Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội
TS. Nguyễn Thị Hải Ninh
Trường Đại học Lâm nghiệp
ThS. Nguyễn Thị Thùy (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Lâm nghiệp; Email: thuynt1@vnuf.edu.vn
Đỗ Ngọc Anh
Trường Đại học Lâm nghiệp
Kiều Thu Hà
Lớp CQ60/61.02 – chuyên ngành Kinh tế và Quản lý nguồn lực tài chính - Học viện Tài chính
Tóm tắt
Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (BTHT&TĐC) khi nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo của địa phương, kết quả khảo sát 132 hộ gia đình có đất bị thu hồi và phỏng vấn sâu một số cán bộ, hộ dân có liên quan. Kết quả cho thấy, công tác BTHT&TĐC được thực hiện đúng quy định, tiến độ chi trả bồi thường được đảm bảo và đáp ứng cơ bản quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, giá đất bồi thường chưa sát với giá thị trường, mức độ tham gia của người dân còn thấp, hiệu quả hỗ trợ chuyển đổi sinh kế chưa cao và thiếu cơ chế theo dõi hậu tái định cư. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác BTHT&TĐC, góp phần bảo đảm sinh kế bền vững và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn nghiên cứu.
Từ khóa: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất, sinh kế, An Khánh
Abstract
This study evaluates the current status of compensation, support, and resettlement when the State acquires land in An Khanh Commune, Ha Noi City. The research data were collected from local reports, a survey of 132 households whose land was acquired, and in-depth interviews with relevant officials and affected households. The results show that compensation, support, and resettlement activities were implemented in accordance with regulations, compensation payment schedules were adhered to, and the basic rights of affected land users were largely upheld. However, compensation land prices have not been closely aligned with market prices, public participation remains low, livelihood transition support has not been highly effective, and there is a lack of post-resettlement monitoring mechanisms. Based on these findings, the study proposes several solutions to improve compensation, support, and resettlement activities, thereby ensuring sustainable livelihoods and enhancing the effectiveness of state land management in the study area.
Keywords: Compensation, support, resettlement, land acquisition, livelihoods, An Khanh
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội là yêu cầu tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, việc thu hồi đất không chỉ làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất mà còn tác động trực tiếp đến đời sống, việc làm và thu nhập của người dân. Do đó, công tác BTHT&TĐC có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất, tạo sự đồng thuận xã hội và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
Xã An Khánh (TP. Hà Nội) là một trong những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều dự án hạ tầng giao thông và khu đô thị. Giai đoạn 2020-2024, trên địa bàn xã đã triển khai nhiều dự án thu hồi đất, ảnh hưởng đến hàng trăm hộ dân. Mặc dù công tác BTHT&TĐC đã được thực hiện theo quy định của pháp luật và đạt được một số kết quả nhất định, song thực tiễn vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như giá đất bồi thường chưa sát với giá thị trường, mức độ tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện phương án còn hạn chế, chất lượng một số khu tái định cư chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế, hiệu quả hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và phục hồi sinh kế sau thu hồi đất còn thấp. Những hạn chế này không chỉ làm phát sinh khiếu nại, kiến nghị mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu ổn định đời sống và phát triển bền vững của người dân sau thu hồi đất.
