Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 16:46 | 27/08/2026
Liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống.

ThS. Nguyễn Văn Trai

Học viện Chính trị khu vực IV; Email: nguyentraihv4@gmail.com

Đỗ Thuỷ Tiên

Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang; Email: dothuytienyt@gmail.com

Đặng Hoàng Em

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Thạnh An, TP. Cần Thơ; Email: danghoangem20@gmail.com

Lý Văn Thông

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã Lâm Tân, TP. Cần Thơ; E.mail: lvthong186@gmail.com

Tóm tắt

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở phân tích thực tiễn liên kết giữa các chủ thể trong thời gian qua, bài viết đánh giá những kết quả đạt được trong xây dựng thể chế, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và nâng cao đời sống người dân; đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập về cơ chế phối hợp, năng lực đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và thể chế liên kết vùng. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn mới.

Từ khoá: Liên kết bốn nhà, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển bền vững

Abstract

In the context where science, technology, innovation, and digital transformation are identified as important drivers of economic growth in the spirit of Resolution No. 57-NQ/TW of the Politburo, strengthening linkages among the State, businesses, scientists, and citizens has become an urgent requirement to improve the effectiveness of scientific and technological research and application in the Mekong Delta. Based on an analysis of the practical linkages among these stakeholders in recent years, this article evaluates the achievements in institutional development, technology transfer, the development of innovative enterprises, and improvements in people's livelihoods. At the same time, it identifies limitations and shortcomings in coordination mechanisms, innovation capacity, human resources, and regional linkage institutions. Accordingly, the article proposes solutions to strengthen linkages among the State, businesses, scientists, and citizens in scientific and technological research and application, contributing to promoting the rapid and sustainable development of the Mekong Delta in the new period.

Keywords: Four-party linkage, science and technology, innovation, Mekong Delta, sustainable development

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là trung tâm sản xuất lúa gạo, thủy sản và trái cây lớn nhất cả nước, đóng góp quan trọng vào bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và kim ngạch xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, Vùng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như biến đổi khí hậu (BĐKH), xâm nhập mặn, sụt lún đất, suy giảm tài nguyên nước, chất lượng tăng trưởng chưa cao, năng suất lao động còn thấp và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu phải đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST).

Trong bối cảnh đó, liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KHCN vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Mỗi chủ thể giữ một vai trò riêng nhưng có mối quan hệ gắn bó, bổ trợ lẫn nhau.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, ĐBSCL đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể, hình thành nhiều mô hình hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, phát triển chuỗi giá trị và thích ứng với BĐKH. Tuy nhiên, mối liên kết này vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, vì vậy, việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng KHCN ở ĐBSCL là cần thiết.

THỰC TRẠNG LIÊN KẾT “4 NHÀ” TRONG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở ĐBSCL

Kết quả đạt được

Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể

Thời gian qua, hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số đã từng bước tạo nền tảng quan trọng cho việc thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân tại ĐBSCL. Nhiều nghị quyết, chiến lược và chương trình phát triển vùng được ban hành theo hướng khuyến khích ứng dụng KHCN vào sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đặc biệt, Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2022) đã tạo ra khuôn khổ phát triển mới theo hướng liên kết vùng, liên kết ngành và phát huy hiệu quả các nguồn lực KHCN. Các địa phương trong Vùng đã từng bước xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ, thúc đẩy khởi nghiệp ĐMST và chuyển đổi số trong các ngành kinh tế chủ lực. Nhiều tỉnh, thành phố như Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang đã hình thành các trung tâm hỗ trợ ĐMST, thúc đẩy kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân. Bên cạnh đó, các chương trình KHCN cấp quốc gia, cấp bộ và cấp địa phương tập trung vào thích ứng BĐKH, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số đã tạo điều kiện để các chủ thể tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ. Điều này cho thấy vai trò kiến tạo của Nhà nước ngày càng được phát huy trong việc hình thành môi trường thuận lợi cho liên kết “4 nhà” phát triển. Việc hoàn thiện thể chế phát triển Vùng đã tạo tiền đề quan trọng cho thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể trong nghiên cứu và ứng dụng KHCN. Theo VCCI và Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (2025), Vùng đang từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào sản lượng sang mô hình kinh tế nông nghiệp ĐMST, thích ứng với BĐKH và lấy doanh nghiệp làm hạt nhân phát triển. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành các chương trình liên kết “4 nhà” trong quá trình phát triển KHCN và ĐMST.

Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ

ĐBSCL hiện là một trong những khu vực có hoạt động nghiên cứu và chuyển giao KHCN khá sôi động, với sự tham gia tích cực của các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Nổi bật là vai trò của Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khác trong việc cung cấp các luận cứ khoa học, giải pháp công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển Vùng.

