Tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh
NCS. Cao Văn Tùng; TS. Phan Thị Ngàn
Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương
Email: [email protected]
TS. Trần Minh Tâm; ThS. Phạm Tấn Xuân Tước
Học viện Chính trị Khu Vực II
Tóm tắt
Bối cảnh đô thị hóa nhanh và gia tăng dân số tại các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh làm nổi bật nhu cầu cải thiện chất lượng sống, tiếp cận không gian xanh và chăm sóc sức khỏe của cư dân. Nông nghiệp đô thị nổi lên như một mô hình đa chức năng, không chỉ phục vụ sản xuất mà còn tích hợp các giá trị sinh thái, giáo dục và du lịch. Bài viết đánh giá tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số hàm ý nhằm khai thác hiệu quả những tiềm năng này.
Từ khóa: Tiềm năng, du lịch nông nghiệp đô thị, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
Rapid urbanization and population growth in major cities such as Ho Chi Minh City have highlighted the need to improve the quality of life, access to green spaces, and healthcare for urban residents. Urban agriculture has emerged as a multifunctional model that not only supports production but also integrates ecological, educational, and tourism values. This article assesses the potential to develop urban agricultural tourism in Ho Chi Minh City and offers several implications for effectively harnessing it.
Keywords: Potential, urban agricultural tourism, Ho Chi Minh City
GIỚI THIỆU
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, TP. Hồ Chí Minh trở thành một siêu đô thị với nhiều tiềm năng phát triển mới, trong đó có sự phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch từ hoạt động nông nghiệp đô thị. Không chỉ có những vùng sản xuất lớn nơi làng quê nông thôn, hiện nay tại nhiều khu vực ngay trong lòng đô thị hay ven đô, các điểm sản xuất nông nghiệp cũng trở thành tài nguyên, sản phẩm du lịch hấp dẫn, đóng góp vào hành trình trải nghiệm của du khách những sắc màu thú vị. Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn lực này cho mục đích du lịch còn hạn chế, thiếu tính liên kết chuỗi giá trị, chưa tạo được sản phẩm đặc thù có sức cạnh tranh và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu trải nghiệm ngày càng đa dạng của khách du lịch.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh hậu COVID-19, xu hướng du lịch gần, du lịch xanh và du lịch chăm sóc sức khỏe ngày càng phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho các mô hình du lịch nông nghiệp đô thị phát huy lợi thế về không gian mở, môi trường trong lành và trải nghiệm gắn với thiên nhiên. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một cách hệ thống về tiềm năng, đặc điểm và định hướng phát triển loại hình du lịch này tại TP. Hồ Chí Minh.
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Nguồn lực cốt lõi
Tài nguyên nông nghiệp đô thị
Tài nguyên nông nghiệp đô thị là nền tảng vật chất của du lịch nông nghiệp đô thị, bao gồm đất đai, cảnh quan, hệ sinh thái và mô hình sản xuất. TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì quy mô nông nghiệp đáng kể với sự phân bố tập trung tại Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ, cùng các sản phẩm chuyên biệt như lúa, rau, cây ăn trái, thủy sản và hoa lan. Cảnh quan đa dạng (ruộng, vườn, sông nước, rừng ngập mặn) kết hợp với nông nghiệp công nghệ cao tạo giá trị sản xuất, thẩm mỹ và trải nghiệm. Hệ sinh thái Cần Giờ và các mô hình trang trại góp phần hình thành nguồn lực du lịch phong phú, dù vẫn chịu áp lực từ đô thị hóa và biến đổi khí hậu.
Về phương diện cảnh quan, nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh mang đặc trưng của một không gian chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn. Cảnh quan này bao gồm ruộng lúa ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh (cũ); vườn cây ăn trái ở Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ (cũ); cảnh quan sông nước - thủy sản ở Nhà Bè và Cần Giờ (cũ); cùng với các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao như nhà lưới, nhà kính và hoa lan tập trung. Việc tồn tại đồng thời các dạng cảnh quan truyền thống và hiện đại làm cho tài nguyên nông nghiệp đô thị của Thành phố không chỉ có giá trị sản xuất mà còn có giá trị thẩm mỹ, giáo dục và trải nghiệm (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2025).