Từ thực tiễn đó, việc đánh giá công tác BTHT&TĐC tại xã An Khánh là cần thiết nhằm làm rõ kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách, góp phần bảo đảm quyền lợi người dân, nâng cao hiệu quả quản lý đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản pháp luật về đất đai, báo cáo kinh tế - xã hội của địa phương, báo cáo về công tác BTHT&TĐC trên địa bàn xã An Khánh giai đoạn 2020-2024. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 132 hộ gia đình có đất bị thu hồi bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Ngoài ra, nghiên cứu còn thực hiện phỏng vấn sâu cán bộ địa chính, cán bộ Ban Quản lý dự án Đầu tư - Hạ tầng xã An Khánh và một số hộ dân điển hình đại diện các hộ có mức thu nhập tăng, giảm, không đổi nhằm đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phản ánh thực trạng công tác BTHT&TĐC thông qua các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình. Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá sự thay đổi về thu nhập của người dân trước và sau thu hồi đất. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế trong công tác BTHT&TĐC tại địa bàn nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Xã An Khánh nằm ở phía Tây Nam TP. Hà Nội, có diện tích tự nhiên 525,4 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 61% (UBND xã An Khánh, 2025). Với vị trí trên trục Đại lộ Thăng Long, kết nối với đường Vành đai 3,5 và Vành đai 4, xã có nhiều thuận lợi để phát triển công nghiệp, đô thị, thương mại và dịch vụ.
Giai đoạn 2020-2024, trên địa bàn xã có 7 dự án được phê duyệt thu hồi khoảng 85,7 ha đất, ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 450 hộ gia đình, chủ yếu phục vụ phát triển hạ tầng giao thông, khu dân cư và công trình thương mại, dịch vụ (Ban Quản lý dự án Đầu tư - Hạ tầng xã An Khánh, 2025). Quá trình này làm giảm diện tích đất nông nghiệp, đồng thời gia tăng nhu cầu sử dụng đất cho phát triển đô thị và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Công tác xây dựng kế hoạch và phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Công tác xây dựng kế hoạch và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại xã An Khánh được thực hiện theo quy định hiện hành, gồm các bước khảo sát, thu thập thông tin; xác định giá đất bồi thường; lựa chọn hình thức bồi thường; hỗ trợ và bố trí tái định cư. Công tác kiểm kê, xác định nguồn gốc và tình trạng pháp lý đất đai được thực hiện tương đối đầy đủ, tạo cơ sở cho việc lập và phê duyệt phương án bồi thường.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế. Việc khảo sát chủ yếu tập trung vào diện tích đất, loại đất và tài sản bị ảnh hưởng, trong khi các nội dung liên quan đến sinh kế sau thu hồi đất chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả khảo sát 132 hộ dân cho thấy, có 71,2% số hộ chỉ được khảo sát về đất đai và tài sản, ít được hỏi về nhu cầu đào tạo nghề hoặc chuyển đổi việc làm. Do đó, các chính sách hỗ trợ còn mang tính đồng loạt, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Bên cạnh đó, giá đất bồi thường vẫn chủ yếu căn cứ vào bảng giá đất của Nhà nước nên chưa phản ánh sát giá thị trường. Tại một số vị trí điển hình, giá đất ở được bồi thường chỉ bằng khoảng 40-50% giá giao dịch thực tế, còn giá đất nông nghiệp thấp hơn trên 80% so với giá thị trường (Ban Quản lý dự án Đầu tư - Hạ tầng xã An Khánh, 2025). Sự chênh lệch này ảnh hưởng đến khả năng ổn định đời sống và làm gia tăng khiếu nại của người dân.
Về hình thức bồi thường, khoảng 80% hộ nhận bồi thường bằng tiền, trong khi chỉ khoảng 15% hộ được bố trí đất ở hoặc nhà tái định cư. Mặc dù 100% hộ được hưởng ít nhất một chính sách hỗ trợ, nhưng các khoản hỗ trợ chủ yếu là tiền mặt, mang tính ngắn hạn. Trong khi đó hỗ trợ đào tạo nghề hiệu quả tương đối thấp khi chỉ có 25% hộ tham gia. Điều này cho thấy chính sách hiện nay vẫn thiên về bồi thường tài sản, chưa chuyển sang hỗ trợ phục hồi sinh kế lâu dài.
Ngoài ra, sự tham gia của người dân trong quá trình thiết kế khu tái định cư còn thấp. Một số khu tái định cư chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về không gian sinh hoạt cộng đồng, cây xanh và tiện ích công cộng. Nhìn chung, công tác xây dựng phương án BTHT&TĐC tại xã An Khánh vẫn thiên về giải quyết bồi thường vật chất, trong khi mục tiêu phục hồi sinh kế bền vững và lấy người dân làm trung tâm chưa được thực hiện đầy đủ.
Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch BTHT&TĐC trên địa bàn xã An Khánh được triển khai theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, bao gồm các hoạt động công khai phương án, lấy ý kiến người dân, chi trả tiền bồi thường, bố trí tái định cư và hỗ trợ ổn định đời sống, sinh kế cho các hộ bị thu hồi đất. Nhìn chung, quá trình thực hiện đã góp phần bảo đảm tiến độ giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện giữa các nội dung còn chưa đồng đều và vẫn tồn tại nhiều hạn chế cần được xem xét.
Trong công tác công khai phương án và lấy ý kiến người dân, mặc dù các phương án BTHT&TĐC đã được công khai tại UBND xã, nhà văn hóa thôn và phổ biến qua các cuộc họp dân, song mức độ tham gia của người dân vẫn còn hạn chế. Kết quả khảo sát 132 hộ dân cho thấy, có 72% số người được hỏi nhận định họ ít có cơ hội phản biện hoặc đề xuất điều chỉnh phương án. Ngoài ra, thời gian lấy ý kiến chỉ từ 15-20 ngày khiến nhiều hộ chưa kịp nghiên cứu đầy đủ các nội dung liên quan đến quyền lợi của mình. Điều này phản ánh rằng, hoạt động tham vấn cộng đồng hiện nay vẫn thiên về cung cấp thông tin hơn là khuyến khích người dân tham gia vào quá trình ra quyết định.
Đối với công tác chi trả bồi thường và bố trí tái định cư, kết quả thực hiện cho thấy, đây là một trong những nội dung được triển khai tương đối hiệu quả. Khoảng 85% số hộ dân nhận tiền bồi thường trong vòng 60 ngày kể từ khi ký thỏa thuận, góp phần hạn chế các tranh chấp phát sinh và bảo đảm tiến độ thực hiện dự án. Tuy nhiên, chất lượng bố trí tái định cư chưa đáp ứng đầy đủ kỳ vọng của người dân. Nhiều khu tái định cư được xây dựng ở vị trí xa trung tâm, gây khó khăn cho việc tiếp cận việc làm và các dịch vụ thiết yếu. Đồng thời, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tại một số khu tái định cư chưa được đầu tư đồng bộ, khi có tới 40% hộ dân phản ánh tình trạng thiếu các công trình phúc lợi công cộng, không gian sinh hoạt cộng đồng và một số hạng mục hạ tầng còn xuống cấp.
Công tác hỗ trợ sinh kế sau thu hồi đất vẫn là khâu còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện. Các chương trình đào tạo nghề chủ yếu mang tính ngắn hạn, chưa gắn với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và điều kiện thực tế của người lao động bị thu hồi đất. Do đó, chỉ khoảng 22% lao động mất đất nông nghiệp có việc làm ổn định với thu nhập tương đương hoặc cao hơn trước. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ vay vốn còn vướng mắc về thủ tục, trong khi sự phối hợp giữa người dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương chưa hiệu quả. Điều này cho thấy các chính sách hiện nay chủ yếu bù đắp thiệt hại trước mắt, chưa tạo được nền tảng cho phục hồi và phát triển sinh kế bền vững.
Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của 132 hộ dân (Bảng 1) đã phản ánh những tồn tại trong quá trình tổ chức thực hiện. Điểm đánh giá trung bình đối với cơ hội tham gia đóng góp ý kiến chỉ đạt 2,48/5 điểm và hiệu quả hỗ trợ đào tạo nghề, tìm việc làm đạt 2,38/5 điểm, là hai tiêu chí có mức đánh giá thấp nhất. Trong khi đó, tiêu chí tiến độ chi trả bồi thường đạt 3,64/5 điểm, cho thấy đây là nội dung được người dân đánh giá tích cực hơn cả.
