Thực trạng hoạt động du lịch chăm sóc sức khỏe tại vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Tây Ninh

Nghiên cứu - Trao đổi 16:51 | 28/05/2026
Nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động du lịch chăm sóc sức khỏe tại vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Tây Ninh dựa trên mô hình wellness hướng tới well-being của Smith và Puczkó (2014) và tiếp cận trị liệu sinh thái.

Võ Minh Trung

NCS. Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Email: vominhtrung11@gmail.com

Phan Thị Ngàn

Khoa Du lịch, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động du lịch chăm sóc sức khỏe tại vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Tây Ninh dựa trên mô hình wellness hướng tới well-being của Smith và Puczkó (2014) và tiếp cận trị liệu sinh thái. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với 15 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp quan sát thực địa, nghiên cứu nhận diện 4 nhóm hoạt động cốt lõi gồm: chăm sóc thể chất, chăm sóc tinh thần, chăm sóc dinh dưỡng và chăm sóc y học - phục hồi. Kết quả cho thấy, Vùng sở hữu tiềm năng tài nguyên đặc thù nhờ hệ sinh thái rừng tràm, đất ngập nước và nguồn dược liệu bản địa phong phú. Tuy nhiên, các hoạt động du lịch chăm sóc sức khỏe hiện đang ở giai đoạn “tiền trị liệu”: thiếu chuẩn hóa chuyên môn, thiếu liên kết y tế - du lịch và thiếu cơ chế quản trị không gian sinh thái phù hợp. Dựa trên phân tích SWOT, nghiên cứu đề xuất 3 định hướng chiến lược: (1) Chuẩn hóa dịch vụ theo tiêu chí y khoa và dược liệu; (2) Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành; (3) Cá nhân hóa liệu trình phục vụ theo phân khúc khách mục tiêu.

Từ khóa: Du lịch chăm sóc sức khỏe, wellness tourism, Đồng Tháp Mười, trị liệu sinh thái, dược liệu bản địa, tỉnh Tây Ninh

Abstract

The study analyzes the current state of wellness tourism activities in the Đong Thap Muoi region of Tay Ninh Province based on the wellness-to-well-being model proposed by Smith and Puczkó (2014) and the eco-therapeutic approach. Employing a qualitative research method through 15 semi-structured interviews combined with field observations, the study identifies four core activity groups, including physical care, mental care, nutritional care, and medical-rehabilitation care. The findings indicate that the region possesses distinctive tourism resource potential owing to its melaleuca forest ecosystem, wetlands, and abundant indigenous medicinal herbs. However, wellness tourism activities in the region are currently at a “pre-therapeutic” stage, characterized by a lack of professional standardization, insufficient integration between healthcare and tourism sectors, and the absence of an appropriate ecological space governance mechanism. Based on the SWOT analysis, the study proposes three strategic orientations: (1) standardizing services according to medical and herbal criteria; (2) establishing an intersectoral coordination mechanism; and (3) personalizing treatment programs for specific target tourist segments.

Keywords: Wellness tourism, Đong Thap Muoi, eco-therapy, indigenous medicinal herbs, Tay Ninh Province.

GIỚI THIỆU

Vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Tây Ninh sở hữu hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của phía Nam, sở hữu tiềm năng tài nguyên đặc thù cho phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe (DLCSSK): rừng tràm gió nguyên sinh giàu phytoncide, hệ thống kênh rạch đất phèn và nguồn gen dược liệu phong phú tại Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười. Ngoài ra, vị trí địa lý của vùng Đồng Tháp Mười chỉ cách TP. Hồ Chí Minh 2-3 giờ di chuyển, đã tạo điều kiện thuận lợi để khai thác thị trường khách đô thị có nhu cầu nghỉ dưỡng ngắn ngày. Trong khi đó, các nghiên cứu khoa học chuyên sâu về DLCSSK tại Đồng Tháp Mười còn rất hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện kỳ vọng cung cấp cơ sở khoa học phục vụ hoạch định chính sách và chiến lược phát triển DLCSSK tại Tây Ninh và các vùng sinh thái tương đồng.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khái niệm và phân loại du lịch chăm sóc sức khỏe

