Ngày 3/11/2025, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 3579/QĐ-NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030. Chiến lược đặt ra mục tiêu đến năm 2030 là hình thành một hệ thống ngân hàng số an toàn, thông minh, đa kênh và hoạt động theo thời gian thực; qua đó nâng cao hiệu quả vận hành, năng lực cạnh tranh và chất lượng phục vụ của toàn ngành.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là bước đi tiên phong, tạo nền móng pháp lý cho các mô hình kinh doanh số và giải pháp công nghệ tài chính (Fintech) phát triển minh bạch. Đồng thời, trong năm 2025, NHNN đã ban hành gần 64 thông tư, tháo gỡ kịp thời các “điểm nghẽn”, cho phép ứng dụng định danh số, dữ liệu điện tử và lý lịch tư pháp qua ứng dụng Định danh điện tử Quốc gia (VNeID) vào hoạt động nghiệp vụ, giúp hiện đại hóa quy trình và giảm thiểu chi phí cho xã hội. NHNN đã phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định quy định về dịch vụ Mobile-Money/Tiền di động trình Chính phủ theo trình tự, thủ tục quy định (Hà Anh, 2026).

Những kết quả đạt được

Đến nay, chuyển đổi số trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt bước tiến rõ rệt trên các phương diện sau:

Về công nghệ: Với việc hàng loạt công nghệ hiện đại như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), sinh trắc học, tự động hóa quy trình bằng robot (RPA)… được nghiên cứu, ứng dụng, ngành ngân hàng đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số, ngân hàng thông minh và tài chính mở. Cục Công nghệ thông tin - NHNN cho biết, đến ngày 19/6/2026, Cục đã có dữ liệu từ 29/31 ngân hàng thương mại cổ phần; gần 95% đơn vị đã ứng dụng các công nghệ mới, trong đó nhiều ngân hàng đã triển khai AI, Big Data, tự động hóa quy trình và Blockchain trong hoạt động quản trị, vận hành. Hiện nay, một số ngân hàng đạt tỷ lệ giao dịch số trên 95% hoặc gần 100%; 100% hồ sơ công việc xử lý điện tử. Các sản phẩm, dịch vụ thanh toán tiện ích được số hóa hoàn toàn 100% (Hồng Sơn, 2026).

Về dữ liệu: Thực hiện Đề án 06, ngành Ngân hàng xác định dữ liệu dân cư là “nguồn tài nguyên vàng” để làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu ngành. Tính đến nay, toàn ngành Ngân hàng đã có hơn 167,8 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân, hơn 2,78 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có tài khoản thanh toán đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chip hoặc qua ứng dụng VNeID. NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhất nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025 sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (NHNN, 2026).

Về an ninh: Công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng, phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO). Số liệu thống kê từ NHNN cho thấy, đến ngày 26/8/2026, đã có trên 5,1 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo qua Hệ thống SIMO, trong đó có gần 1,7 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch là trên 5,7 nghìn tỷ đồng (Thu Thủy, 2026).​

Hạ tầng thanh toán: Theo NHNN, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng vận hành thông suốt, an toàn. Mạng lưới thanh toán số cũng không ngừng được mở rộng. Đến nay, toàn thị trường có gần 21 nghìn ATM và gần 800 nghìn máy POS; mạng lưới điểm chấp nhận thanh toán (POS/QR Code) đã bao phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. Đến hết năm 2025, có hơn 88,9% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng (Anh Tuấn, 2026).

Đặc biệt, hạ tầng thanh toán do ngành Ngân hàng xây dựng đang tạo nền tảng cho các hoạt động du lịch, thương mại và giao dịch xuyên biên giới; xóa bỏ những rào cản địa lý và phương thức giao dịch truyền thống, mở ra kỷ nguyên “giao thương không khoảng cách”.

Về sản phẩm, dịch vụ: Hệ sinh thái thanh toán số với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch, xuyên suốt với các ngành, lĩnh vực khác, đem lại giá trị thiết thực đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nếu như trước đây, các giao dịch tài chính chủ yếu thực hiện trực tiếp tại quầy, thì nay, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, người dân có thể mở tài khoản trực tuyến bằng quy trình định danh khách hàng điện tử (eKYC), chuyển tiền tức thời 24/7, thanh toán mã QR, gửi tiết kiệm online, vay vốn số hay sử dụng nhiều dịch vụ tài chính hiện đại khác.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục duy trì mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm 2025. Theo đó, tổng khối lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt hơn 15 tỷ giao dịch với tổng giá trị đạt trên 190 triệu tỷ đồng, tăng 34,28% về số lượng và 12,24% về giá trị. Giá trị giao dịch bình quân này lên tới 1,05 triệu tỷ đồng, tương đương với 40 tỷ USD/ngày (NHNN, 2026).