Giá trị văn hóa nông nghiệp
Giá trị văn hóa nông nghiệp là lớp nguồn lực mềm tạo chiều sâu bản sắc cho du lịch nông nghiệp đô thị. Nếu tài nguyên nông nghiệp là nền tảng vật chất, thì giá trị văn hóa nông nghiệp là nội dung xã hội - văn hóa giúp sản phẩm du lịch có tính xác thực, khác biệt và khó sao chép. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá trị này được hình thành từ tri thức bản địa trong sản xuất, tập quán canh tác và văn hóa ẩm thực gắn với các không gian nông nghiệp ven đô. Tri thức bản địa là hệ thống kinh nghiệm, hiểu biết và kỹ năng được cư dân nông nghiệp tích lũy qua nhiều thế hệ trong quá trình thích ứng với đất đai, nguồn nước, điều kiện tự nhiên và thị trường. Ở các địa bàn như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ (cũ), tri thức bản địa thể hiện qua kinh nghiệm trồng hoa màu, lúa nước, cây ăn trái, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Những tri thức này không chỉ giúp duy trì sản xuất trong bối cảnh đô thị hóa, mà còn tạo nên tính chân thực của trải nghiệm du lịch nông nghiệp (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026; Ngọc Ánh, 2024).
Các hoạt động và trải nghiệm du lịch đặc thù
Là hình thức trực tiếp chuyển hóa tài nguyên và văn hóa thành sản phẩm du lịch. Tại TP. Hồ Chí Minh, các hoạt động gồm: trải nghiệm trồng trọt, chăm sóc; thu hoạch và chế biến nông sản; giáo dục nông nghiệp; và trải nghiệm đời sống nông thôn. Những hoạt động này có tính tương tác cao, phù hợp nhiều nhóm khách, đặc biệt là cư dân đô thị và gia đình, đồng thời tích hợp các giá trị sản xuất, giáo dục, giải trí và văn hóa, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch nông nghiệp đô thị.
Thứ nhất, trải nghiệm trồng trọt và chăm sóc cây trồng. Loại hình này đặc biệt phù hợp tại Củ Chi, Hóc Môn và Bình Chánh, nơi vẫn duy trì được không gian sản xuất nông nghiệp đủ lớn và có khả năng tiếp cận thuận lợi từ khu vực nội thành. Trải nghiệm trực tiếp giúp hình thành nhận thức rõ hơn về giá trị của lao động nông nghiệp, thực phẩm sạch và môi trường sinh thái (Hội Nông dân TP. Hồ Chí Minh, 2024)
Thứ hai, trải nghiệm thu hoạch và chế biến nông sản. TP. Hồ Chí Minh, loại hình này có điều kiện phát triển rõ ở Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và đặc biệt là Cần Giờ. Đây chính là nền tảng của mô hình “từ nông trại đến bàn ăn”, nơi giá trị du lịch không chỉ nằm ở tiêu dùng thực phẩm mà còn ở cả chuỗi trải nghiệm từ sản xuất đến thưởng thức.
Thứ ba, trải nghiệm giáo dục nông nghiệp. Trong bối cảnh trẻ em đô thị ngày càng xa rời môi trường sản xuất nông nghiệp truyền thống, các mô hình nông trại giáo dục có ý nghĩa xã hội rất lớn. Loại hình này kết hợp giữa học tập, vui chơi và giáo dục môi trường, thông qua các hoạt động như tìm hiểu quy trình sản xuất nông nghiệp, phân loại rác, tái chế chất thải hữu cơ, học về đất, nước, cây trồng và tiêu dùng bền vững.
Thứ tư, trải nghiệm văn hóa - sinh hoạt nông thôn. Đây là nhóm trải nghiệm có ý nghĩa đặc biệt với cư dân nội đô và khách quốc tế, vì tạo ra cảm giác chân thực mà môi trường đô thị hiện đại khó thay thế. Ở các vùng ven như Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ, Củ Chi và một phần Hóc Môn (cũ), những yếu tố của không gian văn hóa nông thôn Nam Bộ vẫn còn hiện diện khá rõ nét, tạo tiền đề để phát triển loại hình sản phẩm du lịch này.