Nhìn chung, những hạn chế nổi bật trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch BTHT&TĐC tại xã An Khánh tập trung ở 2 khía cạnh chính là mức độ tham gia của người dân còn thấp và hiệu quả hỗ trợ phục hồi sinh kế chưa cao, trong khi công tác chi trả bồi thường cơ bản đáp ứng được yêu cầu về tiến độ và thủ tục thực hiện.
Bảng 1: Đánh giá của người dân về các khâu tổ chức thực hiện (n = 132)
Đơn vị tính: %
|
Nội dung đánh giá |
Rất hài lòng |
Hài lòng |
Bình thường |
Không hài lòng |
Rất không hài lòng |
Điểm trung bình (1-5) |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
1. Tính minh bạch trong công khai thông tin |
5,3 |
25,8 |
40,9 |
22,0 |
6,0 |
2,87 |
|
2. Cơ hội tham gia đóng góp ý kiến |
3,0 |
18,2 |
34,8 |
31,1 |
12,9 |
2,48 |
|
3. Tiến độ chi trả bồi thường |
15,9 |
45,5 |
28,0 |
8,3 |
2,3 |
3,64 |
|
4. Chất lượng hạ tầng khu tái định cư |
4,5 |
19,7 |
37,1 |
28,8 |
9,9 |
2,80 |
|
5. Hiệu quả hỗ trợ đào tạo nghề, tìm việc |
2,3 |
11,4 |
26,5 |
40,9 |
18,9 |
2,38 |
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát của nhóm tác giả
Công tác kiểm tra, giám sát và giải quyết hậu tái định cư
Công tác kiểm tra, giám sát và giải quyết các vấn đề sau tái định cư có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ổn định đời sống và sinh kế của người dân bị thu hồi đất. Hoạt động giám sát hiện chủ yếu tập trung vào tiến độ chi trả bồi thường và giải quyết khiếu nại phát sinh, qua đó góp phần xử lý kịp thời một số vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, cơ chế giám sát vẫn còn nhiều hạn chế khi sự tham gia của các tổ chức đại diện cộng đồng chưa phát huy hiệu quả, hoạt động giám sát độc lập hầu như chưa được triển khai, trong khi việc kiểm tra chất lượng khu tái định cư chủ yếu do Ban Quản lý dự án và chủ đầu tư thực hiện. Vì vậy, vai trò giám sát của cộng đồng còn mang tính hình thức, chưa bảo đảm tính khách quan, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện chính sách.
Đối với công tác giải quyết khiếu nại, nội dung khiếu nại chủ yếu liên quan đến giá đất bồi thường, cho thấy đây là nguyên nhân chính gây phát sinh mâu thuẫn trong quá trình thu hồi đất. Mặc dù việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo đúng quy định, hiệu quả vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng của người dân. Chỉ khoảng 65% vụ việc được giải quyết đúng thời hạn quy định, trong khi 35% còn lại phải kéo dài qua nhiều cấp giải quyết khác nhau (UBND xã An Khánh, 2025). Tình trạng này làm gia tăng tâm lý bức xúc, khiếu kiện kéo dài và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với chính sách BTHT&TĐC.
Công tác đánh giá và quản lý hậu tái định cư hiện vẫn là khâu còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện BTHT&TĐC. Sau khi hoàn thành chi trả bồi thường và bố trí tái định cư, các hoạt động hỗ trợ, theo dõi người dân hầu như chấm dứt. Hiện chưa có chương trình đánh giá định kỳ về đời sống, việc làm và thu nhập của các hộ dân sau tái định cư, đồng thời cũng thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác theo dõi và đánh giá chính sách. Điều này gây khó khăn cho việc điều chỉnh chính sách, đánh giá hiệu quả thực hiện và nhận diện kịp thời các hộ dân gặp khó khăn sau thu hồi đất.
Thực trạng trên cho thấy sự thiếu vắng một hệ thống giám sát, đánh giá hậu tái định cư toàn diện, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển sinh kế bền vững của người dân.
