Chuyển đổi số, cải cách thể chế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 14:18 | 09/10/2026
Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi số và cải cách thể chế, qua đó làm rõ vai trò của hai yếu tố này đối với tăng trưởng kinh tế. Việt Nam. Trên Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm khắc phục những hạn chế hiện hữu, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả cải cách thể chế trong thời gian tới.

Lê Thị Mai Hương

Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh;

Email: [email protected]

Nguyễn Trung Hiếu

Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh;

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan chức năng của Việt Nam, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và phân tích nhằm đánh giá thực trạng chuyển đổi số và cải cách thể chế, đồng thời làm rõ vai trò của hai yếu tố này đối với tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy, triển khai Chiến lược chuyển đổi số quốc gia và thúc đẩy cải cách thể chế là hai trong bốn trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Việt Nam. Trên Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn, thách thức trong thực tiễn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả cải cách thể chế trong thời gian tới.

Từ khóa: Chuyển đổi số, cải cách thể chế, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam

Abstract

This study uses secondary data collected from Vietnamese government agencies and applies descriptive statistics, synthesis, and analytical methods to assess the current state of digital transformation and institutional reform and examine their roles in economic growth. The findings indicate that implementing the National Digital Transformation Strategy and advancing institutional reform constitute two of the four pillars contributing to Viet Nam's economic growth. On this basis, the study proposes policy recommendations to address existing challenges, accelerate digital transformation, and improve the effectiveness of institutional reform in Viet Nam.

Keywords: Digital transformation, institutional reform, economic growth, Viet Nam.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật của Bộ Chính trị đã được ban hành nhằm xác định khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hoàn thành thể chế pháp luật là hai trong bốn trụ cột chiến lược thúc đẩy Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Mục tiêu cốt lõi là đưa công nghệ số vào mọi mặt đời sống để giúp người dân được phục vụ tốt hơn, kinh tế giàu hơn và xã hội hạnh phúc hơn.

Các nghiên cứu của Nguyễn Việt Hồng Anh, Hồ Thủy Tiên (2023); Trần Phạm Khánh Toàn, Trương Trung Trực (2021) cho thấy, chuyển đổi số là xu hướng phát triển tất yếu trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và chất lượng cuộc sống người dân. Bên cạnh đó, cải cách thể chế đóng vai trò là đòn bẩy quyết định giúp khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo động lực đột phá cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Thể chế tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều khía cạnh: tạo ra một môi trường ổn định, làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, đảm bảo các cơ chế thị trường diễn ra một cách hiệu quả, thiết lập các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và tạo nên cấu trúc của khuyến khích của nền kinh tế.

Như vậy, có thể nhận thấy chuyển đổi số và cải cách thể chế đã và đang đóng góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và đây là vấn đề thực sự đang được quan tâm nghiên cứu.

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG

Chuyển đổi số quốc gia

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) và Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị (2019) đã nhấn mạnh sự cần thiết phải chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ (2020) ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020, phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nhằm phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trong quá trình triển khai, Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã xây dựng và công bố Bộ chỉ số chuyển đổi số (Digital Transformation Index, DTI) để đánh giá mức độ chuyển đổi số ở 3 cấp: Quốc gia, Bộ và Tỉnh. Đây là công cụ phục vụ theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hỗ trợ định hướng chính sách chuyển đổi số.

Theo cấu trúc Bộ chỉ số DTI được công bố, chỉ số cấp quốc gia gồm ba trụ cột chính: Chính phủ số (400 điểm), kinh tế số (300 điểm) và xã hội số (300 điểm), với tổng điểm tối đa 1.000 điểm. Số liệu trình bày tại Bảng 1 cho thấy chỉ số DTI của Việt Nam đạt 0,4858 vào năm 2020 và tăng lên 0,7955 vào năm 2024. Trong năm 2024, chỉ số chính quyền số đạt 0,7582, chỉ số kinh tế số đạt 0,7723 và chỉ số xã hội số đạt 0,7692. Những kết quả này phản ánh xu hướng gia tăng mức độ ứng dụng công nghệ số trong hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Đáng chú ý, năm 2022, chỉ số chuyển đổi số quốc gia đạt 0,71; 100% bộ và tỉnh được đánh giá ghi nhận mức tăng so với năm trước đó.

Các chỉ số thành phần quan trọng gồm Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số duy trì tốc độ tăng trưởng cao từ 45% đến 55%. Trong đó, đối với lĩnh vực Chính quyền số đã được triển khai toàn diện các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, về đăng ký doanh nghiệp, về bảo hiểm, hộ tịch điện tử, đất đai quốc gia, về tài chính, về dịch vụ công trực tuyến, cổng dịch vụ công quốc gia… đã được triển khai ở tất cả các bộ ngành và địa phương; Lĩnh vực Kinh tế số đã và đang được Chính phủ triển khai để đưa quy mô đạt tối thiểu 30% GDP vào năm 2030; Lĩnh vực xã hội số ngày càng phát triển như thẻ căn cước người dân đã được gắn chip, các địa phương đã hoàn thành cấp tài khoản định danh điện tử, Ứng dụng VNeID đã được tích hợp thêm các tiện ích: sổ sức khỏe điện tử; giấy phép lái xe; ví điện tử; kê khai, đăng ký, nộp thuế; thông tin sổ bảo hiểm xã hội và nhiều tiện ích khác, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư đã được kết nối, Theo báo cáo Digital từ DataReportal và các tổ chức nghiên cứu số đến hết năm 2025 Việt Nam có 85,6 triệu người dùng internet, chiếm 84,2% dân số và thời gian sử dụng trung bình của người Việt Nam dành trung bình hơn 6 giờ mỗi ngày để truy cập internet qua các thiết bị như điện thoại thông minh, máy tính và ti vi thông minh (Datareportal, 2026).

Bảng 1: Chỉ số DTI của Việt Nam giai đoạn 2020 – 2024

Năm

2020

2021

2022

2023

2024

Chỉ số DTI

0,4858

0,6110

0,7109

0,7326

0,7955

Trong đó:

Chính quyền số

Kinh tế số

Xã hội số

0,3611

0,2568

0,2898

0,4317

0,4098

0,3989

0,6467

0,6395

0,5739

0,7240

0,6817

0,6783

0,7582

0,7723

0,7692

Nguồn: Báo cáo chỉ số đánh giá chuyển đổi số DTI Việt Nam của Bộ Thông tin và Truyền thông qua các năm 2020-2024

Riêng năm 2024, theo báo cáo xếp hạng DTI cấp tỉnh năm 2024, TP. Hà Nội là địa phương đứng đầu về ứng dụng chuyển đổi số với 4 chỉ số chính gồm Nhận thức số, Thể chế số, Hoạt động Kinh tế số và Hoạt động Xã hội số và DTI cao nhất cả nước đạt 0,8241. Đứng vị trí thứ hai là thành phố Huế, đạt điểm tối đa ở 3 chỉ số chính (Nhận thức số, Thể chế số, An toàn thông tin mạng) và xếp vị trí thứ hai về Hoạt động Chính quyền số với chỉ số DTI đạt 0,7951. Thành phố Hải Phòng xếp vị trí thứ ba, với điểm tối đa ở Nhận thức số, Thể chế số, đồng thời xếp vị trí thứ ba về Hạ tầng số và Hoạt động Kinh tế số, điểm DTI của TP. Hải Phòng đạt 0,7857. Và xếp vị trí thứ tư là TP. Hồ Chí Minh với điểm DTI năm 2024 đạt 0,7770, địa phương đạt điểm tối đa ở 2 chỉ số Nhận thức số và Thể chế số, xếp vị trí thứ tư về Hoạt động Kinh tế số và thứ ba về Hoạt động Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

Cải cách thể chế

Cải cách thể chế ở Việt Nam hiện nay đang được xác định là một trong bốn đòn bẩy chiến lược nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Việc cải cách thể chế không chỉ dừng lại ở việc cắt giảm điều kiện kinh doanh hay đơn giản hóa thủ tục hành chính, mà phải hướng tới tái thiết nền tảng vận hành của nền kinh tế thị trường, nơi doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển và lớn mạnh; Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân và xây dựng nền tảng cho 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện một số chính sách riêng lẻ, mà là một chương trình cải cách thể chế toàn diện, đồng bộ, nhất quán (Nguyễn Bích Lâm, 2026).

Hiện nay, các chỉ số đo lường cải cách thể chế và quản trị công tại Việt Nam bao gồm nhiều bộ chỉ số quan trọng phản ánh góc độ từ quản lý nhà nước, doanh nghiệp đến sự hài lòng của người dân, trong đó có chỉ số PAR Index (Chỉ số cải cách hành chính) được sử dụng để đánh giá kết quả cải cách hành chính, trong đó có chỉ số thành phần về cải cách thể chế giúp theo dõi việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Số liệu ở Bảng 2 cho thấy chỉ số cải cách hành chính gia tăng qua các năm, năm 2020 chỉ số này đạt 83,72% thì đến năm 2024 tăng lên và đạt 88,37%, cao hơn 1.39% so với năm 2023. Đây cũng là lần thứ 2 liên tục có 63/63 địa phương đều đạt kết quả chỉ số cải cách hành chính trên 80%. Riêng năm 2024 có 13 tỉnh thành đạt chỉ số cải cách hành chính từ 90% trở lên và có 50 tỉnh thành phố có chỉ số cải cách hành chính đạt từ 80%-90%. Trong đó, TP. Hải Phòng là địa phương đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số cải cách hành chính năm 2024 với kết quả đạt 96.17%, thứ hai là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với kết quả đạt 93.35%. Điều này cho thấy các địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai và thực hiện công tác cải cách hành chính một cách toàn diện thông qua việc chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác cải cách hành chính như cải cách bộ máy tổ chức, hoàn thiện khung pháp lý,tăng cường rà soát, đề xuất tháo gỡ nhiều thể chế, cơ chế, chính sách, trong đó phải kể đến việc xây dựng, phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số, hoàn thiện và thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu của tất cả các cấp ở địa phương đã được gắn kết chặt chẽ với chuyển đổi số nên đã mang lại nhiều hiệu quả, lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp (Bộ nội vụ, 2025).