Đặc biệt, thanh toán QR xuyên biên giới phát triển nhanh chóng. Hiện Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) đã triển khai kết nối 2 chiều với Thái Lan, Lào và Campuchia, cho phép người dùng Việt Nam sang nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam thanh toán thuận tiện bằng mã QR. NAPAS cũng đã triển khai kết nối chiều thanh toán của khách Trung Quốc và Hàn Quốc đến Việt Nam và dự kiến tiếp tục hoàn thành kết nối chiều thanh toán cho người Việt sang các quốc gia này vào cuối năm nay. Công ty dự kiến chính thức công bố kết nối thanh toán với Singapore vào quý III và hoàn thành kết nối với Ấn Độ, Đài Loan trong năm 2026 (Như Trang, 2026).

Những thách thức mới

Trong tiến trình chuyển đổi số, bên cạnh những kết quả và thành tựu nổi bật đã đạt được, ngành Ngân hàng cũng đang đứng trước nhiều thách thức mới trong kỷ nguyên số hóa:

Về an ninh mạng, rủi ro an toàn thông tin và tội phạm công nghệ cao. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng ngày càng gia tăng cả về quy mô, mức độ tinh vi và tính chất nguy hiểm. Các phương thức tấn công mạng, lừa đảo trực tuyến, giả mạo bằng AI và Deepfake ngày càng tinh vi; tội phạm không chỉ khai thác lỗ hổng kỹ thuật mà còn tập trung vào người sử dụng và dữ liệu định danh. Ngày 6/6/2026, Công an TP. Hà Nội đã phát đi cảnh báo về nguy cơ lộ, lọt dữ liệu cá nhân và tài khoản ngân hàng khi giao dịch trên môi trường mạng. Công an Thành phố cũng đã nhanh chóng điều tra, triệt phá và bắt giữ 5 đối tượng có hành vi sản xuất, mua bán, trao đổi phần mềm độc hại có khả năng vượt qua hệ thống xác thực sinh trắc học của một số TCTD. Trước đó, vào tháng 5/2025, Công an tỉnh Thái Bình đã triệt phá một băng nhóm gồm 14 đối tượng bị cáo buộc rửa khoảng 1.000 tỉ đồng. Nhóm này sử dụng dữ liệu sinh trắc học khuôn mặt do AI tạo ra để vượt qua hệ thống nhận dạng khuôn mặt của các ngân hàng trong giai đoạn từ cuối năm 2024 đến tháng 4/2025 (Hải Anh, 2026).

Về việc quản trị, chuẩn hóa và khai thác kho dữ liệu lớn. Dữ liệu được ví là “dầu mỏ” của kỷ nguyên số, nhưng việc khai thác dữ liệu trong ngành ngân hàng hiện nay vẫn chưa đạt hiệu quả tối ưu do vướng mắc về cấu trúc và pháp lý. Dữ liệu trong ngành ngân hàng còn thiếu tính liên thông: rời rạc, phân tán, trùng lặp, chưa có sự liên kết và thống nhất (Nhân dân, 2025).

Áp lực tài chính và chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ lõi (Core Banking). Chi phí đầu tư ban đầu cho hạ tầng công nghệ, mua bản quyền phần mềm, thuê chuyên gia công nghệ cao và bảo trì hệ thống là rất lớn. Áp lực chi phí này làm xói mòn biên lợi nhuận (NIM), khiến nhiều ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc bắt kịp tốc độ đầu tư công nghệ.

Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao chuyên ngành công nghệ tài chính. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ tài chính đã tạo ra hàng loạt vị trí công việc rất mới trong ngành ngân hàng như: trải nghiệm khách hàng, liên quan đến tăng trưởng số, kinh doanh số, marketing số, digital partnership. Để đáp ứng yêu cầu của các vị trí công việc mới trên, cần một đội ngũ nhân sự ngân hàng mới, gồm những nhân sự vừa có công nghệ, vừa có nghiệp vụ ngân hàng. Điều này đặt ra thách thức lớn cho quá trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng.

NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

Trên cơ sở phân tích thực trạng và chỉ ra các thách thức, để thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành ngân hàng thời gian tới, cần lưu ý thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế thử nghiệm và an ninh mạng

Theo đó, cần nghiên cứu, rà soát, đánh giá quá trình triển khai thực hiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh doanh tài chính mới để kịp thời đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo không gian đổi mới sáng tạo an toàn. Sớm ban hành Nghị định quy định về dịch vụ Mobile-Money/Tiền di động.

Để phòng chống tội phạm công nghệ cao, ngành ngân hàng cần đẩy mạnh ứng dụng AI và công nghệ sinh học/sinh trắc học trong định danh, xác thực khách hàng (như triển khai sâu rộng dữ liệu từ Đề án 06); Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để kịp thời ngăn chặn các hành vi gian lận, tấn công mạng và giả mạo tài khoản; xây dựng các giải pháp bảo mật mạnh mẽ như mã hóa dữ liệu, hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS), hệ thống phòng thủ chống truy cập trái phép, quản lý danh tính...

Thứ hai, chuẩn hóa kho dữ liệu và mở rộng hệ sinh thái ngân hàng mở

Các ngân hàng cần quy hoạch lại cấu trúc dữ liệu nội bộ, phá vỡ các “ốc đảo” dữ liệu giữa các bộ phận để hình thành kho dữ liệu tập trung, nâng cao năng lực phân tích hành vi khách hàng. Tăng cường kết nối chia sẻ dữ liệu giữa ngành ngân hàng với các cơ sở dữ liệu quốc gia, Cổng dịch vụ công quốc gia, cũng như các lĩnh vực thương mại, viễn thông và bảo hiểm. Việc này giúp hoàn thiện các mô hình chấm điểm tín dụng tự động và mang lại trải nghiệm liền mạch cho người dùng.

Thứ ba, tối ưu hóa chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ lõi và điện toán đám mây

Để giảm thiểu chi phí, thay vì tự đầu tư toàn bộ hạ tầng đắt đỏ từ đầu, các ngân hàng cần tăng cường hợp tác, liên kết với các công ty Fintech và các tập đoàn công nghệ để chia sẻ chi phí phát triển sản phẩm, tối ưu hóa biên lợi nhuận và rút ngắn thời gian đưa dịch vụ ra thị trường.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Để có được một nguồn cung nhân lực công nghệ đáp ứng đủ cầu trong ngành, cần ban hành khung năng lực số cho ngành ngân hàng, theo vị trí công tác; tăng cường hợp tác theo “mô hình 3 nhà”: Ngân hàng nhà nước - Các cơ sở đào tạo - Các cơ sở tài chính, khoa học công nghệ. Cùng với đó, các ngân hàng cần chú trọng chiến lược đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nhân sự hiện tại các kiến thức mới, kỹ năng số, hiểu biết về công nghệ như: AI, để họ có thể làm chủ, sử dụng hiệu quả các công cụ số; cũng như xây dựngchính sách đãi ngộ cạnh tranh để thu hút chuyên gia công nghệ thông tin, chuyên gia an ninh mạng và khoa học dữ liệu chất lượng cao.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh Tuấn (2026). Ngành Ngân hàng với cơ hội mới từ kỷ nguyên AI. https://thitruongtaichinhtiente.vn/nganh-ngan-hang-voi-co-hoi-moi-tu-ky-nguyen-ai-85397.html.

2. Hà Anh (2026). Chuyển đổi số ngân hàng năm 2025: Kết nối dữ liệu và giữ vững niềm tin số. https://tapchinganhang.gov.vn/chuyen-doi-so-ngan-hang-nam-2025-ket-noi-du-lieu-va-giu-vung-niem-tin-so-16897.html

3. Hải Anh (2026). Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng. https://tapchinganhang.gov.vn/dam-bao-an-toan-he-sinh-thai-so-bao-ve-khach-hang-su-dung-dich-vu-ngan-hang-tren-khong-gian-mang-17473.html

4. Hồng Sơn (2026). Nâng cao mức độ tự chủ sản phẩm công nghệ trong ngành Ngân hàng, truy cập từ https://thoibaonganhang.vn/nang-cao-muc-do-tu-chu-san-pham-cong-nghe-trong-nganh-ngan-hang-183754.html

5. NHNN (2026). Tài liệu Họp báo công bố sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, ngày 11/8/2026, Hà Nội.

6. Nhân dân (2025). Tăng sức “đề kháng” cho hệ thống tài chính - ngân hàng. https://special.nhandan.vn/tang_suc_de_khang/index.html