Nguồn lực hỗ trợ và điều kiện phát triển
Hệ thống hạ tầng
Hạ tầng là nền tảng đảm bảo du lịch nông nghiệp đô thị vận hành hiệu quả, trong đó giao thông giữ vai trò quyết định đến khả năng kết nối nội đô - ven đô. Các khu vực như Hóc Môn, Bình Chánh thuận lợi cho du lịch ngắn ngày, trong khi Củ Chi và Cần Giờ cần cải thiện kết nối hoặc phù hợp với sản phẩm dài ngày. Hệ thống điện, nước và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh tương đối tốt, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp hiện đại và du lịch số. Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự thiếu đồng bộ ở cấp điểm đến, đặc biệt về hạ tầng phụ trợ và mức độ sẵn sàng công nghệ.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Đây là yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng phục vụ và trải nghiệm của du khách, bao gồm các hạng mục như khu đón tiếp, vệ sinh, nghỉ chân, ẩm thực và không gian trải nghiệm. Dù TP. Hồ Chí Minh có nền dịch vụ phát triển mạnh, nhiều điểm nông nghiệp ven đô vẫn thiếu và chưa đồng bộ về cơ sở vật chất, khiến tài nguyên chưa được khai thác hiệu quả. Do đó, cần đầu tư theo hướng hoàn thiện điểm đến để nâng cao khả năng phục vụ và kết nối với hệ sinh thái du lịch đô thị. Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh, lợi thế lớn nằm ở chỗ thành phố sở hữu hệ sinh thái dịch vụ phát triển mạnh. Quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 474.556 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu lưu trú ăn uống đạt 59.241 tỷ đồng, tăng 20,2%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 8.404 tỷ đồng, tăng 12,9%. Điều này cho thấy, Thành phố có nền dịch vụ mạnh để hỗ trợ cho việc hình thành và kết nối các sản phẩm du lịch nông nghiệp với chuỗi giá trị đô thị hiện đại (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2025).
Khả năng tiếp cận từ khu vực đô thị
Khả năng tiếp cận là yếu tố then chốt do phụ thuộc vào khách nội đô đi ngắn ngày. Các khu ven đô TP. Hồ Chí Minh có lợi thế về vị trí nhưng khác biệt về thời gian di chuyển: Hóc Môn, Bình Chánh thuận lợi hơn; Củ Chi và Cần Giờ cần sản phẩm đặc sắc hoặc thời gian lưu trú dài hơn. Vì vậy, khả năng tiếp cận không chỉ là yếu tố vật lý mà còn định hướng phát triển loại hình sản phẩm du lịch phù hợp từng khu vực. Trong điều kiện TP. Hồ Chí Minh, đây là lợi thế tương đối rõ vì các khu vực ven đô như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ (cũ) đều nằm trong hệ thống liên kết không gian của thành phố. Tuy nhiên, mức độ thuận lợi không đồng đều. Hóc Môn và một phần Bình Chánh có ưu thế về khoảng cách và khả năng tiếp cận nhanh hơn; Củ Chi cần cải thiện mạnh hơn về kết nối chất lượng cao; Nhà Bè có vị trí tốt nhưng chưa khai thác hiệu quả; còn Cần Giờ có tài nguyên đặc thù rất mạnh nhưng chịu ràng buộc lớn về thời gian di chuyển và sự phụ thuộc vào chuỗi kết nối hiện hữu. Báo cáo quy hoạch cho thấy chính khác biệt về tiếp cận này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hình loại hình sản phẩm: vùng ven khu vực gần thì phù hợp với du lịch ngắn ngày, còn vùng ven ở xa thì phải dựa vào sản phẩm đặc sắc hơn và thời lượng trải nghiệm dài hơn (Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, 2023).
Nguồn nhân lực và năng lực tổ chức
Kỹ năng phục vụ và tổ chức hoạt động du lịch
Du lịch nông nghiệp đô thị đòi hỏi người làm du lịch không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn trực tiếp hướng dẫn, thuyết minh, tổ chức hoạt động, xử lý tình huống và đảm bảo an toàn cho khách. Tại TP. Hồ Chí Minh, nhiều nông hộ còn hạn chế về nghiệp vụ du lịch do xuất phát từ sản xuất truyền thống, nhưng lại có lợi thế gần đô thị, quen kinh tế thị trường và khả năng thích ứng cao. Đây là cơ sở để chuyển dần từ phục vụ tự phát sang chuyên nghiệp.
Kiến thức về nông nghiệp và trải nghiệm
Nguồn nhân lực cần kết hợp 2 nhóm tri thức: Hiểu biết về sản xuất nông nghiệp và khả năng tổ chức, diễn giải thành trải nghiệm du lịch. TP. Hồ Chí Minh có lợi thế nhờ hệ thống đào tạo, nghiên cứu và mạng lưới sản xuất phát triển, cho phép hình thành các mô hình liên kết giữa trang trại, trường học và doanh nghiệp. Khả năng “biến quy trình sản xuất thành trải nghiệm” là yếu tố then chốt nâng cao chất lượng sản phẩm.