Thu nhập của người dân sau thu hồi đất
Kết quả khảo sát 132 hộ cho thấy thu hồi đất đã tác động đáng kể đến thu nhập của các hộ gia đình. Trong đó, số hộ có thu nhập giảm chiếm tỷ lệ cao nhất.
Bảng 2: So sánh thu nhập bình quân/hộ/tháng trước và sau thu hồi đất (n=132)
|
Mức thay đổi thu nhập |
Số hộ (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
Nhận xét/Nguyên nhân chính (từ phỏng vấn sâu) |
|---|---|---|---|
|
1. Tăng lên |
28 |
21,2 |
- Chủ động chuyển đổi sang kinh doanh, dịch vụ từ vốn bồi thường. - Có việc làm ổn định trong nhà máy, khu công nghiệp lân cận. |
|
2. Giữ nguyên (dao động không đáng kể) |
45 |
34,1 |
- Thu nhập chính từ tiền lương, trợ cấp (hộ công chức, hưu trí). - Sinh kế ít phụ thuộc vào đất bị thu hồi. |
|
3. Giảm sút |
59 |
44,7 |
- Mất nguồn thu từ nông nghiệp, chăn nuôi. - Khó tìm việc làm mới phù hợp (tuổi cao, trình độ thấp). - Tiêu dùng hết tiền bồi thường mà chưa tạo được nguồn thu ổn định. |
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ khảo sát và phỏng vấn sâu
Bảng 2 cho thấy 59 hộ, tương ứng 44,7% tổng số hộ được khảo sát, có thu nhập giảm sau khi bị thu hồi đất; 45 hộ, chiếm 34,1%, có thu nhập không thay đổi đáng kể; và chỉ 28 hộ, tương ứng 21,2%, có thu nhập tăng.
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến giảm thu nhập là các hộ mất nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi nhưng chưa tìm được sinh kế thay thế phù hợp. Nhiều lao động thuộc nhóm trung niên hoặc cao tuổi, có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp hạn chế nên gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi việc làm. Một số hộ sử dụng phần lớn tiền bồi thường cho sinh hoạt, xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở mà chưa đầu tư vào hoạt động có khả năng tạo nguồn thu lâu dài.
Ngược lại, các hộ có thu nhập tăng thường là những hộ chủ động sử dụng tiền bồi thường để đầu tư kinh doanh, phát triển dịch vụ hoặc có thành viên tìm được việc làm ổn định tại các doanh nghiệp và khu công nghiệp lân cận. Các hộ có thu nhập ít thay đổi chủ yếu là hộ công chức, viên chức, người nghỉ hưu hoặc những hộ có nguồn thu không phụ thuộc nhiều vào diện tích đất bị thu hồi.
Kết quả trên cho thấy thu hồi đất không chỉ là sự dịch chuyển về quyền sử dụng đất và tài sản mà còn là quá trình chuyển đổi sinh kế. Nếu các chính sách hỗ trợ chỉ tập trung vào bồi thường bằng tiền mà không tạo điều kiện phục hồi nguồn thu lâu dài, một bộ phận người dân có thể đối mặt với nguy cơ suy giảm mức sống, gia tăng khoảng cách thu nhập và phát sinh các vấn đề xã hội sau thu hồi đất.
Đánh giá chung
Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh đã đạt được một số kết quả tích cực. Quá trình thực hiện cơ bản tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và quy định pháp luật, từ khâu lập phương án, công khai thông tin đến tổ chức chi trả bồi thường, góp phần bảo đảm tính minh bạch và hạn chế sai sót trong quá trình thực hiện. Công tác chi trả bồi thường được tiến hành tương đối kịp thời, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Các chính sách hỗ trợ như ổn định đời sống, đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm và bố trí tái định cư đã được triển khai, góp phần đáp ứng nhu cầu về nhà ở và hỗ trợ người dân từng bước ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác BTHT&TĐC tại xã An Khánh vẫn bộc lộ một số hạn chế cần được quan tâm khắc phục. Trước hết, cơ chế xác định giá đất bồi thường chưa sát với giá thị trường, dẫn đến sự chênh lệch đáng kể giữa mức giá bồi thường và giá giao dịch thực tế. Thực trạng này làm giảm mức độ đồng thuận của người dân và phát sinh khiếu nại, kiến nghị liên quan đến thu hồi đất.