Khái niệm chăm sóc sức khỏe có lịch sử riêng trong y học phòng ngừa và tâm lý học, đặt nền tảng cho ngành DLCSSK ngày nay. Halbert L. Dunn (1961) là người tiên phong định nghĩa đây là “phương pháp vận hành tích hợp, hướng tới tối đa hóa tiềm năng mà cá nhân có khả năng đạt được”. Hettler B. (1980) cụ thể hóa thành Mô hình 6 chiều sức khỏe gồm: thể chất, cảm xúc, xã hội, tâm linh, trí tuệ và nghề nghiệp mà đến nay vẫn được xem là chuẩn vàng của ngành. Trong tâm lý học hàn lâm, Ryff (1989) đề xuất 6 chiều của trạng thái viên mãn, gồm: chấp nhận bản thân, phát triển cá nhân, mục đích cuộc sống, làm chủ môi trường, tự chủ và quan hệ tích cực; Seligman (2011) đưa ra mô hình 5 yếu tố gồm: cảm xúc tích cực, sự gắn kết, quan hệ, ý nghĩa và thành tựu. Ba điểm chung của các trường phái là lựa chọn chủ động, đa chiều và hướng tới phát triển chứ không chỉ tránh bệnh. Đây chính là cốt lõi mà ngành DLCSSK kế thừa.

DLCSSK được định nghĩa là loại hình du lịch mà khách hàng chủ động tìm kiếm và tham gia các hoạt động nhằm duy trì, nâng cao hoặc cải thiện sức khỏe toàn diện (Global Wellness Institute, 2023). Khái niệm này cần được phân biệt với 2 khái niệm liên quan: health care (chăm sóc y tế) tập trung vào phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh lý (WHO, 1948) và well-being (khỏe mạnh toàn diện) phản ánh trạng thái hài lòng và chất lượng sống tổng thể bao gồm các chiều cạnh thể chất, tinh thần, xã hội và môi trường (Ryff, 1989).

Trong nghiên cứu này, DLCSSK được tiếp cận theo mô hình wellness hướng tới well-being của Smith và Puczkó (2014), trong đó các hoạt động được thiết kế nhằm hỗ trợ trạng thái cân bằng thân - tâm - trí thông qua sự tương tác có chủ đích với môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa. Đây là cách tiếp cận khác với du lịch y tế (medical tourism) vốn gắn với can thiệp y khoa và điều trị lâm sàng.

Lý thuyết cảnh quan trị liệu và trị liệu sinh thái

Nền tảng lý thuyết quan trọng nhất cho DLCSSK dựa vào thiên nhiên là khái niệm “cảnh quan trị liệu” (therapeutic landscape). Huang và Xu (2018) đã chứng minh qua nghiên cứu tại làng trường thọ Bama (Trung Quốc) rằng sức khỏe và tuổi thọ được kiến tạo từ sự tương tác giữa môi trường vật lý (địa từ trường, nguồn nước khoáng, không khí sạch) và các yếu tố văn hóa - xã hội đặc thù. Terry Hartig và cộng sự (2014) đã tổng hợp bằng chứng khoa học cho thấy tiếp xúc với thiên nhiên có tác động tích cực đến sức khỏe tâm thần và thể chất thông qua nhiều cơ chế khác nhau.

Lý thuyết phục hồi sự chú ý (Attention Restoration Theory) của Kaplan và Kaplan (1989) lý giải cơ chế tâm lý thần kinh của quá trình phục hồi trong thiên nhiên: các môi trường tự nhiên giàu yếu tố “mềm” có khả năng phục hồi khả năng tập trung và giảm tải nhận thức. Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để phát triển các sản phẩm DLCSSK dựa vào hệ sinh thái rừng tràm tại Đồng Tháp Mười.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng 3 nguồn dữ liệu được tam giác hóa:

- Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện 15 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc từ tháng 10/2024-2/2025. Thông tín viên được lựa chọn theo phương pháp mục đích (purposive sampling) bao gồm 4 nhóm: (i) đại diện doanh nghiệp lữ hành (4 người); (ii) chuyên gia y tế và trị liệu (4 người); (iii) cán bộ quản lý và vận hành điểm đến (3 người); (iv) nhà nghiên cứu và quản lý nhà nước (4 người). Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 45-90 phút, được ghi âm và chuyển biên toàn bộ.

- Quan sát thực địa: Thực hiện 6 đợt quan sát tại các điểm đến trọng điểm bao gồm Khu du lịch Cánh đồng bất tận, Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen. Quan sát tập trung vào quy trình vận hành, chất lượng dịch vụ và hành vi của du khách.

- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê du lịch, quy hoạch tỉnh, các nghiên cứu khoa học đã công bố và tài liệu chính sách liên quan.

Phân tích SWOT được thực hiện dựa trên kết quả phân tích định tính nhằm tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hệ thống hoạt động DLCSSK tại vùng Đồng Tháp Mười. Nghiên cứu tập trung vào các xã thuộc các huyện trước đây gồm: Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa và Kiến Tường thuộc vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Tây Ninh. Khung thời gian phân tích thực tiễn là giai đoạn 2020-2025.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tổng quan bối cảnh phát triển du lịch tại vùng Đồng Tháp Mười

Phân tích số liệu thống kê giai đoạn 2020-2025 cho thấy du lịch vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Tây Ninh đang trong quá trình phục hồi sau đại dịch COVID-19, nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức mang tính cơ cấu. Lượng khách phân khu phía Nam của Tỉnh (địa phận Long An cũ) tăng 36% trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 1,08 triệu lượt, nhưng doanh thu chỉ đạt 531 tỷ đồng - thấp hơn 12,2 lần so với phân khu phía Bắc (6.500 tỷ đồng) (UBND tỉnh Tây Ninh, 2025). Chênh lệch này phản ánh hạn chế nghiêm trọng về giá trị gia tăng của sản phẩm du lịch và thời gian lưu trú của khách.

Cơ cấu khách du lịch mất cân đối rõ rệt: khách nội địa chiếm trên 98%, chủ yếu từ TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, với mục đích du lịch ngắn ngày và mức chi tiêu thấp (dưới 650.000 đồng/người) (Bùi Trọng Tiến Bảo, 2024). Điều này phản ánh thực trạng sản phẩm du lịch hiện tại chưa đủ sức hút để giữ chân khách lưu trú dài ngày, đặc biệt là phân khúc khách có khả năng chi trả cao - đối tượng mục tiêu của DLCSSK.

Ba điểm đến trọng điểm được nghiên cứu tập trung phân tích là: (1) Khu du lịch Cánh đồng bất tận (Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười) đang nổi lên như mô hình DLCSSK tiên phong dựa trên dược liệu, lượng khách tăng từ 200 lượt (năm 2017) lên 5.000 lượt (năm 2022); (2) Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập với quy mô 60.000-65.000 lượt/năm; (3) Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam với tiềm năng lớn nhưng lượng khách chưa tương xứng.

Phân tích cho thấy, hoạt động chăm sóc thể chất tại vùng Đồng Tháp Mười chủ yếu khai thác 2 hình thức: liệu pháp tắm rừng, vận động dưới nước tự nhiên. Cụ thể là:

- Liệu pháp tắm rừng: Đây là hoạt động có tính phù hợp lý thuyết cao nhất. Hệ sinh thái rừng tràm gió nguyên sinh tại vùng tạo môi trường giàu hợp chất phytoncide, có khả năng làm giảm hormone cortisol và tăng cường tế bào NK (Natural Killer cells) của hệ miễn dịch (Margaret M. Hansen và cộng sự, 2017). Quan sát thực địa xác nhận du khách trải nghiệm cảm giác thư giãn rõ rệt sau khi đi bộ trong rừng tràm khoảng 30-40 phút. Một cán bộ quản lý điểm đến ghi nhận: “Khách đi bộ trong rừng tràm khoảng 30-40 phút là thấy dễ thở, người nhẹ hẳn ra” (QL02).

Tuy nhiên, khoảng cách lớn nhất giữa lý thuyết và thực tiễn nằm ở mức độ chuyên nghiệp hóa: các hoạt động tắm rừng hiện nay chưa được xây dựng thành liệu trình vận động có hướng dẫn chuyên môn. Thời lượng, cường độ và phân loại đối tượng (người cao tuổi, người có bệnh xương khớp hay tim mạch) chưa được tiêu chuẩn hóa, làm giảm hiệu quả trị liệu và tiềm ẩn rủi ro sức khỏe. Một quản lý điểm đến thừa nhận: “Khách đi bộ trong rừng rất đông, nhưng thực chất là đi tham quan, chụp hình là chính, chưa có hướng dẫn cụ thể về thở hay cảm nhận thiên nhiên” (QLĐĐ01).