7. Như Trang (2026). NAPAS giới thiệu phương thức thanh toán xuyên biên giới qua mã QR tại “Ngày Tài chính số 2026”. https://thoibaonganhang.vn/napas-gioi-thieu-phuong-thuc-thanh-toan-xuyen-bien-gioi-qua-ma-qr-tai-ngay-tai-chinh-so-2026-183160.html

8. Thu Thủy (2026). Tăng cường bảo vệ khách hàng trên các kênh số. https://thitruongtaichinhtiente.vn/tang-cuong-bao-ve-khach-hang-tren-cac-kenh-so-85693.html

Ngày nhận bài: 3/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026

Các tin khác

​​​​​​​Ràng buộc tài chính và chất lượng lợi nhuận: Vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

​​​​​​​Ràng buộc tài chính và chất lượng lợi nhuận: Vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Chất lượng lợi nhuận quyết định mức độ hữu ích của thông tin kế toán đối với nhà đầu tư, chủ nợ và cơ quan quản lý. Trong khi đó, ràng buộc tài chính có thể làm giảm khả năng thao túng nếu doanh nghiệp chịu sự giám sát chặt hơn của ngân hàng và nhà đầu tư. Còn sở hữu nhà nước làm cho mối quan hệ này phức tạp hơn.
Quản trị rủi ro tài chính: “Bản lề” cho sự bứt phá của các công ty niêm yết

Quản trị rủi ro tài chính: “Bản lề” cho sự bứt phá của các công ty niêm yết

Quản trị rủi ro tài chính giúp công ty niêm yết bảo vệ lợi ích cổ đông, duy trì ổn định và hỗ trợ phát triển bền vững.
Phát triển tài chính số - Động lực mới thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam

Phát triển tài chính số - Động lực mới thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam

Việc đánh giá thực trạng, nhận diện những hạn chế và xác định định hướng phát triển tài chính số gắn với mục tiêu tài chính toàn diện có ý nghĩa thiết thực cho giai đoạn 2026-2030.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại HDBank - Phòng giao dịch Thạnh Phú

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại HDBank - Phòng giao dịch Thạnh Phú

Trong điều kiện các sản phẩm ngân hàng ngày càng tương đồng, chất lượng dịch vụ trở thành nhân tố quan trọng tạo nên sự khác biệt và củng cố sự hài lòng của khách hàng.
Xu hướng phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Xu hướng phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống tài chính. Với vai trò phân bổ vốn, ngân hàng thương mại có khả năng định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.
Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Các ngân hàng thương mại ngày càng quan tâm xây dựng chiến lược tài chính bền vững, triển khai chương trình tín dụng ưu tiên cho lĩnh vực xanh và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong quản trị rủi ro tín dụng.
Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh

Ngành Ngân hàng đang chịu tác động mạnh của chuyển đổi số, sự cạnh tranh từ các công ty công nghệ tài chính (fintech), sự thay đổi trong nhu cầu khách hàng và yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả quản trị. Trong bối cảnh đó, lãnh đạo chuyển đổi có vai trò quan trọng trong việc định hướng thay đổi, thúc đẩy đổi mới và nâng cao khả năng thích ứng của tổ chức.
Phát triển ngân hàng xanh ở Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Thực trạng và một số khuyến nghị

Phát triển ngân hàng xanh ở Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Thực trạng và một số khuyến nghị

Từ năm 2018, Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam đã được ban hành, trong đó định hướng các tổ chức tín dụng phát triển mô hình ngân hàng xanh theo 5 cấp độ. Đến nay, các tổ chức tín dụng đều đưa nội dung phát triển ngân hàng xanh và chiến lược phát triển của mình trong trung hạn và dài hạn.
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý

Chuyển đổi số đã trở thành định hướng chiến lược của ngành ngân hàng Việt Nam, được thể chế hóa qua Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến năm 2025, nhiều tổ chức tín dụng đã đạt trên 90% giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số, hơn 87% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.
Phát triển tài chính xanh tại Việt Nam giai đoạn 2025-2030: Thách thức và triển vọng

Phát triển tài chính xanh tại Việt Nam giai đoạn 2025-2030: Thách thức và triển vọng

Tại Việt Nam, tài chính xanh được xác định là công cụ quan trọng trong Chiến lược Tăng trưởng Xanh 2021-2030, tầm nhìn 2050, nhằm hỗ trợ mục tiêu Net Zero 2050.