Vai trò trung gian của gắn kết nơi chốn trong mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch tâm linh và ý định quay lại của du khách

Nghiên cứu - Trao đổi 16:16 | 13/04/2026
Nghiên cứu sử dụng kết hợp khung lý thuyết S-O-R và Lý thuyết gắn kết nơi chốn để đánh giá ảnh hưởng của kể chuyện lịch sử và tính tâm linh tới ý định quay lại của du khách trong du lịch tâm linh tại Việt Nam, làm rõ vai trò trung gian của yếu tố gắn kết nơi chốn.

Đào Thị Minh Uyên (Tác giả chính),

Đỗ Hương Giang (Tác giả liên hệ)

Email: huonggiang@ftu.edu.vn

Nguyễn Ngọc Linh, Nguyễn Minh Thư

Trường Đại học Ngoại thương

Tóm tắt

Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (S-O-R) và Lý thuyết gắn kết nơi chốn để phân tích tác động của kể chuyện lịch sử và tính tâm linh tới ý định quay lại của du khách khi trải nghiệm du lịch tâm linh tại Việt Nam, làm rõ vai trò trung gian của gắn kết nơi chốn. Dữ liệu khảo sát từ 433 khách du lịch được phân tích thông qua phần mềm Smart PLS 4.0 cho thấy, Kể chuyện lịch sử và Tính tâm linh đều tác động tích cực đến Gắn kết nơi chốn, trong đó Tính tâm linh có mức độ ảnh hưởng mạnh hơn. Với vai trò là cấu trúc bậc cao, Gắn kết nơi chốn có tác động đáng kể đến Ý định quay lại và đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa các kích thích trải nghiệm và phản ứng hành vi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị để phục vụ phát triển du lịch tâm linh theo hướng bền vững và có giá trị gia tăng cao.

Từ khóa: Kể chuyện lịch sử, gắn kết nơi chốn, ý định quay lại, du lịch tâm linh, S-O-R, Việt Nam

Mã phân loại JEL: Z32, M31, D12

Abstract

This study employs the Stimulus–Organism–Response (S–O–R) framework and Place Attachment Theory to examine the effects of historical storytelling and spirituality on tourists’ revisit intention in the context of spiritual tourism in Viet Nam, while clarifying the mediating role of place attachment. Survey data collected from 433 tourists were analyzed using SmartPLS 4.0. The findings indicate that both historical storytelling and spirituality positively influence place attachment, with spirituality exerting a stronger effect. As a higher-order construct, place attachment significantly affects revisit intention and serves as a mediator in the relationship between experiential stimuli and behavioral responses. Based on these findings, the study proposes several managerial implications to support the sustainable and high-value development of spiritual tourism.

Keywords: Historical storytelling, place attachment, revisit intention, spiritual tourism, S–O–R, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, du lịch tâm linh (DLTL) nổi lên như một phần trọng yếu của ngành du lịch, đặc biệt tại khu vực châu Á (Nguyễn Thị Tú, 2021). Theo Future Market Insights (2024), du lịch tôn giáo - tâm linh không chỉ mang lại giá trị tinh thần mà còn đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế bền vững (Grand View Research, 2024) với giá trị ước tính 286,6 tỷ đô la Mỹ năm 2024 và dự báo đạt 671,9 tỷ đô la Mỹ trước năm 2030, tương đương mức tốc độ tăng trưởng bình quân kép (CAGR) là 15,6% trong 5 năm (2025-2030).

Tại Việt Nam, DLTL được xác định là một trong 4 trụ cột chính trong Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030 (Ha Anh, 2025). Các điểm đến tâm linh tại Việt Nam đa dạng và chạy dọc chiều dài đất nước từ Bắc đến Nam (chùa Hương, chùa Linh Ứng, chùa Vĩnh Tràng…) và còn là những địa điểm mang đậm tính tâm linh và dấu ấn của những câu chuyện lịch sử, dấu ấn của Cách mạng bảo vệ Tổ quốc (Côn Đảo, nhà tù Hỏa Lò).

Long và Nguyen (2018) chỉ ra rằng, sức hấp dẫn điểm đến, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng tác động đáng kể đến ý định quay lại các địa điểm DLTL của du khách, nhấn mạnh vai trò của tính tâm linh tại các địa điểm ở Việt Nam. Đồng thời, kể chuyện lịch sử cũng được xác định là yếu tố quan trọng thúc đẩy ý định này (Fang và cộng sự, 2024). Nursyamsiah và Setiawan (2023) cũng đưa ra nhận định quan trọng về vai trò trung gian của sự gắn kết nơi chốn, ảnh hưởng tới ý định quay lại điểm đến du lịch. Khung lý thuyết Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (S-O-R) giúp kết nối các yếu tố ngoại cảnh (S) này với trạng thái nội tại (O) của du khách, từ đó dẫn đến phản ứng (R) là ý định quay lại một cách tự nhiên và bền vững hơn (Tan và Huang, 2020).

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các điểm đến hoặc phạm vi địa lý cụ thể, làm hạn chế khả năng khái quát hóa kết quả, đặc biệt trong bối cảnh DLTL. Hơn nữa, các nghiên cứu hiện có thường tiến hành đối với các khách du lịch đại trà, hành hương hoặc di sản, trong khi các mối quan hệ này trong bối cảnh DLTL vẫn chưa được kiểm chứng một cách hệ thống. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng kết hợp khung lý thuyết S-O-R và Lý thuyết gắn kết nơi chốn để đánh giá ảnh hưởng của kể chuyện lịch sử và tính tâm linh tới ý định quay lại của du khách trong DLTL tại Việt Nam, làm rõ vai trò trung gian của yếu tố Gắn kết nơi chốn. Từ đó, góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lĩnh vực nghiên cứu còn tương đối mới mẻ này. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp hàm ý quản trị và chính sách phục vụ phát triển DLTL theo hướng bền vững và có giá trị gia tăng cao.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết Kích thích - Chủ thể - Phản ứng (S-O-R)

Mô hình nghiên cứu được thiết lập dựa trên 3 trụ cột trong lý thuyết S-O-R của Mehrabian và Russell (1974), giải thích cơ chế các yếu tố môi trường tác động đến hành vi của con người thông qua 3 giai đoạn liên tiếp: Kích thích (S): bao gồm các yếu tố từ môi trường bên ngoài tác động đến nhận thức của cá nhân; Chủ thể (O): đề cập đến các trạng thái nội tại trung gian của con người, bao gồm các xử lý về mặt nhận thức và cảm xúc diễn ra khi tiếp nhận kích thích; Phản ứng (R): kết quả đầu ra dưới dạng hành vi, thường được phân loại thành hành vi tiếp cận (muốn ở lại, khám phá, quay lại) hoặc hành vi né tránh.

Lý thuyết gắn kết nơi chốn

Lý thuyết này bắt nguồn từ thuyết gắn kết của Bowlby và cộng sự (1992) và sau đó được tích hợp vào tâm lý học môi trường nhằm lý giải mối liên kết cảm xúc giữa con người và địa điểm (Hidalgo và Hernandez, 2001). Mối liên kết này tồn tại trên nhiều cấp độ không gian khác nhau và bao gồm cả khía cạnh vật chất lẫn khía cạnh xã hội. Những nghiên cứu sau đó đã mở rộng khái niệm này bằng cách bổ sung thêm khía cạnh cảm xúc nơi chốn và gắn kết xã hội với nơi chốn, qua đó nhấn mạnh các phản ứng cảm xúc và các mối quan hệ xã hội được hình thành trong những không gian cụ thể (Ramkissoon và cộng sự, 2013). Từ đó, gắn kết nơi chốn được nhìn nhận là một khái niệm đa chiều, tích hợp các thành tố nhận thức, chức năng, cảm xúc và xã hội.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Kể chuyện lịch sử là quá trình truyền đạt sự kiện, nhân vật và bối cảnh thông qua các cốt truyện nhằm tác động đến cảm xúc và nhận thức của người nghe (Palombini, 2017). Dưới khung lý thuyết S-O-R và Lý thuyết gắn kết nơi chốn, kể chuyện đóng vai trò là yếu tố kích thích, thúc đẩy sự gắn kết đa chiều trước khi chuyển hóa thành hành vi quay lại điểm đến tâm linh. Cụ thể, hoạt động này giúp du khách đồng nhất bản thân với các giá trị được chia sẻ để gia tăng bản sắc nơi chốn (Chronis, 2005b) và tạo ra tương tác tập thể để củng cố kết nối xã hội (Ramkissoon và cộng sự, 2013). Đồng thời, những trải nghiệm độc đáo, khó thay thế từ cốt truyện làm tăng sự phụ thuộc vào nơi chốn (Moscardo, 1996), trong khi việc khơi gợi lòng tri ân và sự tưởng niệm giúp làm sâu sắc thêm tình cảm gắn kết với điểm đến (Hosany và cộng sự, 2017). Từ đó, giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Kể chuyện lịch sử tác động tích cực đến Gắn kết nơi chốn.

Tính tâm linh trong du lịch là quá trình tìm kiếm sự linh thiêng (Pargament, 2013) và nhận thức về các giá trị cốt lõi, thể hiện qua cảm giác an yên, sự kết nối với nhân loại cùng ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống (Zhang và cộng sự, 2023). Vận dụng khung lý thuyết S-O-R và Lý thuyết gắn kết nơi chốn, tính tâm linh đóng vai trò là yếu tố kích thích thúc đẩy mạnh mẽ sự gắn kết với địa điểm. Do vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H2: Tính tâm linh tác động tích cực đến Gắn kết nơi chốn.

Ở khía cạnh bản sắc nơi chốn, khi du khách nhìn nhận điểm đến như một phần phản chiếu hệ giá trị và hình ảnh cá nhân, họ có xu hướng duy trì mối quan hệ dài hạn và gia tăng ý định quay lại (Isa và cộng sự, 2020). Đồng thời, sự gắn kết xã hội và cảm giác thuộc về tại điểm đến làm tăng giá trị biểu tượng của trải nghiệm, thúc đẩy hành vi quay trở lại (Ramkissoon và cộng sự, 2013). Do vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

H3: Gắn kết nơi chốn tác động tích cực đến Ý định quay lại.

Dựa vào những lập luận trên, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất vai trò trung gian của gắn kết nơi chốn trong mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch tâm linh và ý định quay lại của du khách như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Vai trò trung gian của gắn kết nơi chốn trong mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch tâm linh và ý định quay lại của du khách

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc xây dựng bảng hỏi dựa trên thang đo Likert 5 điểm, kế thừa từ các nghiên cứu uy tín trước đó. Cụ thể, Kể chuyện lịch sử (KC) được đo lường qua 4 biến quan sát theo Fang và cộng sự (2024), Tính tâm linh (TTL) gồm 9 biến theo Kim và Chen (2021). Biến bậc cao Gắn kết nơi chốn (GKNC) gồm 4 nhân tố theo Isa và cộng sự (2020) bao gồm: Bản sắc nơi chốn (IDEN - 6 biến), Kết nối xã hội (SB - 3 biến), Sự phụ thuộc vào nơi chốn (DEP - 6 biến) và Tình cảm nơi chốn (AFF - 4 biến). Cuối cùng, Ý định quay lại (YĐ) được đo lường bằng 3 biến quan sát theo đề xuất của Haliman và Tan (2023).

Dữ liệu được thu thập trực tuyến qua Google Forms từ tháng 11/2025 đến tháng 01/2026 bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Với 433 phiếu hợp lệ, quy mô mẫu đáp ứng tốt tiêu chuẩn mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) cho 35 biến quan sát (Hair và cộng sự, 2019). Đặc điểm nhân khẩu học nổi bật với 65,13% nam giới, phần lớn thuộc độ tuổi từ 18-24 và 35-44; trình độ từ đại học trở lên chiếm trên 92% và 63,51% đối tượng không theo tôn giáo.

Phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm SmartPLS 4 thông qua mô hình PLS-SEM. Quy trình bao gồm đánh giá mô hình đo lường (độ tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt) và kiểm định mô hình cấu trúc bằng kỹ thuật bootstrapping. Riêng biến bậc cao GKNC được xử lý bằng phương pháp chỉ báo lặp theo mô hình phản xạ - phản xạ nhằm đảm bảo tính chuẩn xác cho các mục tiêu nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định mô hình đo lường bậc 1

Kiểm định mô hình đo lường bậc 1

Bảng 1: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo trong mô hình đo lường bậc 1

Cronbach’s Alpha

CR (rho_a)

CR (rho_c)

AVE

AFF

0,887

0,888

0,922

0,747

DEP

0,860

0,931

0,905

0,648

KC

0,895

0,896

0,927

0,761

IDEN

0,914

0,918

0,933

0,700

0,877

0,877

0,924

0,803

SB

0,741

0,753

0,853

0,660

TTL

0,929

0,931

0,941

0,639

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả Bảng 1 cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,741 đến 0,929 (> 0,70). Các cấu trúc tiềm ẩn thể hiện mức độ hội tụ mạnh mẽ với chỉ số AVE từ 0,639 đến 0,803 (> 0,5), phù hợp để thực hiện các phân tích tiếp theo (Nunnally và Bernstein, 1994; Hair và cộng sự, 2019).

Bảng 2: Kết quả đánh giá giá trị phân biệt HTMT

AFF

DEP

KC

IDEN

SB

TTL

AFF

DEP

0,653

KC

0,748

0,497

IDEN

0,680

0,820

0,520

0,796

0,568

0,720

0,596

SB

0,904

0,776

0,761

0,771

0,805

TTL

0,811

0,641

0,637

0,726

0,684

0,808

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Về giá trị phân biệt, nghiên cứu sử dụng chỉ số tỷ lệ dị biệt - đơn biệt (HTMT) để đánh giá. Bảng 2 cho thấy, mặc dù hầu hết các giá trị đều đạt mức khuyến nghị (< 0,85) theo Henseler và cộng sự (2015), song kết quả vẫn ghi nhận hiện tượng tương quan cao hơn bình thường (0,904) giữa SB và AFF thuộc thang đo của GKNC. Hiện tượng này có thể lý giải qua đặc thù của loại hình DLTL Việt Nam, nơi các trải nghiệm mang tính cộng đồng cao như đi lễ cùng gia đình, tham gia các nghi thức tập thể hoặc tương tác với những du khách khác. Những tương tác xã hội này có thể đồng thời góp phần hình thành cảm xúc gắn bó với địa điểm, dẫn đến mức độ tương quan cao giữa 2 khía cạnh. Do đó, nghiên cứu thiết lập mô hình cấu trúc bậc cao để tổng hợp các thành phần này. Cách tiếp cận này không chỉ giải quyết vấn đề tương quan giữa các biến con mà còn đảm bảo tính chắc chắn của giá trị phân biệt trong mô hình tổng thể theo Fornell và Larcker (1981).

Kiểm định mô hình cấu trúc

Kết quả ở Bảng 3 cho thấy chỉ số SRMR ở mô hình bão hòa (0,059) và mô hình ước lượng (0,090) đều nằm trong ngưỡng an toàn (< 0,1) theo Hu và Bentler (1999).

Bảng 3: Kết quả đánh giá độ phù hợp mô hình

hình bão hoà

hình ước lượng

SRMR

0,059

0,090

d_ULS

2,160

5,137

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Các giá trị R2 của các biến phụ thuộc trong Bảng 4 dao động từ 0,482 đến 0,639, do vậy, các biến độc lập giải thích được một tỷ lệ phương sai đáng kể của biến phụ thuộc. Đáng chú ý, R2 và R2 hiệu chỉnh có độ lệch rất nhỏ (0,001-0,003), cho thấy mô hình có tính ổn định cao.

Bảng 4: Kết quả giá trị R2

R2

R2 hiệu chỉnh

AFF

0,629

0,628

DEP

0,372

0,369

IDEN

0,468

0,466

0,539

0,535

SB

0,533

0,531

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Các giá trị VIF ở Bảng 5 cho thấy hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra vì dao động từ 2,046 đến 2,767 (< 5,0) theo Hair và cộng sự (2019).

Bảng 5: Đánh giá đa cộng tuyến

VIF

VIF

VIF

AFF

2,409

YĐ1

2,138

TTL3

2,412

DEP

2,474

YĐ2

2,571

TTL4

2,325

KC1

2,249

YĐ3

2,607

TTL5

2,046

KC2

2,450

SB

2,560

TTL6

2,712

KC3

2,588

TTL1

2,587

TTL7

2,747

KC4

2,581

TTL2

2,767

TTL8

2,465

IDEN

2,552

TTL9

2,347

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kiểm định mô hình đo lường bậc 2

Kết quả ở Bảng 6 cho thấy các hệ số Cronbach’s Alpha (từ 0,874-0,929) và độ tin cậy tổng hợp CR (từ 0,877-0,929) đều vượt ngưỡng tiêu chuẩn, phản ánh tính nhất quán nội tại cao. Chỉ số AVE > 0,50 đảm bảo giá trị hội tụ theo Nunnally và Bernstein (1994), Hair và cộng sự (2019).

Bảng 6: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo trong mô hình đo lường bậc 2

Cronbach's Alpha

CR (rho_a)

CR (rho_c)

AVE

KC

0,895

0,897

0,927

0,761

GKNC

0,885

0,894

0,920

0,742

0,877

0,879

0,924

0,803

TTL

0,929

0,930

0,941

0,639

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả ở Bảng 7 cho thấy các biến tiền đề giải thích được phần lớn sự biến thiên của biến phụ thuộc, lần lượt là 67,2% và 50,2%. Sự chênh lệch không đáng kể giữa R² và R² hiệu chỉnh cũng khẳng định tính ổn định của mô hình.

Bảng 7: Kết quả giá trị

R² hiệu chỉnh

GKNC

0,672

0,671

0,502

0,501

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Theo Cohen (2013), kết quả tại Bảng 8 nhấn mạnh vai trò trung gian của GKNC trong mô hình. Cụ thể, GKNC bị ảnh hưởng mạnh nhất từ TTL với hệ số ảnh hưởng lớn (f² = 0,744), cao hơn hẳn so với tác động của HI (f² = 0,182). Quan trọng hơn, GKNC chính là động lực thúc đẩy YĐ với mức độ ảnh hưởng rất lớn (f² = 1,007). Phát hiện này khẳng định rằng, trải nghiệm tâm linh dẫn tới sự GKNC là yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch quay lại.

Bảng 8: Kết quả đánh giá kích thước ảnh hưởng

KC -> GKNC

0,182

GKNC -> YĐ

1,007

TTL -> GKNC

0,744

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kiểm định các giả thuyết

Bảng 9: Kết quả kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Hệ số

đường dẫn

Độ lệch chuẩn

Giá trị T

P-values

2,5%

97,5%

H1: KC -> GKNC

0,300

0,049

4,288

0,000

0,215

0,389

H2: TTL -> GKNC

0,560

0,049

11,545

0,000

0,519

0,757

H3: GKNC -> YĐ

0,708

0,026

27,759

0,000

0,657

0,687

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả kiểm định độ tin cậy của các giả thuyết ở Bảng 9 cho thấy cả 3 giả thuyết đề xuất trong mô hình đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa thống kê 99% (P-values = 0,000 < 0,001). KC có tác động tích cực và thuận chiều tới GKNC, cho thấy việc truyền tải các câu chuyện lịch sử hấp dẫn giúp khách du lịch hình thành mối liên kết cảm xúc tốt hơn với điểm đến. Đáng chú ý, hệ số tác động của TTL (β2 = 0,560) tới GKNC lớn gần gấp đôi so với KC (β1 = 0,300), chỉ ra rằng, yếu tố tâm linh đóng vai trò chủ đạo hơn trong việc nuôi dưỡng cảm xúc gắn bó của du khách so với các yếu tố lịch sử đơn thuần. Động cơ của nhiều du khách khi đến các điểm đến tâm linh thường gắn với nhu cầu trải nghiệm niềm tin, cầu may hoặc tìm kiếm sự bình an nội tâm, thay vì chỉ đơn thuần tìm hiểu thông tin lịch sử. Các nghiên cứu về du lịch tôn giáo và tâm linh cũng cho thấy rằng du khách thường bị thu hút bởi những trải nghiệm mang ý nghĩa tinh thần và cảm xúc cá nhân khi tham gia các hoạt động tại điểm đến tâm linh (Nguyễn Minh Hương, 2022).

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa GKNC và YĐ là tác động mạnh nhất trong mô hình nghiên cứu. Cụ thể, hệ số đường dẫn đạt mức rất cao (β3 = 0,708) với chỉ số T vượt trội (T = 27,759 và p = 0,000), khẳng định vai trò then chốt của sự gắn kết với ý định quay lại của du khách. Khoảng tin cậy hiệu chỉnh ở mức 2,5% và 97,5% của các giả thuyết đều không chứa giá trị 0 củng cố thêm tính chắc chắn của kết quả và khẳng định rằng các mối quan hệ tác động được phát hiện là thực sự tồn tại trong tổng thể chứ không phải do ngẫu nhiên của mẫu khảo sát.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận và hàm ý quản trị

Về học thuật, kết quả kiểm định cho thấy việc phát huy giá trị và sự lan tỏa của các câu chuyện lịch sử có khả năng làm gia tăng cảm giác gắn bó của du khách đối với một điểm đến tâm linh. Tính tâm linh cũng ảnh hưởng tích cực đến Gắn kết nơi chốn, tương đồng với quan điểm của Armand (2025). Đặc biệt, nghiên cứu này đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu của Şahin và Guzel (2024) bằng cách kiểm định mối quan hệ giữa Gắn kết nơi chốn và Ý định quay lại trong bối cảnh du lịch tâm linh, củng cố vai trò của Gắn kết nơi chốn trong nhiều bối cảnh du lịch khác nhau. Nghiên cứu đã góp phần mở rộng khung lý thuyết S-O-R trong bối cảnh DLTL tại Việt Nam và làm rõ vai trò trung gian của Gắn kết nơi chốn trong việc chuyển đổi từ cảm nhận về Tính tâm linh và Kể chuyện lịch sử tới Ý định quay lại các điểm đến của khách du lịch.

Về thực tiễn, nghiên cứu này mang lại những hàm ý quản trị quan trọng cho việc phát triển DLTL tại Việt Nam. Trước hết, tính tâm linh cần được xem là yếu tố cốt lõi trong quản lý và thiết kế trải nghiệm điểm đến. Điều này gợi ý rằng các nhà quản lý nên ưu tiên duy trì không gian linh thiêng, thông qua các chính sách rõ ràng, như: hạn chế khách du lịch tham quan trong các nghi lễ tôn giáo, cung cấp các chương trình giáo dục cho du khách và đảm bảo phân tách hợp lý giữa không gian thiêng liêng và không gian du lịch, hạn chế thương mại hóa quá mức (Mahardika, 2025). Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất nhà quản lý điểm đến nên tạo điều kiện cho các hoạt động mang tính chiêm nghiệm, để gia tăng chiều sâu cảm xúc và ý nghĩa tinh thần cho du khách.

Bên cạnh đó, truyền tải các giá trị lịch sử và văn hóa thông qua những câu chuyện có chiều sâu, giàu cảm xúc sẽ giúp du khách nảy sinh sự đồng cảm và tạo dựng những ký ức lâu dài về trải nghiệm. Điều này sẽ giúp giới thiệu ý nghĩa lịch sử phong phú và di sản văn hóa của điểm đến cho du khách, cho phép họ đắm mình vào trải nghiệm tâm linh, nâng cao sự hài lòng và hướng tới không gian phát triển rộng lớn hơn trên thị trường du lịch. Đặc biệt, có thể phát triển những trải nghiệm tâm linh thông qua bầu không khí, con người và các hoạt động liên quan đến địa điểm đó. Các chiến lược quản trị không nên chỉ tập trung vào sự hài lòng ngắn hạn, mà cần hướng đến việc xây dựng mối liên kết cảm xúc dài hạn thông qua việc củng cố bản sắc nơi chốn, tăng cường kết nối xã hội và cá nhân hóa các trải nghiệm du lịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Mặc dù đạt được những kết quả có ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn, song nghiên cứu vẫn không tránh khỏi một số hạn chế nhất định. Thứ nhất, nghiên cứu được thực hiện theo phương thức cắt lớp nên chưa phản ánh được tính biến động của ý định quay lại theo thời gian. Thứ hai, dữ liệu tự báo cáo có thể chịu ảnh hưởng của chênh lệch xã hội. Thứ ba, việc chỉ khảo sát du khách nội địa tại Việt Nam làm hạn chế khả năng khái quát hóa kết quả. Do đó, các nghiên cứu tương lai nên xem xét kết hợp phương pháp định tính hoặc phân tích dữ liệu hành vi để tăng tính khách quan, đồng thời thực hiện các nghiên cứu so sánh liên văn hóa nhằm làm phong phú thêm hiểu biết về lĩnh vực du lịch tâm linh trên quy mô toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. Armand, C. (2025). Spirituality in Place: Assessment of Spirituality, Place Attachment, and Locus of Control in College. Honors Undergraduate Thesis, Dept. of Psychology, University of Central Florida, Orlando, FL, USA

2. Bowlby, J., Ainsworth, M., & Bretherton, I. (1992). The origins of attachment theory. Developmental Psychology, 28(5), 759-775. https://doi.org/10.1037/0012-1649.28.5.759

3. Chronis, A. (2005b). Our Byzantine heritage: consumption of the past and its experiential benefits. Journal of Consumer Marketing, 22(4), 213-222. https://doi.org/10.1108/07363760510605326

4. Fang, Y., He, X., Su, X., Xu, Q., Qiu, X., Yang, X., & Wu, G. (2025). Place Attachment’s Mediating Role in Rural Residents’ Perceived Value of Tourism and Pro-Environmental Behavior of Rural Tourism Destinations in Western Sichuan Plateau Under Climate Change. Sustainability, 17(23), 10453. https://doi.org/10.3390/su172310453

5. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error. Journal of marketing research, 18(1), 39-50. https://doi.org/10.1177/002224378101800104

6. Future Market Insights (2024). Faith-based Tourism Market Outlook - Global Industry Analysis, Size, Share, Growth, Trends and Forecast 2024-2034 [Market Research Report]. https://www.futuremarketinsights.com/reports/faith-based-tourism-sector-overview

7. Grand View Research (2024). Religious tourism market (2025–2030): Size, share & trends analysis report by type, by age group, by region, and segment forecasts. https://www.grandviewresearch.com/industry-analysis/religious-tourism-market-report

8. Ha Anh (2025). A nation of faith: Vietnam embraces 16 religions, 28 million followers. https://vietnamnet.vn/en/a-nation-of-faith-vietnam-embraces-16-religions-28-million-followers-2439618.html

9. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European business review, 31(1), 2-24. https://doi.org/10.1108/EBR-11-2018-0203

10. Haliman, Y., & Tan, P. S. (2023). An Analysis of Theory of Planned Behavior (TPB) on Revisit Intention: Mediating Effect of Attitude to Visit. International Journal of Economics Development Research, 4(1), 248-259. https://doi.org/10.37385/ijedr.v4i2.2232

11. Henseler, J., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the academy of marketing science, 43(1), 115-135. https://doi.org/10.1007/s11747-014-0403-8

12. Hidalgo, M. C., & Hernandez, B. (2001). Place attachment: Conceptual and empirical questions. Journal of environmental psychology, 21(3), 273-281.

13. Hu, L. t., & Bentler, P. M. (1999). Cutoff criteria for fit indexes in covariance structure analysis: Conventional criteria versus new alternatives. Structural equation modeling: a multidisciplinary journal, 6(1), 1-55. https://doi.org/10.1080/10705519909540118

14. Isa, S. M., Ariyanto, H. H., & Kiumarsi, S. (2020). The effect of place attachment on visitors’ revisit intentions: evidence from Batam. Tourism Geographies. https://doi.org/10.1080/14616688.2019.1618902

15. Kim, B., & Chen, Y. (2021). The effects of spirituality on visitor behavior: A cognitive‐affective‐conative model: The effects of spirituality on visitor behavior. International Journal of Tourism Research, 23(6), 1151-1162. https://doi.org/10.1002/jtr.2474

16. Long & Nguyen (2018). Sustainable development of rural tourism in An Giang Province, Vietnam. Sustainability, 10(4), 953. https://doi.org/10.3390/su10040953

17. Mehrabian, A., & Russell, J. A. (1974). An approach to environmental psychology. The MIT Press.

18. Moscardo, G. (1996). Mindful visitors: Heritage and tourism. Annals of tourism research, 23(2), 376-397. https://doi.org/10.1016/0160-7383(95)00068-2

19. Nguyễn Minh Hương (2022). Khai thác du lịch tâm linh từ khía cạnh các công ty du lịch. https://tapchicongthuong.vn/khai-thac-du-lich-tam-linh-tu-khia-canh-cac-cong-ty-du-lich-88065.htm

20. Nguyễn Thị Tú (2021). Giải pháp phát triển DLTL Việt Nam. Tạp chí Khoa học Thương mại, 18-27.

21. Nunnally, J., & Bernstein, I. (1994). Psychometric Theory, 3r ed., McGraw-Hill, New York, NY.

22. Nursyamsiah, R. A., & Setiawan, R. P. (2023). Does place attachment act as a mediating variable that affects revisit intention toward a revitalized park? Alexandria Engineering Journal, 64, 999-1013. https://doi.org/10.1016/j.aej.2022.08.030

23. Palombini, A. (2017). Storytelling and telling history. Towards a grammar of narratives for Cultural Heritage dissemination in the Digital Era. Journal of cultural heritage, 24, 134-139. https://doi.org/10.1016/j.culher.2016.10.017

24. Pargament, K. I. (2013). Searching for the sacred: Toward a nonreductionistic theory of spirituality. https://doi.org/10.1037/14045-014

25. Ramkissoon, H., Smith, L. D. G., & Weiler, B. (2013). Testing the dimensionality of place attachment and its relationships with place satisfaction and pro-environmental behaviours: A structural equation modelling approach. Tourism management, 36, 552-566. https://doi.org/10.1016/j.tourman.2012.09.003

26. Şahin, İ., & Güzel, F. Ö. (2024). Dimensions of spirituality in tourism: Developing the spiritual tourism experience scale (STES). Journal of destination marketing & management, 34, 100955. https://doi.org/10.1016/j.jdmm.2024.100955

27. Tan, W.-K., & Huang, S.-Y. (2020). Why visit theme parks? A leisure constraints and perceived authenticity perspective. Journal of Retailing and Consumer Services, 57, 102194.

28. Zhang, G., Huang, K., & Shen, S. (2023). Impact of spiritual values on tourists’ psychological wellbeing: evidence from China’s Buddhist mountains. Frontiers in psychology, 14, 1136755. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2023.1136755

Ngày nhận bài: 8/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 28/3/2026; Ngày duyệt đăng: 12/4/2026

Các tin khác

Tác động của quản trị đổi mới sáng tạo xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của thực thi ESG: Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

Tác động của quản trị đổi mới sáng tạo xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của thực thi ESG: Nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và áp lực từ các cam kết giảm phát thải quốc tế (tiêu chuẩn Net Zero, rào cản thuế carbon CBAM của EU), chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu sống còn đối với các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm thời trang thể thao của Gen Z tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm thời trang thể thao của Gen Z tại Việt Nam

Sự phát triển của chuyển đổi số, thương mại điện tử và mạng xã hội đang làm thay đổi hành vi mua sắm của Gen Z. Trong đó, nhóm sản phẩm thời trang thể thao ngày càng được quan tâm nhờ xu hướng sống năng động, chú trọng sức khỏe và khả năng tiếp cận thông tin trực tuyến nhanh chóng.
Tác động của GenAI đến hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng: Hàm ý quản trị thương hiệu đối với doanh nghiệp

Tác động của GenAI đến hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng: Hàm ý quản trị thương hiệu đối với doanh nghiệp

Nghiên cứu này phân tích tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đối với hành vi tìm kiếm thông tin trước mua của người tiêu dùng và rút ra các hàm ý đối với quản trị thương hiệu cho doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam.
Hiệu quả công việc của nhân sự kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh và những các yếu tố tác động

Hiệu quả công việc của nhân sự kế toán trong bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh và những các yếu tố tác động

Chuyển đổi số đang làm thay đổi hoạt động kế toán, đặt ra yêu cầu đánh giá các yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của nhân sự kế toán tại doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
Phát triển kinh tế tuần hoàn dưới góc nhìn lý luận tái sản xuất của C. Mác

Phát triển kinh tế tuần hoàn dưới góc nhìn lý luận tái sản xuất của C. Mác

Mặc dù khái niệm kinh tế tuần hoàn xuất hiện trong bối cảnh hiện đại, song có thể bắt gặp tư tưởng sản xuất tuần hoàn, liên tục trong lý luận tái sản xuất xã hội của C. Mác.
Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Kết quả là, sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu không còn chỉ được quyết định bởi hiệu quả chi phí, lợi thế lao động hay năng lực sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng thích ứng của các doanh nghiệp với những áp lực toàn cầu mới nổi liên quan đến tính bền vững, khả năng phục hồi, tính minh bạch và năng lực số.
Tác động của nội dung do AI tạo ra trong hoạt động marketing đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng tại Việt Nam

Tác động của nội dung do AI tạo ra trong hoạt động marketing đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hành vi người tiêu dùng trong môi trường số, đồng thời cung cấp các hàm ý quản trị cho doanh nghiệp trong quá trình ứng dụng AI vào hoạt động marketing.
Ảnh hưởng của các nhân tố nội bộ đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Ảnh hưởng của các nhân tố nội bộ đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng thương mại điện tử tại các chợ đầu mối TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của đặc điểm hộ kinh doanh

Các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng thương mại điện tử tại các chợ đầu mối TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của đặc điểm hộ kinh doanh

Thông qua kết quả khảo sát đối với 750 hộ kinh doanh tại 5 chợ đầu mối lớn của TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu phân tích vai trò điều tiết của 3 đặc điểm hộ kinh doanh (Quy mô doanh nghiệp, Kinh nghiệm kinh doanh và Ngành hàng chủ đạo) trong mối quan hệ giữa các nhân tố thể chế/nguồn lực và quyết định sử dụng thương mại điện tử tại các chợ đầu mối TP. Hồ Chí Minh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Gemini AI trong học tập và nghiên cứu của sinh viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Gemini AI trong học tập và nghiên cứu của sinh viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Việc sử dụng Gemini AI trong giáo dục đại học mang lại nhiều lợi ích học thuật nhưng cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu về quyền riêng tư, khả năng tiếp cận và mức độ chấp nhận của sinh viên.