Tuy nhiên, qua đánh giá cũng cho thấy trong năm 2024 một số địa phương có lãnh đạo quản lý các cấp còn sai phạm trong thực thi công vụ không chỉ gây ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính mà còn tác động lớn đến thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, sự hài lòng của người dân về việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương (Bộ Nội vụ, 2025). Chỉ số cải cách thể chế cũng có sự gia tăng đáng ghi nhận, từ 87,82% vào năm 2020 đã tăng lên 93,21% vào năm 2024 (Bộ nội vụ, 2025).

Bảng 2: Chỉ số PAR Index (%) của Việt Nam giai đoạn 2020-2024

Năm

2020

2021

2022

2023

2024

Chỉ số PAR index

Trong đó, chỉ số cải cách thế chế:

83,72

87,82

86,37

89,14

84,79

90,76

86,98

91,61

88,37

93,21

Nguồn: Bộ Nội vụ - Báo cáo chỉ số cải cách hành chính Par index các năm 2020-2024

Tăng trưởng kinh tế

Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách nền kinh tế kể từ đại hội lần thứ VI của Đảng vào năm 1986 và cho đến nay Chính phủ đã và đang tiếp tục thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để thúc đẩy kinh tế. Việt Nam tăng trưởng (Hình), Giai đoạn đại dịch covid 19 diễn biến phức tạp vào cuối năm 2019 và kéo dài đến hết năm 2021 đã gây nhiều khó khăn, trở ngại cho toàn kinh tế; Song nhờ những biện pháp điều hành hiệu quả từ Chính phủ và sự nỗ lực của người dân đã giúp kinh tế Việt Nam ổn định và tăng trưởng dương ở mức 2,6% vào cuối năm 2021 (Tổng cục Thống kê, 2026).

Năm 2022 kinh tế Việt Nam đã dần phục hồi và tăng trưởng. GDP đã tăng lên và đạt 8,5% và đến cuối năm 2024 tăng trưởng. GDP của toàn nền kinh tế đạt 7%. Cho đến nay, Chính phủ tiếp tục điều hành nền kinh tế để hướng đến tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Trong đó, Chính phủ chú trọng công tác chuyển đổi số và cải cách thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo với việc chú trọng vào các lĩnh vực mới của chuyển đổi số như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, dữ liệu mở và tài sản số và những nội dung này đã được cụ thể hóa ở Nghị quyết số 57-NQ/TW, đồng thời tạo khung khổ pháp lý linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Hình: Chuyển đổi số, cải cách thể chế và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2020-2024

Chuyển đổi số, cải cách thể chế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Khó khăn và thách thức

Mặc dù Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận trong chuyển đổi số và cải cách thể chế, quá trình triển khai trên thực tế vẫn đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách và năng lực phát triển kinh tế – xã hội.

Trong chuyển đổi số, nhận thức của một bộ phận doanh nghiệp về vai trò và lợi ích của chuyển đổi số vẫn chưa đầy đủ, dẫn đến những hạn chế trong việc chủ động đầu tư và ứng dụng công nghệ. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng mạng và hệ thống dữ liệu, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển; nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số và an ninh mạng còn thiếu hụt. Những hạn chế này tạo ra rào cản đối với quá trình ứng dụng công nghệ số và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Bộ Chính trị, 2024).

Cùng với đó, cải cách thể chế, hệ thống pháp luật vẫn còn phức tạp, trong khi tính đồng bộ, thống nhất và khả thi giữa các quy định thuộc những lĩnh vực khác nhau chưa được bảo đảm đầy đủ (Bộ Chính trị, 2025). Đồng thời, thủ tục hành chính tại một số lĩnh vực còn rườm rà, làm gia tăng chi phí tuân thủ và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cũng chưa đồng đều, đặc biệt trong việc nhận diện vấn đề, tham mưu và đề xuất giải pháp chính sách. Ngoài ra, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số cơ quan chưa nghiêm; quy trình giải quyết công việc chưa được quy định rõ ràng và thống nhất, gây khó khăn cho quá trình tổ chức thực thi chính sách (Nguyễn Ngọc Toán, 2022).