Nhiều giống lúa mới có khả năng chống chịu hạn, mặn, thích ứng với điều kiện BĐKH đã được nghiên cứu, chọn tạo và chuyển giao thành công cho người dân. Các quy trình canh tác tiên tiến, mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn từng bước được nhân rộng, góp phần nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất. Trong lĩnh vực thủy sản, nhiều tiến bộ kỹ thuật về nuôi tôm công nghệ cao, quản lý dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu đã được ứng dụng rộng rãi. Vai trò của các cơ sở nghiên cứu trong Vùng ngày càng được khẳng định, đặc biệt là Viện Lúa ĐBSCL. Trong 5 năm gần đây, Viện đã triển khai 449 nhiệm vụ KHCN, công bố hơn 80 công trình khoa học trong và ngoài nước, đồng thời được cấp 29 bằng bảo hộ giống lúa. Nhiều giống lúa chất lượng cao, có khả năng chống chịu hạn, mặn và thích ứng với BĐKH đã được nghiên cứu, chọn tạo và chuyển giao vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL (Lê Sơn, 2026).

Đặc biệt, quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Nhiều địa phương triển khai các nền tảng quản lý sản xuất, nhật ký điện tử, hệ thống giám sát môi trường nuôi trồng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm và sàn thương mại điện tử nông sản. Những kết quả này cho thấy tri thức khoa học đã từng bước được chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành kinh tế chủ lực trong vùng.

Năm 2024, sản lượng lúa của ĐBSCL đạt khoảng 24,2 triệu tấn, chiếm 55,4% sản lượng lúa cả nước; vùng tiếp tục đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Những kết quả này có sự đóng góp quan trọng của hoạt động nghiên cứu, chuyển giao giống mới và ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp (Lê Sơn, 2026).

Phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Một trong những chuyển biến tích cực của Vùng trong thời gian qua là sự tham gia ngày càng sâu rộng của doanh nghiệp vào hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ vị trí thụ động tiếp nhận công nghệ sang chủ động hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh.

Các doanh nghiệp đầu ngành trong lĩnh vực lúa gạo, thủy sản, chế biến nông sản đã từng bước hình thành các chuỗi liên kết từ nghiên cứu giống, tổ chức sản xuất, thu mua nguyên liệu, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Thông qua các chuỗi liên kết này, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã được thương mại hóa thành công, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và gia tăng giá trị xuất khẩu.

Hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu từng bước được mở rộng thông qua các mô hình liên kết chuỗi giá trị lúa gạo, thủy sản và trái cây. Một số doanh nghiệp lớn đã tham gia đặt hàng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025 cũng cho thấy khu vực doanh nghiệp của vùng còn nhiều hạn chế khi tỷ trọng doanh nghiệp của vùng trong tổng số doanh nghiệp cả nước đã giảm từ khoảng 22% năm 2000 xuống còn khoảng 7% năm 2024; từ năm 2023, ĐBSCL trở thành vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước (VCCI và Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, 2025). Điều này cho thấy liên kết giữa doanh nghiệp với nhà khoa học vẫn còn nhiều dư địa để phát triển.

Bên cạnh đó, phong trào khởi nghiệp ĐMST trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ sinh học và công nghệ số cũng có bước phát triển đáng kể. Nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đã khai thác hiệu quả các kết quả nghiên cứu khoa học để tạo ra sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới và các giải pháp công nghệ phục vụ sản xuất. Điều này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của doanh nghiệp trong việc kết nối giữa hoạt động nghiên cứu với nhu cầu của thị trường.

Kết quả đối với người dân và cộng đồng

Những kết quả đạt được trong liên kết “4 nhà” đã tạo ra những tác động tích cực đối với đời sống kinh tế - xã hội của Vùng. Thông qua việc tiếp nhận các tiến bộ KHCN, người dân có điều kiện nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng thích ứng với BĐKH và nâng cao thu nhập.

Nhiều mô hình hợp tác xã kiểu mới, tổ hợp tác sản xuất gắn với ứng dụng công nghệ đã được hình thành, tạo điều kiện để người dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số từng bước thay đổi tư duy sản xuất truyền thống, góp phần nâng cao trình độ quản lý và năng lực cạnh tranh của người sản xuất.

Không chỉ tạo ra lợi ích kinh tế, quá trình liên kết còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thông qua việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, giáo dục, dịch vụ công và các thành tựu KHCN. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình phát triển, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển bền vững ĐBSCL trong giai đoạn mới.