Năng lực quản lý, đổi mới sáng tạo và công nghệ
Năng lực quản lý, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ là yếu tố quyết định sự vận hành bền vững của du lịch nông nghiệp đô thị, đòi hỏi quản lý đồng bộ từ sản xuất, an toàn đến dịch vụ và trải nghiệm. Năm 2025, TP. Hồ Chí Minh hoàn thành 13/17 chỉ tiêu ngành, duy trì tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính 96% và đang triển khai các đề án liên kết, hỗ trợ nông nghiệp đô thị, cho thấy môi trường quản trị thuận lợi. Đồng thời, chuyển đổi số và hệ thống dữ liệu tạo điều kiện phát triển du lịch thông minh. Tuy nhiên, hạn chế vẫn nằm ở năng lực tổ chức tại cấp hộ và trang trại, do đó cần nâng cao kỹ năng quản trị để khai thác hiệu quả và tạo lợi thế cạnh tranh bền vững (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026).
Chính sách, thể chế và môi trường quản lý
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đô thị
Quy hoạch đất là nền tảng thể chế quan trọng, quyết định không gian phát triển du lịch nông nghiệp. Năm 2025, TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh quản lý và số hóa dữ liệu đất đai, nhưng đồng thời đối mặt với áp lực cân bằng giữa đô thị hóa và bảo tồn không gian nông nghiệp. Xu hướng mở rộng đô thị đã làm mất hơn 50.000 ha đất trong 2 thập kỷ, cho thấy yêu cầu cấp thiết phải giữ vành đai xanh và không gian sinh thái.
Chính sách phát triển du lịch và nông nghiệp
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, đến năm 2025, Thành phố đã cơ bản hoàn thành 13/17 nhiệm vụ theo Chương trình công tác của UBND, đồng thời tiếp tục triển khai Chương trình phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2021-2030 (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Bên cạnh đó, một số đề án trọng điểm đã được điều chỉnh và chuyển tiếp sang giai đoạn 2026-2030 như: Đề án OCOP, Đề án phát triển kinh tế tập thể gắn với liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản, và đặc biệt là Đề án phát triển dịch vụ nông nghiệp và dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp đô thị.
Điều kiện thị trường và nhu cầu khách du lịch
Nhu cầu trải nghiệm nông nghiệp và thiên nhiên
Đô thị hóa và áp lực cuộc sống làm gia tăng nhu cầu không gian xanh và trải nghiệm thiên nhiên của cư dân. Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2025 cho thấy dân số trung bình của TP. Hồ Chí Minh đạt 13,8 triệu người, tăng 1,4% so với năm trước; trong đó dân số thành thị chiếm 77,1%. Đây là một thị trường rất lớn cho các sản phẩm du lịch trong ngày và cuối tuần. Đồng thời, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 228.759 tỷ đồng, tăng 24,7%; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 49.231 tỷ đồng, tăng 23,7%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng dịch vụ du lịch và giải trí của người dân Thành phố đang ở mức cao và có xu hướng mở rộng mạnh (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2025).
Xu hướng tiêu dùng xanh và bền vững
Người dân ngày càng quan tâm đến sức khỏe, môi trường và giá trị trải nghiệm, thúc đẩy nhu cầu du lịch gắn với tiêu dùng xanh. Quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Thành phố đạt 474.556 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú ăn uống đạt 59.241 tỷ đồng, tăng 20,2%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 8.404 tỷ đồng, tăng 12,9%. Những số liệu này phản ánh sức mua và khả năng tiêu dùng dịch vụ đô thị đang phục hồi tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm du lịch nông nghiệp hướng đến lối sống xanh và tiêu dùng bền vững (Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Hành vi và thị hiếu khách du lịch
Điều kiện thị trường không chỉ được xác định bởi nhu cầu chung mà còn bởi hành vi và thị hiếu cụ thể của từng nhóm khách. Trong trường hợp TP. Hồ Chí Minh, có thể nhận diện 3 nhóm khách tiềm năng chính gồm: gia đình có trẻ nhỏ (trải nghiệm - giáo dục), học sinh (học tập thực địa) và người lớn theo lối sống xanh (trải nghiệm chuyên sâu, chữa lành). Ngoài ra, khách quốc tế cũng là phân khúc tiềm năng cho sản phẩm gắn với văn hóa và ẩm thực.
Nhìn tổng thể, điều kiện thị trường và nhu cầu khách du lịch là lợi thế lớn của TP. Hồ Chí Minh, với dân số đông, sức mua cao và xu hướng tiêu dùng xanh, coi trọng trải nghiệm, tạo động lực chuyển hóa tài nguyên nông nghiệp ven đô thành sản phẩm du lịch.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên, thị trường và chính sách, nhưng việc phát triển du lịch nông nghiệp đô thị vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Những hạn chế về liên kết chuỗi giá trị, năng lực tổ chức, sản phẩm du lịch và cơ chế phối hợp liên ngành cho thấy khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn vẫn còn đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu cần có cách tiếp cận quản trị hiệu quả và đồng bộ hơn trong phát triển loại hình du lịch này.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch nông nghiệp đô thị tại TP. Hồ Chí Minh như sau:
Một là, xây dựng chiến lược phát triển du lịch nông nghiệp đô thị tích hợp trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và nông nghiệp; Hoàn thiện cơ chế chính sách về đất đai, tín dụng, thuế và hỗ trợ kỹ thuật nhằm khuyến khích các mô hình kết hợp nông nghiệp - du lịch; Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành (du lịch - nông nghiệp - quy hoạch - môi trường) để đảm bảo tính đồng bộ trong quản lý và phát triển.
Hai là, tập trung phát triển sản phẩm du lịch dựa trên trải nghiệm, gia tăng tính tương tác và cá nhân hóa cho du khách; Xây dựng mô hình kinh doanh tích hợp như “farmstay”, “farm-to-table”, du lịch giáo dục và du lịch xanh; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong marketing, quản lý dịch vụ và nâng cao trải nghiệm khách hàng.
Ba là, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang cung cấp dịch vụ kết hợp du lịch; Nâng cao năng lực phục vụ du lịch, kỹ năng giao tiếp, tổ chức hoạt động trải nghiệm; Tham gia vào các mô hình liên kết hợp tác xã, tổ hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh.
Bốn là, định vị du lịch nông nghiệp đô thị như một sản phẩm du lịch đặc thù của TP. Hồ Chí Minh gắn với “du lịch xanh - trải nghiệm - giáo dục”. Phát triển thị trường khách nội địa (gia đình, học sinh, giới trẻ) kết hợp khai thác thị trường khách quốc tế quan tâm đến trải nghiệm địa phương. Xây dựng thương hiệu và câu chuyện sản phẩm gắn với nông nghiệp đô thị và văn hóa địa phương.
Năm là, lồng ghép các nguyên tắc bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả vào hoạt động du lịch. Tăng cường giáo dục môi trường và nâng cao nhận thức cho du khách và cộng đồng. Hướng đến mô hình phát triển du lịch nông nghiệp đô thị theo tiêu chuẩn xanh và bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Ngành NN&MT Thành phố Hồ Chí Minh cần tạo bứt phá để phát triển bền vững. https://mae.gov.vn/SMPT_Publishing_UC/KhaiThac/TinTuc/pInTinTuc.aspx?ItemID=20755&UrlList=
2. Hội Nông dân TP. Hồ Chí Minh (2024). Khi người nông dân làm du lịch nông nghiệp, sinh thái. https://hoinongdan.hochiminhcity.gov.vn/khi-nguoi-nong-dan-lam-du-lich-nong-nghiep-sinh-thai/
3. Ngọc Ánh (2024). TP. HCM thu hút du khách từ du lịch nông nghiệp. https://thiennhienmoitruong.vn/tp-hcm-thu-hut-du-khach-tu-du-lich-nong-nghiep.html
4. Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh (2023). Báo cáo tóm tắt đề án nhánh: Định hướng phát triển hạ tầng đô thị các huyện ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.
5. Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2025). Niên giám Thống kê TP. Hồ Chí Minh năm 2025. Nxb Thống kê.
6. Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026.
7. UBND TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 320/KH-UBND ngày 25/6/2026 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030.
| Ngày nhận bài: 9/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/8/2026; Ngày duyệt đăng: 22/9/2026 |
Các tin khác
Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh tại Việt Nam
Các yếu tố thúc đẩy lãnh đạo chuyển đổi của đội ngũ quản lý các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh
Kinh tế trải nghiệm và phát triển nông nghiệp đa giá trị tại Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và định hướng chiến lược
Các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận chất lượng chuyến bay của hành khách tuyến TP. Hồ Chí Minh - Hà Nội
Sự tham gia và mâu thuẫn của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái: Tổng quan trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị tại Việt Nam
Thực hành logistics xanh, năng lực quản lý carbon và định hướng ESG: Mô hình nghiên cứu về hiệu quả ESG tại doanh nghiệp logistics Việt Nam
Đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cá nhân hóa bằng AI đến tình yêu thương hiệu của người tiêu dùng trên nền tảng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh
Pháp luật Liên minh châu Âu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ESG
Tác động của chuyển đổi số đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại: Tiếp cận theo khung COSO và chu trình quản lý