Cùng với đó, hoạt động tham vấn cộng đồng trong quá trình xây dựng và thực hiện phương án bồi thường còn mang tính hình thức, chưa bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình ra quyết định. Chất lượng một số khu tái định cư chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến điều kiện sinh hoạt của người dân tại nơi ở mới.
Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ sinh kế sau thu hồi đất chưa đạt được hiệu quả như mong đợi, thể hiện qua việc nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp và duy trì nguồn thu nhập ổn định. Đặc biệt, việc thiếu cơ chế giám sát, theo dõi và đánh giá sau tái định cư đã làm hạn chế khả năng nhận diện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình ổn định đời sống của người dân.
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI XÃ AN KHÁNH
Thứ nhất, hoàn thiện công tác xây dựng phương án BTHT&TĐC theo hướng lấy người dân làm trung tâm. Trong quá trình khảo sát cần thu thập đầy đủ thông tin về sinh kế, nhu cầu đào tạo nghề và định hướng việc làm của các hộ bị thu hồi đất nhằm xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ hai, nâng cao tính minh bạch và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện. Cần mở rộng các hình thức tham vấn cộng đồng, tăng thời gian lấy ý kiến và tạo điều kiện để người dân tham gia phản biện, góp ý đối với phương án BTHT&TĐC.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế xác định giá đất bồi thường theo hướng tiệm cận giá thị trường, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi, qua đó hạn chế khiếu nại và nâng cao sự đồng thuận của người dân.
Thứ tư, tăng cường hiệu quả các chính sách hỗ trợ sinh kế sau thu hồi đất. Các chương trình đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận nguồn vốn và các cơ hội việc làm mới.
Thứ năm, xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá hậu tái định cư một cách thường xuyên. Cần thiết lập hệ thống theo dõi về việc làm, thu nhập và điều kiện sống của các hộ dân sau tái định cư nhằm kịp thời phát hiện khó khăn và có biện pháp hỗ trợ phù hợp.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng công tác BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội. Kết quả cho thấy, công tác này cơ bản được thực hiện đúng quy định pháp luật, góp phần bảo đảm tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số hạn chế như giá đất bồi thường chưa sát với giá thị trường, mức độ tham gia của người dân còn thấp, chất lượng một số khu tái định cư chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế và hiệu quả hỗ trợ phục hồi sinh kế còn hạn chế. Đặc biệt, tỷ lệ hộ dân có thu nhập giảm sau thu hồi đất còn khá cao, cho thấy mục tiêu ổn định và phát triển sinh kế bền vững chưa thực sự đạt được.
Để nâng cao hiệu quả công tác BTHT&TĐC trong thời gian tới, cần đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện cơ chế xác định giá đất, tăng cường sự tham gia của người dân, nâng cao chất lượng hỗ trợ sinh kế và xây dựng hệ thống giám sát hậu tái định cư. Đây là những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai và thúc đẩy phát triển bền vững tại địa phương.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Quản lý dự án Đầu tư - Hạ tầng xã An Khánh. (2025). Thống kê các dự án thu hồi đất trên địa bàn xã An Khánh giai đoạn 2020-2024.
2. UBND xã An Khánh (2025). Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai năm 2025 và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 trên địa bàn xã An Khánh.
| Ngày nhận bài: 17/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/8/2026; Ngày duyệt đăng: 27/8/2026 |
Các tin khác
Cơ hội thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại Vĩnh Long
Quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam
Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam
Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam