Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì học ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học công nghệ Đông Á

Nghiên cứu - Trao đổi 17:36 | 22/06/2026
Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì học ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Công nghệ Đông Á trên cơ sở tích hợp Thuyết giá trị - kỳ vọng và Lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp.

Lương Hoàng Thọ

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Email: Tholh@eaut.edu.vn

Nguyễn Trọng Trung

Đại học Công nghệ giao thông vận tải

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì học ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Công nghệ Đông Á dựa trên khung Thuyết giá trị - kỳ vọng và Lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp. Dữ liệu từ 164 sinh viên được phân tích bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả cho thấy Sự phù hợp nội tại là yếu tố tác động mạnh nhất đến Ý định lựa chọn và duy trì ngành học, còn Ý định lựa chọn ảnh hưởng mạnh đến Quyết định lựa chọn. Ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực đến Ý định lựa chọn, trong khi Đặc điểm nhà trường không ảnh hưởng đến Ý định lựa chọn và Quyết định lựa chọn không tác động đến Sự duy trì. Mô hình giải thích 82% phương sai của Sự duy trì ngành học, góp phần cung cấp cơ sở thực nghiệm cho công tác tuyển sinh, tư vấn hướng nghiệp và nâng cao tỷ lệ duy trì sinh viên.

Từ khóa: Duy trì ngành học, lựa chọn ngành học, tài chính, ngân hàng

Abstract

This study examines the factors influencing students’ decisions to choose and continue studying in the Finance and Banking major at East Asia University of Technology, based on the Expectancy-Value Theory and the Social Cognitive Career Theory. Data from 164 students were analyzed using PLS-SEM. The results indicate that intrinsic fit is the strongest determinant of both the intention to choose and continue the major, while choice intention strongly influences the actual choice decision. Social influence positively affects choice intention, whereas institutional characteristics do not. In addition, the choice decision does not have a significant impact on major persistence. The proposed model explains 82% of the variance in major persistence, providing empirical evidence to support student recruitment, career counseling, and initiatives to improve student retention rates.

Keywords: Major persistence, major choice, finance, banking

GIỚI THIỆU

Lựa chọn và duy trì ngành học là quyết định quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập, cơ hội nghề nghiệp và sự phát triển của mỗi cá nhân. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, ngành Tài chính - Ngân hàng đang có nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực chất lượng, đòi hỏi các cơ sở đào tạo không chỉ thu hút mà còn duy trì sự gắn bó của sinh viên với ngành học.

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào những yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn ngành học ban đầu, trong khi các nhân tố ảnh hưởng đến sự duy trì ngành học sau khi sinh viên trải nghiệm môi trường đào tạo vẫn chưa được làm rõ. Đặc biệt, vai trò của ý định lựa chọn trong mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân, xã hội và sự duy trì ngành học còn ít được kiểm định.

Chính vì vậy, nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì học ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Công nghệ Đông Á trên cơ sở tích hợp Thuyết giá trị - kỳ vọng và Lý thuyết nhận thức xã hội về nghề nghiệp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược tuyển sinh, thiết kế chương trình đào tạo và nâng cao hiệu quả giữ chân sinh viên.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được hình thành từ sự kết hợp của 2 lý thuyết nền tảng: Thuyết giá trị - kỳ vọng (EVT) (Wigfield và cộng sự, 2000) và Lý thuyết nhận thức xã hội và nghề nghiệp (SCCT) (Lent và cộng sự, 1994).

Thuyết giá trị - kỳ vọng là khung lý thuyết nền tảng giải thích hành vi lựa chọn và mức độ kiên trì của cá nhân trong học tập và nghề nghiệp. Theo lý thuyết này, con người ra quyết định dựa trên đánh giá về 2 yếu tố: (i) Kỳ vọng thành công - mức độ họ tin rằng mình có thể thành công; và (ii) Giá trị nhiệm vụ - mức độ họ cho rằng hoạt động có giá trị với bản thân.

Trong lựa chọn ngành học đại học, Thuyết giá trị - kỳ vọng lý giải qua cấu trúc đa chiều của “giá trị nhiệm vụ” gồm 4 thành phần: giá trị lợi ích (cơ hội việc làm, thu nhập), giá trị hứng thú (niềm vui khi học tập), giá trị thành đạt (sự phù hợp với bản sắc cá nhân) và chi phí nhận thức (những đánh đổi phải chấp nhận). Quyết định lựa chọn ngành học và sự kiên trì theo đuổi là kết quả so sánh tổng hợp giữa lợi ích, hứng thú, ý nghĩa cá nhân và chi phí.

Lý thuyết nhận thức xã hội và nghề nghiệp mở rộng cách tiếp cận bằng việc đưa yếu tố môi trường xã hội và cơ chế hình thành hành vi có mục đích vào phân tích quá trình lựa chọn nghề nghiệp. Lý thuyết nhận thức xã hội và nghề nghiệp cho rằng sự phát triển định hướng nghề nghiệp được chi phối bởi 3 cấu phần trung tâm: tự hiệu quả (niềm tin vào năng lực bản thân), kỳ vọng kết quả (những gì đạt được khi theo đuổi ngành) và mục tiêu cá nhân.

Đóng góp quan trọng của Lý thuyết nhận thức xã hội và nghề nghiệp là nhấn mạnh vai trò của các yếu tố bối cảnh, bao gồm cả yếu tố hỗ trợ và rào cản. Gia đình, bạn bè, thầy cô, điều kiện tài chính và uy tín nhà trường có thể tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên hiện thực hóa ý định hoặc cản trở quá trình chuyển hóa từ ý định sang quyết định thực tế. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, nơi gia đình thường tham gia sâu vào định hướng nghề nghiệp cho con cái, yếu tố ảnh hưởng xã hội trở thành biến số không thể bỏ qua.

Trong những năm gần đây, chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngành học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Nghiên cứu của Lại Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Hồng Lam (2024) trên mẫu 238 sinh viên khối kinh tế tại Hà Nội chỉ ra rằng, yếu tố ảnh hưởng của gia đình - xã hội có tác động tích cực mạnh nhất đến quyết định chọn ngành Kiểm toán, tiếp theo là cơ hội việc làm và danh tiếng trường.

Nghiên cứu của Võ Lê Hằng Nga và cộng sự (2025) về quyết định chọn ngành Tài chính - Ngân hàng tại Trường Đại học Trà Vinh khẳng định đặc điểm cá nhân (gồm sự phù hợp về năng lực, sở thích và định hướng) là nhân tố tác động mạnh thứ hai.

Về sự duy trì ngành học, Nguyễn Thị Hồng Duyên và Nguyễn Phương Anh (2019) chứng minh hành vi chủ động xã hội hóa (tìm kiếm phản hồi, tham gia hoạt động lớp) tác động tích cực đến nhận thức vị thế cá nhân, từ đó nâng cao mức độ hài lòng và ý định duy trì học tập.

Mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở tích hợp Thuyết giá trị - kỳ vọng và Lý thuyết nhận thức xã hội và nghề nghiệp, nghiên cứu tiếp cận hành vi học tập như quá trình động gồm 3 giai đoạn: (1) Hình thành ý định lựa chọn ngành dưới tác động của yếu tố bối cảnh và nội tại; (2) Chuyển hóa ý định thành quyết định lựa chọn sau trải nghiệm thực tế; (3) Duy trì ngành học trong dài hạn. Mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình.

Mô hình gồm 3 nhóm biến chính:

Nhóm giải thích ban đầu: Đặc điểm nhà trường (UA), Ảnh hưởng xã hội (RF), Sự phù hợp nội tại (INT);

Biến trung gian: Ý định lựa chọn ngành học (IC);

Nhóm biến kết quả: Quyết định lựa chọn ngành (DC), Sự duy trì ngành học (PER).