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

Để giải quyết những khó khăn, thách thức trong thực tiễn, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả cải cách thể chế tại Việt Nam, cụ thể:

Chuyển đổi số

Tiếp tục xác định chuyển đổi số quốc gia là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình quản lý và phát triển kinh tế – xã hội. Theo đó, các bộ, ngành và địa phương cần cụ thể hóa mục tiêu chuyển đổi số trong kế hoạch hành động hằng năm, đồng thời gắn kết quả thực hiện với công tác đánh giá hiệu quả hoạt động, thi đua và khen thưởng. Bên cạnh đó, Chính phủ cần ưu tiên nguồn lực đầu tư, hoàn thiện hạ tầng khoa học, công nghệ và dữ liệu; thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ số; khuyến khích phát triển trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây trong nước. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế sẽ góp phần tiếp thu công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số bền vững.

Thể chế, chính sách

Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và có tính khả thi, bảo đảm sự thống nhất giữa xây dựng chính sách và tổ chức thực thi. Đồng thời, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Bên cạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, việc nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm giải trình và kỷ luật thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả cải cách. Qua đó, từng bước cải thiện chất lượng quản trị công, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời tạo lập môi trường thể chế thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.

KẾT LUẬN

Trước bối cảnh hội nhập sâu rộng toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ của thời đại công nghệ số, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện nhiều giải pháp cấp thiết lẫn lâu dài để nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Trong đó, chuyển đổi số được xem là động lực then chốt giúp tối ưu hóa hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội toàn diện. Đồng thời, cải cách thể chế cũng đóng vai trò cốt lõi giúp khơi thông nguồn lực, cắt giảm chi phí và tạo môi trường kinh doanh minh bạch để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Đây là hai trong số những nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung.

Trong thời gian tới, Chính phủ và các cơ quan ban ngành, Chính quyền địa phương tiếp tục có nhiều chiến lược, giải pháp triển khai đồng bộ và linh hoạt về thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, nhân lực, bảo mật thông tin. Đồng thời Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế đất nước tăng trưởng trong bối cảnh mới.

* Công trình này là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2026 mã số T2026-59 do Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh tài trợ kinh phí thực hiện.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-52-nqtw-ngay-2792019-cua-bo-chinh-tri-ve-mot-so-chu-truong-chinh-sach-chu-dong-tham-gia-cuoc-cach-mang-cong-5715.

2. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm.

3. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-66-nqtw-ngay-3042025-cua-bo-chinh-tri-ve-doi-moi-cong-tac-xay-dung-va-thi-hanh-phap-luat-dap-ung-yeu-11561.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2024 các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. https://dti.gov.vn/rating/2024-all.

5. Bộ Nội vụ. (2025). Báo cáo chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh năm 2024. http://caicachhanhchinh.gov.vn/storage/uploads/national/file/2025/1pvT7_20250429042524.pdf.

6. DataReportal. (2026). Digital 2026: Vietnam. https://datareportal.com/reports/digital-2026-vietnam.

7. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. https://daihoidangtoanquoc.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-post1472.html.

8. Nguyễn Bích Lâm. (2026). Cải cách thể chế, tạo đòn bẩy để kinh tế tư nhân phát triển. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/cai-cach-tong-the-the-che-tao-don-bay-de-kinh-te-tu-nhan-but-pha-119260428104808076.htm.

9. Nguyễn Ngọc Toán. (2022, ngày 5 tháng 7). Những hạn chế của cải cách hành chính giai đoạn 2011–2020 và gợi ý khắc phục. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/07/05/nhung-han-che-cua-cai-cach-hanh-chinh-giai-doan-2011-2020-va-goi-y-khac-phuc/.

10. Nguyễn Việt Hồng Anh, & Hồ Thủy Tiên. (2023). Vai trò thể chế đối với tác động của tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến môi trường tại các quốc gia châu Á. Tạp chí Kinh tế và Phát triển. https://doi.org/10.33301/JED.VI.987.

11. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3 tháng 6 năm 2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=200163.

12. Tổng cục Thống kê. (2026). Số liệu tăng trưởng GDP theo giá so sánh 2010. https://www.nso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0306-07&theme=Tài khoản quốc gia.

13. Trần Phạm Khánh Toàn, & Trương Trung Trực. (2021). Thể chế và phát triển kinh tế: Minh chứng ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Kinh tế và Quản trị kinh doanh, 17(1), 31–44. https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.econ.vi.17.1.1357.2022.

Ngày nhận bài: 14/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/9/2026; Ngày duyệt đăng: 9/10/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.