Những kết quả của liên kết “4 nhà” đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện đời sống người dân trong vùng. Theo Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025, ĐBSCL hiện đóng góp khoảng 70% sản lượng trái cây, 60% sản lượng thủy sản và hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Sự phát triển của các mô hình sản xuất ứng dụng KHCN, nông nghiệp thông minh và chuyển đổi số đã giúp người dân nâng cao thu nhập, giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng thích ứng với BĐKH.

Một số hạn chế, tồn tại

Liên kết chưa thật sự bền vững, thiếu cơ chế ràng buộc

Mặc dù nhiều mô hình liên kết đã được hình thành nhưng phần lớn vẫn mang tính dự án hoặc theo từng chương trình hỗ trợ của Nhà nước. Quan hệ giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và người dân trong nhiều trường hợp chưa dựa trên cơ chế chia sẻ lợi ích và trách nhiệm dài hạn. Khi thị trường biến động, các liên kết dễ bị phá vỡ, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp thiếu vùng nguyên liệu ổn định, người dân thiếu đầu ra bền vững và kết quả nghiên cứu khó được ứng dụng rộng rãi. Nhận định này cũng được phản ánh trong Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025 khi phân tích sự thiếu ổn định trong các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản của vùng.

Hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chưa đáp ứng nhu cầu

Mặc dù số lượng đề tài nghiên cứu, công bố khoa học và nhiệm vụ KHCN ngày càng tăng nhưng tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp. Nhiều kết quả nghiên cứu vẫn dừng lại ở quy mô thử nghiệm hoặc nghiệm thu hành chính mà chưa trở thành công nghệ được doanh nghiệp tiếp nhận và đưa vào sản xuất. Khoảng cách giữa cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp và người dân vẫn còn khá lớn. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu và mức độ gắn kết giữa khu vực nghiên cứu với khu vực sản xuất vẫn còn là điểm nghẽn của hệ sinh thái ĐMST hiện nay (Mạc Thị Thảo và cộng sự, 2025).

Doanh nghiệp chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Phần lớn doanh nghiệp trong vùng có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Theo VCCI và Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (2025), mật độ doanh nghiệp của vùng hiện thuộc nhóm thấp nhất cả nước và tỷ trọng doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp cả nước liên tục suy giảm. Nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu cạnh tranh bằng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thay vì đổi mới công nghệ. Điều này làm cho nhu cầu đặt hàng nghiên cứu từ phía doanh nghiệp chưa đủ mạnh để dẫn dắt hoạt động KHCN.

Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và chưa đồng đều

Đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học có khả năng dẫn dắt các chương trình nghiên cứu lớn chưa nhiều. Tình trạng dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao về các trung tâm kinh tế lớn tiếp tục diễn ra. Trong khi đó, chất lượng đào tạo và khả năng thích ứng với công nghệ mới của lực lượng lao động trong vùng còn nhiều hạn chế.

Thể chế liên kết vùng và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể còn nhiều bất cập

Mặc dù đã có nhiều chủ trương thúc đẩy liên kết vùng nhưng cơ chế điều phối và phối hợp giữa các địa phương, các cơ sở nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa thật sự hiệu quả. Tình trạng đầu tư phân tán, thiếu chia sẻ dữ liệu, thiếu các tổ chức trung gian kết nối cung - cầu công nghệ làm giảm hiệu quả của hệ sinh thái ĐMST trong toàn vùng.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Nhằm tăng cường liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân trong nghiên cứu và ứng dụng KHCN ở ĐBSCL thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện thể chế và cơ chế điều phối liên kết vùng

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, thống nhất và lấy hiệu quả liên kết giữa các chủ thể làm trung tâm. Cần xây dựng cơ chế điều phối KHCN cấp vùng đủ mạnh nhằm khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, trùng lặp nhiệm vụ nghiên cứu và thiếu kết nối giữa các địa phương. Đồng thời, tăng cường cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ KHCN có tính liên vùng gắn với các vấn đề chiến lược của ĐBSCL như BĐKH, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng của nông sản.

Hai là, phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Doanh nghiệp cần thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ trong vùng. Nhà nước cần có các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Đồng thời, thúc đẩy cơ chế doanh nghiệp tham gia đặt hàng các nhiệm vụ KHCN xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường; khuyến khích hình thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp, các quỹ ĐMST và các mô hình đối tác công - tư (PPP) trong nghiên cứu khoa học.

