Vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia: Tiếp cận từ mô hình liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân

Kinh tế 10:55 | 20/08/2026 Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì là chủ thể trực tiếp huy động nguồn lực, tiếp nhận công nghệ, kết nối nghiên cứu với nhu cầu thị trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai

Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị Khu vực IV

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích vai trò doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia Việt Nam trên cơ sở làm rõ khái niệm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khung liên kết 4 chủ thể (Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân); đồng thời, đánh giá vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam. Từ đó, bài viết xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp/khuyến nghị chính sách đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, mô hình liên kết, Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học, người dân

Abstract

The article examines the role of enterprises in Viet Nam’s national innovation ecosystem by clarifying the concept of the innovation ecosystem and the linkage framework involving four key actors: the government, enterprises, scientists, and citizens. It also assesses the role of enterprises within Viet Nam’s innovation ecosystem. Based on this analysis, the article identifies key challenges and proposes several solutions and policy recommendations for Vietnamese enterprises in the current context.

Keywords: Innovation, linkage model, government, enterprises, scientists, citizens

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ bán dẫn và các nền tảng số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ở Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một đột phá chiến lược; đồng thời khẳng định doanh nghiệp và người dân là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực của quá trình này. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trong nghiên cứu về đổi mới sáng tạo, các mô hình Triple Helix, Quadruple Helix, Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (National Innovation System) và Đổi mới sáng tạo mở (Open Innovation) đều cho thấy hiệu quả đổi mới sáng tạo phụ thuộc vào mức độ liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và xã hội. Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì là chủ thể trực tiếp huy động nguồn lực, tiếp nhận công nghệ, kết nối nghiên cứu với nhu cầu thị trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Tuy nhiên, thực tiễn ở Việt Nam cho thấy vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vẫn chưa được phát huy tương xứng với tiềm năng. Năng lực nghiên cứu và phát triển của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu chưa thật sự hiệu quả; hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu đề cập đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoặc chính sách khoa học và công nghệ nói chung, chưa phân tích một cách hệ thống vai trò của doanh nghiệp trong mô hình liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân. Do đó, việc làm rõ vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; phân tích thực trạng thực hiện các vai trò này ở Việt Nam; đồng thời đề xuất một số giải pháp/khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của doanh nghiệp trong mô hình liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân, góp phần thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước bền vững là cần thiết.

VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Trên nền tảng khung liên kết 4 chủ thể, doanh nghiệp nổi lên như trung tâm vận hành của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo đó, doanh nghiệp thực hiện các vai trò chủ yếu sau:

Huy động nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo

Trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, doanh nghiệp là một trong những chủ thể quan trọng huy động nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và đổi mới sáng tạo. Theo các mô hình Triple Helix, Quadruple Helix và Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, doanh nghiệp không chỉ là nơi ứng dụng công nghệ mà còn là nhà đầu tư cho hoạt động nghiên cứu.

Thông qua việc xây dựng trung tâm R&D, phòng thí nghiệm, quỹ khoa học và công nghệ hoặc đầu tư cho các dự án nghiên cứu, doanh nghiệp góp phần bổ sung nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, như: Viettel, FPT, VNPT, Vingroup hay Vinamilk, chẳng hạn, đã tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ số, AI, Big Data và tự động hóa. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn tài trợ, đặt hàng và hợp tác nghiên cứu với các trường đại học, viện nghiên cứu, góp phần gắn kết hoạt động khoa học với nhu cầu thực tiễn. Quan trọng hơn, quá trình đầu tư cho R&D giúp hình thành năng lực công nghệ nội sinh, nâng cao khả năng tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới. Đây là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và nhu cầu thị trường

Một trong những hạn chế phổ biến của hoạt động khoa học và công nghệ là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa nhà khoa học và thị trường.

Với tư cách là chủ thể trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có điều kiện nhận diện nhu cầu công nghệ, xu hướng tiêu dùng và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu để phát triển các giải pháp phù hợp với yêu cầu của thị trường. Thông qua hoạt động này, doanh nghiệp góp phần định hướng nghiên cứu theo hướng ứng dụng, nâng cao khả năng chuyển giao và sử dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - phát triển - sản xuất - thị trường, qua đó nâng cao hiệu quả của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Trung tâm của quá trình thương mại hóa tri thức và đổi mới sáng tạo

Trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu là quá trình chuyển tri thức khoa học thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế - xã hội. Với khả năng huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong quá trình này. Doanh nghiệp tham gia hoàn thiện công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và mở rộng quy mô sản xuất, qua đó đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đây là khâu quyết định hiệu quả cuối cùng của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã trở thành lực lượng tiên phong trong thương mại hóa công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chẳng hạn, Viettel phát triển các sản phẩm công nghệ số và viễn thông thế hệ mới; FPT đẩy mạnh các nền tảng chuyển đổi số và AI; VinFast phát triển xe điện; Vinamilk ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Những kết quả đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận mà còn là chủ thể chuyển hóa tri thức thành động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng

Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên sang dựa vào năng suất, tri thức và công nghệ. Thông qua chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ứng dụng AI, Big Data và tự động hóa, doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Qua đó, doanh nghiệp trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh cao hơn.

Phát triển giá trị văn hóa - xã hội - con người

Trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn góp phần phát triển các giá trị văn hóa, xã hội và con người. Thông qua trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh và các hoạt động đổi mới sáng tạo vì cộng đồng, doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong giáo dục, y tế, văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa giúp lan tỏa tri thức, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc và thúc đẩy phát triển con người trong kỷ nguyên số.

ĐÓNG GÓP CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VIỆT NAM

Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục cải thiện vị trí trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam tiếp tục duy trì thứ hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế như năm 2024. Việt Nam tiếp tục duy trì thứ hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế như năm 2024. Đặc biệt, Việt Nam có sự cải thiện ở đầu vào đổi mới sáng tạo, tăng 3 bậc so với năm 2023, từ 53 lên 50. Trong 15 năm liền, Việt Nam luôn có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo. Kết quả này phản ánh sự tiến bộ đồng bộ của thể chế, khoa học - công nghệ và đặc biệt là khu vực doanh nghiệp trong chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế.

Thứ hai, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã hình thành các thiết chế trung tâm, tiêu biểu là Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC). NIC đóng vai trò đầu mối kết nối doanh nghiệp, viện nghiên cứu, startup và quỹ đầu tư. Qua đó, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng liên kết công - tư trong nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.

Thứ ba, doanh nghiệp lớn ngày càng thể hiện rõ vai trò dẫn dắt R&D và công nghệ lõi. Chẳng hạn, Viettel đầu tư mạnh vào 5G, AI, an ninh mạng và công nghệ bán dẫn, hạ tầng số. Doanh thu hợp nhất của Viettel năm 2025 là 220.000 tỷ đồng, hoàn thành 105,1% kế hoạch, tăng trưởng 13,5% và duy trì tăng 2 con số trong 2 năm liên tiếp. Trong lĩnh vực phần mềm và dịch vụ CNTT, FPT ghi nhận doanh thu thị trường nước ngoài vượt mốc 35.000 tỷ đồng, tăng gần 15%, tiếp tục là trụ cột xuất khẩu dịch vụ công nghệ của Việt Nam (Hồng Quang & Hữu Thọ, 2026). VinFast tham gia sâu vào chuỗi giá trị xe điện toàn cầu, trong khi Vinamilk hợp tác quốc tế để nâng cấp công nghệ và sản phẩm. Nhìn chung, doanh nghiệp đang trở thành lực lượng trung tâm trong R&D, thương mại hóa và làm chủ công nghệ.

Thứ tư, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển nhanh, mở rộng không gian đổi mới của doanh nghiệp. HIện nay, Việt Nam đã có hàng nghìn startup cùng hàng trăm quỹ đầu tư và tổ chức hỗ trợ. Năm 2025, tổng vốn đầu tư vào cổ phần tư nhân (PE) và vốn đầu tư mạo hiểm (VC) tại Việt Nam đạt khoảng 4,5 tỷ USD thông qua 149 thương vụ, tăng gần gấp đôi so với mức 2,3 tỷ USD của năm 2024. Trong đó, vốn đầu tư mạo hiểm tăng từ 398 triệu USD lên 509 triệu USD (Thu Minh, 2026). Đây là lực lượng bổ trợ quan trọng cho đổi mới sáng tạo doanh nghiệp, đặc biệt trong kinh tế số.

Thứ năm, chuyển đổi số và kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới của doanh nghiệp. Với giá trị tăng thêm đạt khoảng 72,1 tỷ USD, tăng trưởng 14,6% và đóng góp 14,02% vào GDP, kinh tế số khẳng định là một trong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2025. Riêng năm 2025, trong cơ cấu 14,02% đóng góp vào GDP, các ngành kinh tế số lõi vẫn giữ vai trò “đầu tàu”. Đây là những nhóm ngành bao gồm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính; Viễn thông; Lập trình máy tính và xử lý dữ liệu. Với việc đóng góp tới 8,42% GDP (chiếm hơn 60% tổng giá trị kinh tế số), nhóm ngành lõi đóng vai trò cung cấp hạ tầng, công cụ và nền tảng cho toàn bộ các hoạt động kinh tế khác (Anh Nhi, 2026).

Từ thực tiễn trên, có thể khẳng định vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam. Doanh nghiệp đã trở thành chủ thể quan trọng trong đầu tư R&D. Đồng thời, doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và thị trường thông qua hợp tác với viện, trường và các thiết chế trung gian như NIC. Bên cạnh đó, doanh nghiệp giữ vai trò chủ lực trong thương mại hóa công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và viễn thông. Doanh nghiệp cũng góp phần thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng số hóa, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh. Một số doanh nghiệp bước đầu mở rộng sang lĩnh vực xã hội - văn hóa - con người thông qua giáo dục số, y tế số, công nghiệp văn hóa và trách nhiệm xã hội.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Bên cạnh kết quả đạt được, một số hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam trong đổi mới sáng tạo như sau:

Một là, năng lực R&D của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Tỷ lệ chi cho R&D mới đạt khoảng 0,4% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình thế giới trên 2% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024). Mặc dù khu vực doanh nghiệp chiếm khoảng 58% tổng chi R&D quốc gia, nhưng chủ yếu tập trung ở một số tập đoàn lớn, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa hình thành năng lực R&D một cách hệ thống. Điều này cho thấy vai trò dẫn dắt đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chưa lan tỏa rộng trong toàn nền kinh tế.

Hai là, liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu và trường đại học còn yếu. Đến năm 2024, tỷ lệ doanh nghiệp có hợp tác nghiên cứu với viện, trường chỉ đạt khoảng 20%-25%, chủ yếu mang tính ngắn hạn và thiếu cơ chế đồng sáng tạo (Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam, 2025). Điều này làm suy giảm hiệu quả kết nối trong hệ sinh thái, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ kết quả nghiên cứu để đổi mới sản xuất.

Ba là, hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp. Theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), năm 2025, Việt Nam có trên 180.000 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, nhưng tỷ lệ chuyển giao và thương mại hóa thành sản phẩm thị trường vẫn hạn chế (Trọng Đạt, 2025). Hệ thống trung gian công nghệ, định giá tài sản trí tuệ và sàn giao dịch công nghệ chưa phát triển đồng bộ, làm gián đoạn vai trò doanh nghiệp trong chuỗi “nghiên cứu - thị trường”.

Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực khoa học - công nghệ còn hạn chế. Theo Sách trắng “Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024” , Việt Nam hiện có khoảng 767 nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (trên 9.000) và Singapore (trên 6.000). Thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn và tự động hóa đang trực tiếp làm suy giảm năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Năm là, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển chưa đồng đều giữa các ngành và địa phương. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến năm 2024, Việt Nam hiện có khoảng 75.000 doanh nghiệp công nghệ số và gần 4.000 startup, nhưng tập trung chủ yếu tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số khu công nghệ cao (Minh Sơn, 2025). Điều này cho thấy mức độ lan tỏa của đổi mới sáng tạo và vai trò doanh nghiệp trong hệ sinh thái còn chưa đồng đều.

Những hạn chế trên cho thấy vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam chưa được phát huy đầy đủ và đồng bộ. Hạn chế về R&D phản ánh doanh nghiệp chưa thực sự trở thành chủ thể dẫn dắt đổi mới công nghệ; liên kết yếu giữa doanh nghiệp - viện - trường cho thấy sự thiếu gắn kết trong chuỗi tri thức; thương mại hóa còn thấp thể hiện vai trò doanh nghiệp trong chuyển hóa tri thức chưa rõ nét; hạn chế về nhân lực làm suy giảm năng lực hấp thụ công nghệ; và sự phát triển không đồng đều của hệ sinh thái cho thấy mức độ lan tỏa vai trò doanh nghiệp còn hạn chế. Nhìn chung, đây là vấn đề mang tính hệ thống, gắn trực tiếp với việc chưa phát huy đầy đủ vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Nhằm tiếp tục phát huy vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, theo tác giả, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Theo đó cần: (i) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện Luật Khoa học và Công nghệ theo hướng tăng cơ chế đặt hàng, cơ chế đồng tài trợ R&D và cơ chế chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ giữa Nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp; (ii) Mở rộng cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các lĩnh vực công nghệ mới như tAI, công nghệ số, công nghệ tài chính và công nghệ xanh, nhằm giảm độ trễ thể chế và tăng khả năng thương mại hóa đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Thứ hai là, tăng cường liên kết hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo đó cần: (i) Vận hành hiệu quả mô hình liên kết bốn chủ thể: Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân theo hướng thực chất, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm kết nối và chuyển hóa tri thức thành giá trị thị trường; (ii) Phát triển các thiết chế trung gian của hệ sinh thái như trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ, phòng thí nghiệm dùng chung và sàn giao dịch công nghệ, nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng; (iii) Thúc đẩy cơ chế đồng sáng tạo (co-creation) giữa doanh nghiệp và người dùng, qua đó tăng khả năng phát hiện nhu cầu thị trường và nâng cao hiệu quả đổi mới sản phẩm, dịch vụ.

Thứ ba, khuyến khích đầu tư R&D trong doanh nghiệp. Theo đó cần: (i) Hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng và tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhằm giảm chi phí và chia sẻ rủi ro cho doanh nghiệp khi đầu tư vào đổi mới sáng tạo; (ii) Phát triển các quỹ đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm và các chương trình hỗ trợ R&D, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm mở rộng nền tảng đầu tư cho đổi mới công nghệ. Qua đó, tăng cường vai trò doanh nghiệp như chủ thể đầu tư trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ. Theo đó cần: (i) Gắn kết chặt chẽ đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp thông qua mô hình hợp tác giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp trong đào tạo và thực hành; (ii) Tập trung đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, Big Data, bán dẫn và tự động hóa.

Thứ năm, phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Theo đó cần: (i) Hoàn thiện và mở rộng hệ thống sàn giao dịch công nghệ nhằm tăng cường kết nối giữa cung - cầu công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu; (ii) Phát triển các tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ, tư vấn và định giá công nghệ để nâng cao tính chuyên nghiệp và minh bạch của thị trường khoa học và công nghệ. Qua đó, tăng cường vai trò doanh nghiệp trong tiếp nhận, hấp thụ và thương mại hóa tri thức.

Thứ sáu, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo. Cụ thể cần: Thúc đẩy văn hóa chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Đồng thời, khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, đổi mới liên tục và thích ứng công nghệ trong toàn bộ hệ sinh thái. Qua đó, tạo nền tảng xã hội - văn hóa cho doanh nghiệp phát huy vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh Nhi (2026). Tăng thêm 72 tỷ USD, kinh tế số đóng góp hơn 14% vào GDP 2025. https://vneconomy.vn/tang-them-72-ty-usd-kinh-te-so-dong-gop-hon-14-vao-gdp-2025.htm

2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Báo cáo thị trường khoa học và công nghệ năm 2024.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Sách trắng “Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024”.

4. Hồng Quang & Hữu Thọ (2026). Doanh nghiệp công nghệ Việt: Khẳng định vai trò dẫn dắt. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/cac-van-de/doanh-nghiep-cong-nghe-viet-khang-dinh-vai-tro-dan-dat-1025595

5. Minh Sơn (2025). Việt Nam có hơn 75.000 doanh nghiệp công nghệ số hoạt động ổn định. https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-co-hon-75000-doanh-nghiep-cong-nghe-so-hoat-dong-on-dinh-post1049522.vnp

6. Thu Minh (2026). Không thiếu tiền, tổng vốn đổ vào cổ phần tư nhân và vốn đầu tư mạo hiểm đạt 4,5 tỷ USD năm 2025. https://vneconomy.vn/khong-thieu-tien-tong-von-do-vao-co-phan-tu-nhan-va-von-dau-tu-mao-hiem-dat-45-ty-usd-nam-2025.htm

7. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) (2025). Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025.

8. Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam (2025). Báo cáo tại Hội thảo “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ: Kết nối viện-trường-doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững”, ngày 3/10/2025.

9. Trọng Đạt (2025). Mỗi năm Việt Nam phát sinh 140.000 đăng ký sở hữu công nghiệp. https://vnexpress.net/moi-nam-viet-nam-phat-sinh-140-000-dang-ky-so-huu-cong-nghiep-4906747.html

Ngày nhận bài: 24/6/2026; Ngày phản biện: 29/7/2026; Ngày duyệt đăng: 14/8/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam: Đánh giá qua các chỉ số quốc tế và một số vấn đề đặt ra

Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam: Đánh giá qua các chỉ số quốc tế và một số vấn đề đặt ra

Đối với Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là một trong những yêu cầu trọng tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ

Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế số cấp tỉnh tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm từ phương pháp định tính tập mờ

Phát triển kinh tế số cấp tỉnh đang trở thành trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng của Việt Nam, khi cạnh tranh địa phương ngày càng gắn với chất lượng thể chế, năng lực số và khả năng hấp thụ đổi mới sáng tạo. Tuy vậy, khác biệt lớn giữa các tỉnh/thành cho thấy, cùng một kết quả có thể được tạo nên từ nhiều tổ hợp điều kiện.
Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam

Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển; tạo cơ sở chính sách cho việc nghiên cứu các yếu tố công nghệ gắn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.
Mức độ phụ thuộc đầu vào nhập khẩu và yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam

Mức độ phụ thuộc đầu vào nhập khẩu và yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam

Nghiên cứu đánh giá mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào đầu vào nhập khẩu, từ đó đề xuất giải pháp đa dạng hóa nguồn cung, giảm phụ thuộc và nâng cao khả năng chống chịu trong hội nhập quốc tế.
Biến động địa chính trị và tái cấu trúc kinh tế thế giới giai đoạn 2023-2026: Tác động đến thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu

Biến động địa chính trị và tái cấu trúc kinh tế thế giới giai đoạn 2023-2026: Tác động đến thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu

Bài viết phân tích quá trình thích ứng và tái cấu trúc kinh tế thế giới giai đoạn 2023-2026. Kết quả cho thấy biến động địa chính trị chủ yếu thúc đẩy dịch chuyển đối tác, tái cấu trúc thương mại và đa dạng hóa nguồn cung, qua đó định hình lại dòng thương mại, năng lượng và mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Chuyển đổi số, cải cách thể chế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Chuyển đổi số, cải cách thể chế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi số và cải cách thể chế, qua đó làm rõ vai trò của hai yếu tố này đối với tăng trưởng kinh tế. Việt Nam. Trên Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm khắc phục những hạn chế hiện hữu, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả cải cách thể chế trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.