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì học ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học công nghệ Đông Á

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

Tổng hợp lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm, nhóm tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

H1: Đặc điểm nhà trường (UA) tác động tích cực đến Ý định lựa chọn (IC).

H2: Ảnh hưởng xã hội (RF) tác động tích cực đến Ý định lựa chọn.

H3: Sự phù hợp nội tại (INT) tác động tích cực đến Ý định lựa chọn.

H4: Ý định lựa chọn tác động tích cực đến Quyết định lựa chọn (DC).

H5: Sự phù hợp nội tại tác động tích cực đến Sự duy trì (PER).

H6: Ý định lựa chọn tác động tích cực đến Sự duy trì.

H7: Quyết định lựa chọn tác động tích cực đến Sự duy trì.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu định lượng với thiết kế khảo sát cắt ngang. Đối tượng là sinh viên chính quy ngành Tài chính - Ngân hàng tại Trường Đại học Công nghệ Đông Á từ năm 1 đến năm 4. Dữ liệu thu thập bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân bổ theo khóa học. Tổng mẫu hợp lệ đạt 164, đáp ứng yêu cầu phân tích PLS-SEM theo nguyên tắc cỡ mẫu tối thiểu gấp 10 lần số đường dẫn lớn nhất.

Thang đo

Bảng hỏi cấu trúc với thang đo Likert 5 mức (1- Hoàn toàn không đồng ý đến 5- Hoàn toàn đồng ý). Thang đo kế thừa từ các nghiên cứu trước gồm: UA: 5 biến (uy tín, chất lượng giảng dạy, cơ sở vật chất, chi phí, kết nối doanh nghiệp); RF: 5 biến (gia đình, bạn bè, thầy cô, cựu sinh viên); INT: 5 biến (sở thích, năng lực, hứng thú, tự tin, bản sắc cá nhân); IC: 4 biến (xác định rõ, chủ động tìm hiểu, ưu tiên, niềm tin vào mục tiêu); DC: 4 biến (chủ động lựa chọn, hài lòng, ý định chọn lại, sẵn sàng giới thiệu); PER: 5 biến (ý định hoàn thành, nỗ lực vượt khó, không chuyển ngành, cải thiện kết quả, gắn bó).

Phương pháp phân tích

Nghiên cứu sử dụng PLS-SEM với SmartPLS 3.0. Quy trình 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Đánh giá mô hình đo lường (Cronbach's Alpha, CR ≥ 0.7; AVE ≥ 0.5; Fornell-Larcker; HTMT < 0.9).

Giai đoạn 2: Đánh giá mô hình cấu trúc (VIF < 5; bootstrapping 5.000 mẫu; R²; Q²; f²).

Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả

Mẫu nghiên cứu gồm 164 sinh viên, trong đó: Nữ 113 (68.9%), nam 51 (31.1%); Sinh viên năm 1: 38 (23.2%), năm 2: 78 (47.6%), năm 3: 28 (17.1%), năm 4: 20 (12.2%). Tỷ lệ nữ cao hơn phản ánh xu hướng chọn ngành Tài chính - Ngân hàng phổ biến ở nữ giới.

Đánh giá mô hình đo lường

Các thang đo đạt độ tin cậy (Cronbach's Alpha 0.919-0.952; CR 0.944-0.965) và giá trị hội tụ (AVE 0.770-0.883). Giá trị phân biệt đạt yêu cầu theo Fornell-Larcker và HTMT (< 0.9), dù cặp INT-DC (0.985) và INT-PER (0.942) ở mức gần ngưỡng, điều này phản ánh thực tế lý thuyết sự phù hợp nội tại có mối quan hệ chặt chẽ với quyết định lựa chọn và sự duy trì.