- Vận động dưới nước tự nhiên: Hồ nước mưa lọc qua thảm thực vật cỏ năng bản địa tạo môi trường thủy trị liệu tự nhiên độc đáo. Theo lý thuyết thủy trị liệu, vận động trong nước giúp giảm áp lực lên hệ xương khớp và tăng cường tuần hoàn máu, phù hợp với nhóm khách cao tuổi và người phục hồi sau chấn thương. Doanh nghiệp lữ hành xác nhận: “Khách lớn tuổi rất thích xuống nước, đi lại nhẹ nhàng, không bị đau khớp như trên cạn” (DN01). Tuy nhiên, thiếu sự kiểm soát về thời gian ngâm nước, nhiệt độ và tình trạng sức khỏe khách khiến hoạt động này chưa thể phát triển thành thủy trị liệu phục hồi chức năng đúng nghĩa.

Phân tích SWOT hệ thống hoạt động du lịch chăm sóc sức khỏe

Hệ thống DLCSSK vùng Đồng Tháp Mười (Tây Ninh) được phân tích theo SWOT như Bảng.

Bảng: Phân tích SWOT các hoạt động du lịch chăm sóc sức khỏe tại vùng Đồng Tháp Mười, Tây Ninh

ĐIỂM MẠNH (S)

ĐIỂM YẾU (W)

S1: Hệ sinh thái rừng tràm - đất ngập nước tạo nền tảng cảnh quan trị liệu đặc thù, phù hợp đồng thời cho chăm sóc thể chất và tinh thần.

S2: Nguồn dược liệu bản địa phong phú (tràm, sen, đinh lăng) tạo lợi thế cạnh tranh độc đáo, khó sao chép.

S3: Ẩm thực địa phương giàu dược tính, gần gũi thiên nhiên, phù hợp triết lý ăn uống lành mạnh.

S4: Vị trí gần TP. Hồ Chí Minh (2-3 giờ di chuyển) thuận lợi khai thác thị trường khách đô thị cuối tuần.

W1: Thiếu chuẩn hóa liệu trình - các hoạt động tắm rừng, thủy trị liệu mang tính tự phát, chưa phân loại đối tượng và kiểm soát cường độ.

W2: Chăm sóc tinh thần thiếu chuyên môn - thiếu hướng dẫn viên được đào tạo về thiền, yoga trị liệu và tâm lý học.

W3: Hoạt động dinh dưỡng mới đạt mức “ăn sạch - ăn ngon”, chưa cá nhân hóa theo tình trạng sức khỏe.

W4: Hoạt động y học và phục hồi thiếu liên kết y tế - du lịch; y học cổ truyền khai thác theo kinh nghiệm dân gian, thiếu phác đồ chuẩn.

CƠ HỘI (O)

THÁCH THỨC (T)

O1: Xu hướng du lịch phục hồi sức khỏe không xâm lấn đang tăng trưởng mạnh hậu COVID-19 toàn cầu.

O2: Các hoạt động hiện có (tắm rừng, thiền, xông thảo dược) có thể nâng cấp thành liệu trình chuyên sâu mà không cần thay đổi tài nguyên cơ bản.

O3: Đủ bốn nhóm hoạt động cốt lõi để đóng gói chương trình retreat tổng hợp ngắn hạn và trung hạn.

T1: Nguy cơ bị “đánh đồng” với du lịch sinh thái thông thường nếu thiếu chuẩn hóa và định vị rõ ràng.

T2: Rủi ro an toàn sức khỏe từ các hoạt động vận động và trị liệu tự phát thiếu giám sát chuyên môn.

T3: Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn đe dọa nền tảng sinh thái vốn là yếu tố cốt lõi của DLCSSK.

T4: Hạ tầng giao thông và lưu trú chưa đồng bộ làm giảm hiệu quả trải nghiệm phục hồi sức khỏe.

Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả

Thảo luận: Giai đoạn “tiền trị liệu” và hàm ý phát triển

Tổng hợp kết quả phân tích cho thấy, DLCSSK tại vùng Đồng Tháp Mười đang ở giai đoạn mà nghiên cứu này đề xuất gọi là “tiền trị liệu” (pre-therapeutic stage): đủ thành phần hoạt động nhưng chưa được kết nối thành hệ thống chăm sóc sức khỏe hoàn chỉnh. Phát hiện này tương đồng với nghiên cứu của Thal và Hudson (2017) về khoảng cách giữa “wellness environment” (môi trường có lợi cho sức khỏe) và “wellness therapy” (liệu pháp sức khỏe thực sự).