Ba là, nâng cao năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ của các viện nghiên cứu và trường đại học

Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu theo hướng gắn chặt với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và địa phương. Cần chuyển từ tư duy nghiên cứu để công bố sang nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn của vùng. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế đánh giá hoạt động khoa học theo hướng coi trọng hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và tác động xã hội của các kết quả nghiên cứu. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần phát huy vai trò trung tâm tri thức, trở thành cầu nối giữa khoa học với sản xuất và thị trường.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ của Vùng. Vì vậy, cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và lao động kỹ thuật có trình độ cao trong các lĩnh vực trọng điểm. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo thực hành, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, có chính sách thu hút, trọng dụng và giữ chân đội ngũ nhân lực KHCN chất lượng cao phục vụ phát triển ĐBSCL.

Năm là, phát huy vai trò chủ thể của người dân và hợp tác xã trong tiếp nhận, ứng dụng khoa học công nghệ

Người dân và hợp tác xã cần được xác định là chủ thể trực tiếp của quá trình ĐMST trong sản xuất và đời sống. Do đó, cần đẩy mạnh hoạt động phổ biến tri thức khoa học, đào tạo kỹ năng số và nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ các hợp tác xã nâng cao năng lực quản trị, xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị và tăng cường khả năng liên kết với doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu trong ứng dụng các tiến bộ KHCN vào sản xuất.

Sáu là, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đặc thù

Trên cơ sở lợi thế so sánh của Vùng, cần tập trung phát triển hệ sinh thái ĐMST gắn với nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến nông sản, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số. TP. Cần Thơ cần được phát huy vai trò trung tâm KHCN và ĐMST của toàn Vùng; đồng thời hình thành mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức hỗ trợ ĐMST. Qua đó, tạo môi trường thuận lợi để tri thức khoa học được chuyển hóa thành công nghệ, công nghệ được chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ĐBSCL trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:

1. Lê Sơn (2026). Doanh nghiệp phải trở thành ‘đầu kéo’ tăng trưởng mới của ĐBSCL. https://baochinhphu.vn/doanh-nghiep-phai-tro-thanh-dau-keo-tang-truong-moi-cua-dbscl-102260528170120397.htm?utm_source=chatgpt.com

2. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (2025). Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025.

3. Mạc Thị Thảo, Phạm Minh Tuấn, Đỗ Hoàng Phương, Nguyễn Thị Thuỳ Linh (2025). Vai trò của năng lực ĐMST ở doanh nghiệp trong bối cảnh mới, https://tapchiketoankiemtoan.vn/vai-tro-cua-nang-luc-doi-moi-sang-tao-o-doanh-nghiep-trong-boi-canh-moi-d4867.html

4. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 ban hành Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Ngày nhận bài: 19/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 13/8/2026; Ngày duyệt đăng: 26/8/2026

Các tin khác

Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội

Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội

Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất có vai trò quan trọng trong bảo đảm quyền lợi người dân và tạo đồng thuận xã hội. Từ thực tiễn xã An Khánh, nghiên cứu đánh giá kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, ổn định đời sống và sinh kế sau thu hồi đất.
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Dù việc ứng dụng công nghệ ngày càng phổ biến nhờ giúp các doanh nghiệp logistics tối ưu hóa chuỗi cung ứng và đạt mục tiêu kinh doanh, song quá trình này vẫn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ nhiều yếu tố cấu thành.
Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng “trường học xanh”, việc lồng ghép các nguyên tắc bảo vệ môi trường vào công tác quản trị con người thông qua Thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh là vô cùng cấp thiết.
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Nhật Bản là một trong những quốc gia xây dựng được hệ thống phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, việc không thể trực tiếp kiểm tra sản phẩm khiến các đánh giá trực tuyến trở thành tín hiệu then chốt giúp thế hệ Z định hình cảm nhận thương hiệu và đưa ra quyết định mua sắm.
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam đòi hỏi mức độ minh bạch ngày càng cao, giả định khả năng hoạt động liên tục là nguyên tắc nền tảng trong kế toán và kiểm toán, đông thời là tiền đề cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo các chuẩn mực hiện hành.
Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đang được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh doanh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ngành du lịch toàn cầu đóng góp 11,6 nghìn tỷ USD vào GDP thế giới năm 2025, tương đương 9,8% kinh tế toàn cầu, và tạo việc làm cho 366 triệu lao động.
Công nghệ thông tin và năng suất lao động trong khu vực công: Phân tích thực nghiệm tại TP. Hải Phòng

Công nghệ thông tin và năng suất lao động trong khu vực công: Phân tích thực nghiệm tại TP. Hải Phòng

Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước, đồng thời đang đẩy mạnh hiện đại hóa nền hành chính.
Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn: Đề xuất mô hình nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk

Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn: Đề xuất mô hình nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk

Khởi nghiệp có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, đổi mới sáng tạo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt tại những khu vực mà khả năng hấp thụ lao động của khu vực doanh nghiệp và khu vực công còn hạn chế.