Đánh giá mô hình cấu trúc

Kiểm tra đa cộng tuyến cho thấy hầu hết các biến có VIF dưới ngưỡng khuyến nghị 5, chỉ một số biến có VIF > 5 (DC2 = 6.651; DC3 = 5.197; INT2 = 6.882; PER2 = 6.278). Mặc dù một số biến quan sát có hệ số VIF lớn hơn 5, tuy nhiên vẫn nhỏ hơn 10 nên chưa vi phạm nghiêm trọng hiện tượng đa cộng tuyến. Đồng thời, các biến này đều có hệ số tải ngoài lớn hơn 0.7 và giá trị AVE lớn hơn 0.5, đảm bảo giá trị hội tụ theo tiêu chuẩn của Fornell và Larcker (1981). Do đó, các biến quan sát này được giữ lại trong mô hình nghiên cứu.

Bảng 1: Hệ số R² và năng lực dự báo Q²

Biến

R² hiệu chỉnh

DC

0.745

0.743

0.711

IC

0.769

0.765

0.672

PER

0.820

0.817

0.764

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả Bảng 1 cho thấy, các biến UA, RF và INT giải thích được 76.9% phương sai của biến IC; biến IC giải thích được 74.5% phương sai của biến DC; các biến INT, IC và DC giải thích được 82% phương sai của biến PER, ở mức rất cao. Chỉ số Q² của các biến phụ thuộc đều lớn hơn 0 (từ 0.672 đến 0.764), khẳng định mô hình có năng lực dự báo tốt.

Bảng 2: Kết quả kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Quan hệ

Beta

p-value

Kết luận

H1

UA → IC

0.111

0.234

Không chấp nhận

0.016

H2

RF → IC

0.270

0.034

Chấp nhận

0.065

H3

INT → IC

0.542

0.000

Chấp nhận

0.335

H4

IC → DC

0.863

0.000

Chấp nhận

2.921

H5

INT → PER

0.718

0.000

Chấp nhận

0.381

H6

IC → PER

0.297

0.023

Chấp nhận

0.114

H7

DC → PER

-0.085

0.558

Không chấp nhận

0.005

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Phân tích tác động gián tiếp cho thấy, INT có tác động gián tiếp đến DC qua IC (β = 0.468; p < 0.001), RF có tác động gián tiếp đến DC (β = 0.233; p = 0.036). INT không có tác động gián tiếp đến PER (β = 0.121; p = 0.106), cho thấy tác động chủ yếu là trực tiếp. Theo tiêu chuẩn của Cohen (1988) f² ≥ 0.02 (ảnh hưởng nhỏ), ≥ 0.15 (trung bình), ≥ 0.35 (lớn). Kết quả Bảng 2 cho thấy IC → DC có mức ảnh hưởng rất lớn (f² = 2.921); INT → PER có mức ảnh hưởng lớn (f² = 0.381); INT → IC có mức ảnh hưởng trung bình (f² = 0.335).

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 trên 7 giả thuyết mang lại nhiều phát hiện quan trọng về cơ chế tác động của các nhân tố đến Quyết định lựa chọn và Sự duy trì ngành học. Trước hết, Sự phù hợp nội tại (INT) nổi lên là yếu tố có tác động mạnh nhất đến cả Ý định lựa chọn ngành (β = 0.542) và Sự duy trì ngành học (β = 0.718), với tổng tác động đến Sự duy trì lên tới 0.839. Ý định lựa chọn (IC) đóng vai trò trung gian quan trọng, vừa tác động rất mạnh đến Quyết định lựa chọn (β = 0.863; f² = 2.921), vừa tác động trực tiếp đến Sự duy trì (β = 0.297). Bên cạnh đó, Ảnh hưởng xã hội (RF) có tác động tích cực đến Ý định lựa chọn (β = 0.270) và gián tiếp đến Quyết định lựa chọn (β = 0.233). Đặc điểm nhà trường (UA) không có tác động đến Ý định lựa chọn và Quyết định lựa chọn (DC) không có tác động đến sự duy trì (PER). Mô hình nghiên cứu giải thích được 82% phương sai của sự duy trì ngành học, khẳng định giá trị giải thích cao.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kết quả nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng và khác biệt đáng chú ý:

Về vai trò của Sự phù hợp nội tại, phát hiện này hoàn toàn phù hợp với nền tảng Thuyết giá trị - kỳ vọng, khi nhấn mạnh vai trò của giá trị hứng thú và giá trị thành đạt trong việc hình thành động cơ lựa chọn và duy trì. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Võ Lê Hằng Nga và cộng sự (2025) khi khẳng định sự phù hợp giữa năng lực - hứng thú cá nhân có tác động quan trọng đến quyết định chọn ngành.

Về Ảnh hưởng xã hội, nghiên cứu ghi nhận tác động tích cực tương tự như Phan Ngọc Thùy Như và Nguyễn Kim Phước (2021), nhưng mức độ tác động thấp hơn so với phát hiện của Lại Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Hồng Lam (2024) khi các tác giả này tìm thấy ảnh hưởng gia đình - xã hội là yếu tố tác động mạnh nhất (β = 0.300).

Điểm khác biệt quan trọng nhất của nghiên cứu này là phát hiện Quyết định lựa chọn sau Trải nghiệm thực tế (DC) không có tác động đến Sự duy trì ngành học (β = -0.085; p = 0.558), khác với kỳ vọng ban đầu từ nghiên cứu của Phan Ngọc Thùy Như và Nguyễn Kim Phước (2021) về vai trò của sự hài lòng sau trải nghiệm đào tạo.

Những khác biệt này có thể được giải thích dựa trên đặc điểm bối cảnh và đối tượng nghiên cứu. Thứ nhất, đối tượng khảo sát của nghiên cứu bao gồm sinh viên từ năm 1 đến năm 4, những người đã phát triển nhận thức cá nhân độc lập hơn so với thời điểm mới lựa chọn ngành, do đó ảnh hưởng xã hội có xu hướng giảm dần và sự phù hợp nội tại trở nên quan trọng hơn. Thứ hai, Trường Đại học Công nghệ Đông Á là trường tư thục đang trong quá trình phát triển, có thể sinh viên khi đăng ký không đặt nặng kỳ vọng về uy tín đào tạo hay cơ sở vật chất, dẫn đến đặc điểm nhà trường không có tác động đến ý định lựa chọn.

Việc giải thích các giả thuyết không được chấp nhận cũng dựa trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn. H1 không được chấp nhận có thể là do theo Lý thuyết nhận thức xã hội và nghề nghiệp, các yếu tố bối cảnh như nhà trường thường đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình chuyển hóa từ ý định thành hành vi hơn là hình thành ý định ban đầu; sinh viên khi hồi tưởng có thể đã tái cấu trúc nhận thức, đánh giá cao yếu tố nội tại; và đặc điểm trường tư thục đang phát triển khiến sinh viên không đặt nặng kỳ vọng về uy tín. H7 không được chấp nhận cho thấy sự hài lòng với quyết định chọn ngành không đồng nghĩa với động lực duy trì trong tương lai. Một sinh viên có thể hoàn toàn hài lòng với quyết định đã chọn tại thời điểm đó, nhưng khi đối mặt với khó khăn trong học tập, chính sự phù hợp nội tại mới là yếu tố quyết định sự kiên trì. Bên cạnh đó, nhận thức về ngành học có thể thay đổi theo thời gian dựa trên trải nghiệm thực tế, khiến quyết định ban đầu không còn là yếu tố dự báo tốt cho sự duy trì.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Từ những phát hiện trên, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị sau:

Thứ nhất, Trường Đại học Công nghệ Đông Á cần chú trọng yếu tố sự phù hợp nội tại trong tuyển sinh và tư vấn hướng nghiệp bằng cách xây dựng các chương trình tư vấn giúp học sinh phổ thông nhận diện sở thích, năng lực và sự phù hợp với ngành Tài chính - Ngân hàng trước khi đăng ký xét tuyển, tổ chức các bài trắc nghiệm hướng nghiệp và ngày hội trải nghiệm ngành học thường xuyên. Bên cạnh đó, cần tăng cường hoạt động trải nghiệm thực tế cho sinh viên ngay từ năm đầu thông qua các buổi nói chuyện với cựu sinh viên thành công, tham quan doanh nghiệp, thực tập ngắn hạn để sinh viên có cơ hội trải nghiệm thực tế ngành học, từ đó củng cố sự phù hợp nội tại. Việc thiết kế chương trình đào tạo linh hoạt, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận sớm với các môn chuyên ngành và có cơ hội lựa chọn chuyên sâu phù hợp với sở thích và năng lực cá nhân cũng là một giải pháp quan trọng. Nhà trường cũng cần phát huy vai trò của ảnh hưởng xã hội trong giai đoạn tuyển sinh bằng cách tăng cường truyền thông về ngành học đến phụ huynh, xây dựng mạng lưới cựu sinh viên để tư vấn và hỗ trợ sinh viên tiềm năng. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập, đặc biệt quan tâm đến những sinh viên có dấu hiệu mất động lực, không còn cảm thấy phù hợp với ngành học thông qua các chương trình tư vấn và mentoring.

Thứ hai, đối với sinh viên, cần chủ động tìm hiểu và trải nghiệm trước khi quyết định chọn ngành, dành thời gian tìm hiểu kỹ về nội dung chương trình, cơ hội nghề nghiệp và tự đánh giá sự phù hợp của bản thân. Việc tham gia các hoạt động ngoại khóa liên quan đến ngành học như câu lạc bộ học thuật, hội thảo chuyên ngành sẽ giúp khám phá và phát triển niềm đam mê. Xây dựng mạng lưới quan hệ với giảng viên, cựu sinh viên và bạn bè cùng ngành để có thêm động lực, sự hỗ trợ và những lời khuyên hữu ích. Đồng thời, thường xuyên tự đánh giá và điều chỉnh mục tiêu học tập, xác định điểm mạnh, điểm yếu để có kế hoạch cải thiện và phát triển bản thân.

Tài liệu tham khảo:

1. Cohen, J. (1988). Statistical power analysis for the behavioral sciences (2nd ed.). Lawrence Erlbaum Associates.

2. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39–50.

3. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2–24. https://doi.org/10.1108/EBR-11-2018-0203

4. Lại, T. T. T., & Nguyễn, T. H. L. (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngành Kiểm toán của sinh viên khối ngành kinh tế tại Hà Nội. Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Công nghiệp Hà Nội, 60(2), 60–65.

5. Lent, R. W., Brown, S. D., & Hackett, G. (1994). Toward a unifying social cognitive theory of career and academic interest, choice, and performance. Journal of Vocational Behavior, 45(1), 79–122. https://doi.org/10.1006/jvbe.1994.1027

6. Nguyễn, T. H. D., & Nguyễn, P. A. (2019). Ảnh hưởng của nhân tố hành vi chủ động xã hội hóa đến sự hài lòng và gắn kết của sinh viên. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Nghiên cứu và đào tạo kế toán, kiểm toán (tr. 134–142).

7. Phan, N. T. N., & Nguyễn, K. P. (2021). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định học đại học ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên. Tạp chí Công Thương, (1), 1–10.

8. Võ, L. H. N., Nguyễn, P. A., & Nguyễn, H. H. (2025). Yếu tố tác động đến quyết định chọn ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 1–12.

9. Wigfield, A., & Eccles, J. S. (2000). Expectancy-value theory of achievement motivation. Contemporary Educational Psychology, 25(1), 68–81. https://doi.org/10.1006/ceps.1999.1015

Ngày nhận bài: 3/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 16/6/2026; Ngày duyệt đăng: 20/6/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"