Phát hiện quan trọng là vùng Đồng Tháp Mười có lợi thế tài nguyên tương đương với nhiều mô hình DLCSSK thành công trên thế giới (rừng tràm so với rừng linh sam Nhật Bản trong Shinrin-yoku; đất ngập nước so với Lake Wellness Phần Lan). Khoảng cách phát triển không nằm ở tài nguyên mà nằm ở năng lực quản trị và chuẩn hóa dịch vụ. Đây là phát hiện có ý nghĩa chính sách quan trọng: chi phí để nâng cấp từ giai đoạn tiền trị liệu lên DLCSSK chuyên sâu thấp hơn nhiều so với việc xây dựng tài nguyên mới.

So sánh với kết quả nghiên cứu của Châu Hồng Thắng (2018), Nguyễn Minh Triết và cộng sự (2019) về du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười, có thể thấy tình trạng thiếu chuẩn hóa và thiếu liên kết ngành đã tồn tại trong nhiều năm. Điều này chỉ ra rằng vấn đề là cơ cấu quản trị, không phải vấn đề vận hành và do đó đòi hỏi giải pháp thể chế chứ không chỉ là đào tạo nghiệp vụ.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Kết luận

Nghiên cứu làm rõ rằng DLCSSK tại vùng Đồng Tháp Mười (Tây Ninh) đang ở giai đoạn “tiền trị liệu”: sở hữu đầy đủ 4 nhóm hoạt động cốt lõi (thể chất, tinh thần, dinh dưỡng, y học - phục hồi) nhưng chưa được kết nối thành hệ thống chăm sóc sức khỏe hoàn chỉnh do thiếu chuẩn hóa chuyên môn, thiếu liên kết y tế - du lịch và thiếu cơ chế quản trị không gian sinh thái phù hợp. Lợi thế cạnh tranh của vùng nằm ở sự kết hợp độc đáo giữa hệ sinh thái rừng tràm gió nguyên sinh giàu phytoncide, nguồn gen dược liệu bản địa quý hiếm và không gian sống chậm - những yếu tố tạo nên “cảnh quan trị liệu” đặc thù của Nam Bộ. Khi đối chiếu với các mô hình DLCSSK quốc tế (Shinrin-yoku Nhật Bản, Lake Wellness Phần Lan, Yangsheng Trung Quốc), vùng Đồng Tháp Mười hoàn toàn có tiềm năng xây dựng mô hình DLCSSK bản địa đặc thù có tính cạnh tranh cao.

Đề xuất định hướng phát triển

Từ kết quả nghiên cứu, ba định hướng chiến lược được đề xuất:

Định hướng 1: Chuẩn hóa dịch vụ theo tiêu chí y khoa và dược liệu. Xây dựng bộ tiêu chuẩn dịch vụ DLCSSK phù hợp với đặc thù địa phương, trong đó có: (i) phân loại và chuẩn hóa các liệu trình tắm rừng, thủy trị liệu tự nhiên và xông hơi thảo dược theo nhóm đối tượng (tuổi tác, thể trạng, bệnh nền); (ii) xây dựng thực đơn dinh dưỡng cá nhân hóa dựa trên nguồn dược liệu bản địa; (iii) thiết lập quy trình sàng lọc sức khỏe ban đầu trước khi khách tham gia các hoạt động trị liệu.

Định hướng 2: Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành. Xây dựng mô hình hợp tác 3 bên: Sở Y tế (chuẩn hóa và cấp chứng nhận), doanh nghiệp du lịch (tổ chức và vận hành), Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười (cung cấp cơ sở khoa học về dược liệu). Đây là điều kiện cần để chuyển hóa hoạt động DLCSSK từ giai đoạn tiền trị liệu lên giai đoạn trị liệu có cơ sở khoa học và niềm tin thị trường.

Định hướng 3: Cá nhân hóa liệu trình theo phân khúc khách mục tiêu. Xác định 3 phân khúc khách tiềm năng: (i) Khách đô thị trung niên bị stress (nhu cầu digital detox và phục hồi thể chất - tinh thần ngắn hạn); (ii) Khách cao tuổi có bệnh mãn tính nhẹ (nhu cầu vận động trị liệu và dinh dưỡng lành mạnh); (iii) Khách quốc tế tìm hiểu y học cổ truyền Việt Nam (nhu cầu trải nghiệm xác thực kết hợp phục hồi). Mỗi phân khúc cần được thiết kế gói sản phẩm riêng biệt.

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Trọng Tiến Bảo (2024). Phát triển du lịch vùng Đồng Tháp Mười trong bối cảnh hội nhập, Luận án tiến sĩ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

2. Châu Hồng Thắng (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn điểm đến du lịch sinh thái của du khách nội địa: Nghiên cứu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 54(2), 154-162. https://doi.org/10.22144/ctu.jsi.2018.049

3. Global Wellness Institute (2023). What is wellness?, https://globalwellnessinstitute.org/what-is-wellness/

4. Halbert L. Dunn (1961). High level wellness for man and society, American Journal of Public Health, 49(6), 786-792. https://doi.org/10.2105/ajph.49.6.786.

5. Hettler, B. (1980). Wellness promotion on a university campus, Family & Community Health, 3(1), 77-95.

6. Huang, L., & Xu, H. (2018). Therapeutic landscapes and longevity: Wellness tourism in Bama, Social Science & Medicine, 197, 24-32. https://doi.org/10.1016/j.socscimed.2017.11.052

7. Kaplan, R., & Kaplan, S. (1989). The experience of nature: A psychological perspective. Cambridge University Press.

8. Margaret M. Hansen, Reo Jones, Kirsten Tocchini (2017). Shinrin-Yoku (Forest Bathing) and Nature Therapy: A State-of-the-Art Review, Int J Environ Res Public Health, 14(8).

9. Nguyễn Minh Triết, Nguyễn, Đ. H., & Nguyễn, T. T. (2019). Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của du khách nội địa đối với điểm đến du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh - Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 14(2), 85-98.

10. Ryff, C. D. (1989). Happiness is everything, or is it? Explorations on the meaning of psychological well-being, Journal of Personality and Social Psychology, 57(6), 1069-1081.

11. Smith, M., & Puczkó, L. (2014). Health, Tourism and Hospitality: Spas, Wellness and Medical Travel. Routledge.

12. Seligman, M. E. P. (2011). Flourish: A visionary new understanding of happiness and well-being.

13. Terry Hartig, Richard Mitchell, Sjerp de Vries, Howard Frumkin (2014). Nature and Health, Annual Review of Public Health, 35(1).

14. Thal, K. I., & Hudson, S. (2017). A conceptual model of wellness destination characteristics that contribute to psychological well-being, Journal of Hospitality & Tourism Research. https://doi.org/10.1177/1096348017704498

15. UBND tỉnh Tây Ninh (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025.

16. WHO (1948). Constitution of the World Health Organization, World Health Organization. https://www.who.int/about/governance/constitution.

Ngày nhận bài: 2/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/5/2026; Ngày duyệt đăng: 27/5/2026

Các tin khác

Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng “trường học xanh”, việc lồng ghép các nguyên tắc bảo vệ môi trường vào công tác quản trị con người thông qua Thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh là vô cùng cấp thiết.
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Nhật Bản là một trong những quốc gia xây dựng được hệ thống phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, việc không thể trực tiếp kiểm tra sản phẩm khiến các đánh giá trực tuyến trở thành tín hiệu then chốt giúp thế hệ Z định hình cảm nhận thương hiệu và đưa ra quyết định mua sắm.
Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam đòi hỏi mức độ minh bạch ngày càng cao, giả định khả năng hoạt động liên tục là nguyên tắc nền tảng trong kế toán và kiểm toán, đông thời là tiền đề cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo các chuẩn mực hiện hành.
Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đang được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh doanh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ngành du lịch toàn cầu đóng góp 11,6 nghìn tỷ USD vào GDP thế giới năm 2025, tương đương 9,8% kinh tế toàn cầu, và tạo việc làm cho 366 triệu lao động.
Công nghệ thông tin và năng suất lao động trong khu vực công: Phân tích thực nghiệm tại TP. Hải Phòng

Công nghệ thông tin và năng suất lao động trong khu vực công: Phân tích thực nghiệm tại TP. Hải Phòng

Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước, đồng thời đang đẩy mạnh hiện đại hóa nền hành chính.
Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn: Đề xuất mô hình nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk

Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn: Đề xuất mô hình nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk

Khởi nghiệp có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, đổi mới sáng tạo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt tại những khu vực mà khả năng hấp thụ lao động của khu vực doanh nghiệp và khu vực công còn hạn chế.
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Đối với Việt Nam, vấn đề này mang tính thời sự rõ rệt. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ công của Việt Nam tăng nhanh từ 53,8% GDP năm 2007 lên 62,6% GDP năm 2017, tiệm cận ngưỡng trần 65% GDP được quy định trong Chiến lược nợ công.