Cơ hội thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại Vĩnh Long

Nghiên cứu - Trao đổi 19:18 | 27/08/2026
Tỉnh Vĩnh Long mới, trên cơ sở sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, đã mở ra không gian phát triển nông nghiệp mới với lợi thế về dừa, cây ăn trái, thủy sản và kinh tế biển. Tuy nhiên, những hạn chế về sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi, logistics và ứng dụng công nghệ cao đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất theo vùng, ngành hàng và chuỗi giá trị.

TS. Huỳnh Hải Đăng

Học viện Chính trị khu vực IV

Email: huynhhaidang.cantho@gmail.com

Tóm tắt

Trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh là 3 địa phương cónhững đặc trưng nông nghiệp riêng biệt của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, lần lượt nổi bật với cây dừa, cây ăn trái và thủy sản công nghệ cao. Tuy nhiên, tình trạng sản xuất manh mún, thiếu liên kết vùng và trình độ cơ giới hóa còn hạn chế đã ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành lập tỉnh Vĩnh Long mới trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh, đã mở ra cơ hội chiến lược để xây dựng “siêu vùng nguyên liệu dừa”, phát triển nông nghiệp ven biển, nông nghiệp sinh thái tại các cù lao và chuỗi giá trị nông sản liên tỉnh. Tỉnh Vĩnh Long mới có tiềm năng trở thành hình mẫu nông nghiệp xanh, hiện đại, nơi nông dân tham gia sâu vào các chuỗi giá trị sản xuất - du lịch - dịch vụ, góp phần tái định hình không gian nông thôn bền vững trong thời kỳ phát triển mới.

Từ khóa: Sắp xếp đơn vị hành chính, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, Vĩnh Long

Abstract

Prior to the reorganization of provincial-level administrative units, Ben Tre, Vinh Long, and Tra Vinh were three localities with distinct agricultural characteristics in the Mekong Delta, respectively known for coconut, fruit crops, and high-tech aquaculture. However, fragmented production, limited regional linkages, and low levels of mechanization have constrained the industrialization and modernization of agriculture, farmers, and rural areas. The reorganization of provincial-level administrative units and the establishment of the new Vinh Long Province through the merger of the three provinces have created strategic opportunities to develop a “super coconut raw material region,” promote coastal and ecological agriculture on the islets, and establish interprovincial agricultural value chains. The new Vinh Long Province has the potential to become a model of green and modern agriculture, where farmers participate more deeply in production–tourism–service value chains, thereby contributing to the reshaping of sustainable rural spaces in the new development era.

Keywords: Administrative unit reorganization, ecological agriculture, green agriculture, Vinh Long

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh (cũ) là những địa phương có nhiều tiềm năng và lợi thế về phát triển nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Mỗi địa phương đã hình thành các vùng sản xuất và ngành hàng nông nghiệp đặc trưng, trong đó Bến Tre nổi bật với cây dừa và công nghiệp chế biến dừa; Vĩnh Long có thế mạnh về cây ăn trái; Trà Vinh sở hữu nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao.

Tuy nhiên, quá trình phát triển nông nghiệp tại 3 địa phương trước đây vẫn còn những hạn chế như sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; liên kết giữa các vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến và thị trường chưa chặt chẽ; hệ thống logistics nông nghiệp chưa đồng bộ; mức độ cơ giới hóa, tự động hóa và ứng dụng công nghệ cao còn chưa tương xứng với tiềm năng.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, hình thành tỉnh Vĩnh Long mới trên cơ sở hợp nhất Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh đã tạo ra không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời mở ra khả năng liên kết các vùng nguyên liệu, hệ thống chế biến, logistics và thị trường trong một chỉnh thể thống nhất. Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức lại sản xuất theo vùng, ngành hàng và chuỗi giá trị; qua đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn mới.

CƠ HỘI MỚI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN SAU SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH

Động lực công nghiệp hóa ngành dừa

Việc sắp xếp đơn vị hành chính mở ra cơ hội kiến tạo một vùng nguyên liệu dừa liên tỉnh quy mô lớn nhất cả nước, với tổng diện tích canh tác trên 120.000 ha, sản lượng hàng năm lên đến hàng tỷ trái dừa. Đây là điều kiện nền tảng để hình thành trung tâm công nghiệp chế biến dừa hiện đại hàng đầu Đông Nam Á, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp gắn với một loại cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao.

Bến Tre (cũ) được mệnh danh là “thủ phủ dừa” với hơn 80.000 ha trồng dừa, chiếm khoảng 42% diện tích dừa cả nước và khoảng 88% diện tích dừa vùng ĐBSCL. Tỉnh đã xây dựng được chuỗi giá trị dừa từ sản xuất - chế biến - xuất khẩu. Các sản phẩm từ dừa đã xuất khẩu sang khoảng 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ dừa lần đầu tiên vượt ngưỡng 1 tỷ USD.

Trà Vinh (cũ) cũng có những bước tiến mạnh mẽ trên bản đồ xuất khẩu dừa của Việt Nam. Sở hữu khoảng 27.520 ha diện tích trồng dừa, với tổng sản lượng trên 404.000 tấn/năm. Tỉnh đã xây dựng và cấp 29 mã số vùng trồng, trong đó có 10 mã số vùng trồng với tổng diện tích 1.392 ha đủ điều kiện xuất khẩu dừa tươi sang Trung Quốc.

Vĩnh Long (cũ) có khoảng 15.000 ha diện tích trồng dừa, tập trung chủ yếu ở khu vực Bình Minh, Tam Bình và Vũng Liêm. Sản lượng dừa hàng năm ước đạt khoảng 180-200 triệu trái. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ dừa của Tỉnh đạt khoảng 15 triệu USD, tăng 20% so với năm 2023. Dừa xiêm xanh nguyên trái của Vĩnh Long đang dần chinh phục được các thị trường khắt khe như Hoa Kỳ và Canada. Ước tính năm 2024 đã xuất khẩu khoảng 2 triệu trái dừa tươi, thu về khoảng 3 triệu USD. Việc hình thành “siêu vùng nguyên liệu dừa” sau hợp nhất là một cơ hội chiến lược để tỉnh Vĩnh Long mới thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực cây công nghiệp chủ lực.

Nếu được quy hoạch và đầu tư bài bản, tỉnh Vĩnh Long mới sẽ trở thành trung tâm sản xuất - chế biến - xuất khẩu dừa hàng đầu khu vực Đông Nam Á, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và phát triển kinh tế nông thôn bền vững (Lê Minh, 2025).

Phát huy tiềm năng sẵn có, tỉnh Vĩnh Long hiện nay có thể quy hoạch lại vùng nguyên liệu dừa theo hướng tập trung - chuyên canh - công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng chuỗi giá trị dừa bền vững từ giống - canh tác - thu hoạch - chế biến - tiêu thụ; đăng ký chỉ dẫn địa lý liên tỉnh, nâng cao giá trị thương hiệu và bảo hộ quốc tế, phát triển du lịch nông nghiệp với cây dừa, tạo sinh kế đa dạng cho nông dân. Đồng thời, thu hút đầu tư vào công nghiệp chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh quốc tế.

Phát triển nông nghiệp ven biển và thủy sản công nghệ cao quy mô vùng

Tỉnh Vĩnh Long mới có hơn 130 km đường bờ biển và hệ thống cù lao phù sa phong phú, hình thành từ hàng ngàn năm bồi đắp của sông Tiền và sông Hậu (Đông Hoàng, 2025). Đây vừa là lợi thế tự nhiên, vừalà cơ hội chiến lược để Tỉnh thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn và phát triển nông nghiệp ven biển, thủy sản công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái và đa giá trị, đồng thời thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Nếu được quy hoạch và đầu tư bài bản, đây sẽ là vùng nông nghiệp kiểu mẫu của ĐBSCL trong giai đoạn phát triển mới.

Ngoài ra, đường bờ biển dài tạo điều kiện thuận lợi để Vĩnh Long phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô lớn, đặc biệt là các mô hình nuôi tôm công nghệ cao, nuôi cá biển tuần hoàn và chế biến thủy sản xuất khẩu. Các cửa sông lớn như Định An và hệ thống kênh rạch ven biển là nền tảng để xây dựng hệ thống thủy lợi thông minh, phục vụ sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

Cùng với đó, việc hợp nhất cũng mở ra cơ hội quy hoạch tổng thể các vùng nuôi tôm công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư hạ tầng, chuyển giao công nghệ, xây dựng chuỗi giá trị thủy sản xuất khẩu và có thể xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp ven biển tích hợp, kết hợp giữa thủy sản, năng lượng, du lịch và bảo tồn sinh thái.

Cụ thể, tỉnh Bến Tre (cũ) đã vượt mục tiêu 4.000 ha nuôi tôm công nghệ cao, đạt 4.133 ha vào giữa năm 2025, với năng suất bình quân 50 tấn/ha. Các vùng nuôi tập trung như Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri được đầu tư hạ tầng bài bản, thuận lợi cho áp dụng công nghệ cao, kiểm soát môi trường và sản xuất theo chuẩn quốc tế (Nhất Duy và Kim Ngân, 2025).

Trà Vinh (cũ), đặc biệt là ở Duyên Hải, đã phát triển mạnh mô hình nuôi tôm thẻ thâm canh mật độ cao, với hơn 990 ha diện tích nuôi và sản lượng quý I/2025 đạt 8.801 tấn. Mô hình này thu hút hơn 800 hộ dân tham gia, tạo sinh kế ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu (Đức Huy, 2025). Đồng thời, địa phương này cũng đã đặt mục tiêu trở thành tỉnh trọng điểm phát triển kinh tế biển của ĐBSCL, với khu kinh tế Định An, cảng biển và các dự án điện gió ven biển.

Đây là nền tảng để phát triển nông nghiệp ven biển kết hợp năng lượng tái tạo, tạo ra mô hình sản xuất đa giá trị. Các vùng ven biển có thể phát triển nuôi trồng rong biển, nghêu, sò, cá biển tuần hoàn, kết hợp với du lịch sinh thái và bảo tồn hệ sinh thái ven biển.

Phát triển nông nghiệp sinh thái và du lịch nông nghiệp tại các cù lao

Các cù lao lớn ở 3 tỉnh trước đây như Cù lao An Bình, Cù lao Minh, Cù lao Bảo, Cù lao An Hóa là những vùng đất phù sa cổ, được bao bọc bởi các nhánh lớn của sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Nhờ đặc điểm địa hình cách biệt tương đối, địa chất màu mỡ và nguồn nước ngọt ổn định, các cù lao trở thành không gian tiềm năng để phát triển nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch nông nghiệp, góp phần thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn theo hướng đa giá trị.

Trước hết, hệ sinh thái cù lao là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp sinh thái chất lượng cao. Với đặc điểm khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ và ít chịu tác động bởi xâm nhập mặn, các cù lao thích hợp cho các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất cây ăn trái đặc sản. Thực tiễn cho thấy, Cù lao An Bình đã trở thành vùng chuyên canh cây ăn trái tiêu chuẩn VietGAP như chôm chôm, sầu riêng, nhãn tiêu da bò, đồng thời ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất hữu cơ và kiểm soát môi trường canh tác.

Các cù lao như Minh, Bảo, An Hóa không chỉ nổi tiếng với các vườn dừa xanh mát, mà còn đang được chuyển đổi dần sang mô hình nông nghiệp sinh thái, sử dụng phụ phẩm dừa để sản xuất phân hữu cơ, tận dụng rác thải sinh học để phát điện hoặc nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu. Các mô hình này không chỉ tăng hiệu quả kinh tế, mà còn giúp giảm phát thải carbon, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp xanh và bền vững mà Việt Nam đang hướng tới trong bối cảnh ứng phó biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái cù lao còn mở ra tiềm năng lớn trong phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, đặc biệt khi được tích hợp với yếu tố văn hóa địa phương và cảnh quan đặc sắc. Vùng sông nước cù lao vốn là điểm đến yêu thích của khách du lịch nội địa và quốc tế, nhờ vào sự hài hòa giữa thiên nhiên, nhịp sống nông thôn và các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống. Các mô hình homestay tại Cù lao An Bình đã được chuẩn hóa, kết hợp giữa trải nghiệm sản xuất, thưởng thức ẩm thực, tham quan làng nghề truyền thống.

Cùng với đó, Bến Tre (cũ) có lợi thế trong du lịch miệt vườn, dừa, sông nước, trong khi Trà Vinh (cũ) lại có bản sắc văn hóa Khmer đặc trưng với hệ thống chùa cổ và lễ hội dân gian như Ok Om Bok, Nghinh Ông, Lễ hội Sen Dolta… Đây là tiền đề để tỉnh Vĩnh Long mới xây dựng các tuyến du lịch liên tỉnh, kết nối sản xuất nông sản đặc trưng với các hoạt động du lịch sinh thái, tạo ra chuỗi giá trị mở rộng từ nông nghiệp đến dịch vụ - văn hóa - thương mại.

Quan trọng hơn, việc phát triển đồng thời nông nghiệp sinh thái và du lịch nông nghiệp tại các cù lao không chỉ nhằm gia tăng giá trị kinh tế mà còn tạo ra tác động chuyển đổi sâu sắc về mô hình sinh kế và cấu trúc nông thôn hiện đại. Tại các địa phương đang triển khai mô hình này, như Mang Thít, Chợ Lách hay Tiểu Cần, nông dân không còn chỉ là người sản xuất đơn thuần mà đang chuyển dần sang vai trò người cung cấp dịch vụ, hướng dẫn viên du lịch, nghệ nhân thủ công, người kể chuyện văn hóa địa phương… Nhờ đó, thu nhập của người dân không còn phụ thuộc vào sản lượng nông sản mà mở rộng ra các nguồn thu từ dịch vụ, văn hóa, lưu trú - đây chính là biểu hiện rõ nét của “nông thôn đa chức năng” và “nông dân đa năng” trong kỷ nguyên mới.

Nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

Tỉnh Vĩnh Long đã hình thành một không gian phát triển kinh tế nông nghiệp có tính liên kết đa chiều, với lợi thế nổi trội về vị trí địa lý, tài nguyên nông nghiệp, hạ tầng giao thông, kinh tế biển và nền tảng văn hóa bản địa phong phú. Nếu được quy hoạch bài bản và định hướng phát triển hợp lý, Tỉnh có thể trở thành mô hình kiểu mẫu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không chỉ trong vùng ĐBSCL mà còn ở cấp quốc gia.

Về vị trí địa lý, Vĩnh Long nằm giữa 2 trung tâm kinh tế động lực của khu vực phía Nam là TP. Hồ Chí Minh và TP. Cần Thơ; đồng thời tiếp giáp các trục giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 60, các tuyến cao tốc kết nối Mỹ Thuận, Cần Thơ và Cà Mau. Địa phương còn sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc, gồm sông Tiền, sông Hậu và sông Cổ Chiên. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành các trung tâm trung chuyển vật tư và nông sản, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong vùng và xuất khẩu. Hệ thống sông và cảng nội địa cũng tạo nền tảng để phát triển giao thông thủy, góp phần giảm chi phí vận chuyển và nâng cao hiệu quả logistics nông nghiệp.

Trên nền tảng đó, một trong những cơ hội chiến lược là phát triển hệ thống logistics nông nghiệp chuyên biệt liên vùng. Với sự kết nối giữa các vùng nguyên liệu và cảng biển (đặc biệt là Khu kinh tế Định An), tỉnh Vĩnh Long mới có thể xây dựng hệ thống kho lạnh, trạm trung chuyển, trung tâm phân loại - đóng gói - sơ chế nông sản đạt chuẩn xuất khẩu. Các trung tâm logistics thông minh kết hợp với chợ đầu mối cấp vùng sẽ góp phần điều tiết cung - cầu thị trường, giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm. Sự liên kết chặt chẽ trong khâu lưu thông hàng hóa sẽ góp phần tạo lập chuỗi cung ứng nông sản từ nông thôn đến thị trường một cách hiệu quả và bền vững.

Bên cạnh logistics, tỉnh Vĩnh Long có điều kiện thuận lợi để hình thành các cụm công nghiệp chế biến nông sản quy mô lớn theo ngành hàng và vùng nguyên liệu. Việc tổ chức các cụm chế biến sâu sẽ tạo điều kiện nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản, thủy sản, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế. Đây là tiền đề để tái cơ cấu nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa nông thôn, tạo sinh kế bền vững cho người dân và từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường trong nước và quốc tế.

Sự tích hợp không gian và thế mạnh của 3 tỉnh cũ cũng tạo điều kiện triển khai mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp tích hợp “nông nghiệp - công nghiệp - thương mại - xuất khẩu”. Trong đó, các yếu tố đầu vào (giống, công nghệ, tài chính, vật tư nông nghiệp) được cung ứng tập trung thông qua các hợp tác xã hoặc doanh nghiệp đầu chuỗi; quá trình sản xuất tổ chức theo hướng chuyên canh, ứng dụng cơ giới hóa và số hóa; hoạt động chế biến tập trung vào nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế; khâu tiêu thụ kết nối trực tiếp với thị trường trong và ngoài nước thông qua thương mại điện tử, hợp đồng xuất khẩu và hệ thống logistics hiện đại. Mô hình này cho phép giảm thiểu rủi ro, chia sẻ lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi, đồng thời thúc đẩy nâng cao thu nhập và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Như vậy, không gian liên kết đa chiều của tỉnh Vĩnh Long mới là nền tảng quan trọng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự kết hợp giữa lợi thế vị trí địa lý, hạ tầng kết nối liên vùng, hệ thống ngành hàng nông sản đa dạng và khả năng tích hợp chuỗi giá trị sẽ giúp tỉnh trở thành một cực tăng trưởng về nông nghiệp và công nghiệp nông thôn hiện đại trong vùng ĐBSCL. Quá trình này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn góp phần tái cấu trúc không gian nông thôn, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân.

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP

Một là, việc sắp xếp đơn vị hành chính không chỉ đơn thuần là sự hợp nhất địa lý, mà còn là sự tích hợp các hệ sinh thái sản xuất, trình độ phát triển, năng lực quản trị và đặc điểm văn hóa - xã hội vốn có tính chất khác biệt. Do đó, một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần sớm hình thành một cơ chế điều phối phát triển chung, nhằm tích hợp quy hoạch, điều phối nguồn lực và tổ chức sản xuất theo ngành hàng, thay vì theo địa giới hành chính như trước đây. Mô hình này cần có tính liên ngành, liên cấp, đảm bảo khả năng phối hợp giữa sở ngành và địa phương, từ đó tạo ra một không gian sản xuất thống nhất và hiệu quả.

Hai là, mặc dù 3 tỉnh đều có các sản phẩm nông nghiệp chủ lực với tiềm năng xuất khẩu cao như dừa, cây ăn trái, tôm sú, tôm thẻ, nhưng phần lớn nông sản vẫn tiêu thụ ở dạng thô, thiếu chế biến sâu và phụ thuộc vào thương lái. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc tái cơ cấu chuỗi giá trị nông sản theo hướng hiện đại hóa, từ giống - canh tác - thu hoạch - chế biến - tiêu thụ.

Tỉnh Vĩnh Long cần đầu tư mạnh vào các cụm công nghiệp chế biến nông sản chuyên biệt theo ngành hàng, đồng thời hình thành hệ thống logistics nông nghiệp hiện đại, bao gồm kho lạnh, trạm trung chuyển, trung tâm đóng gói, sơ chế đạt chuẩn xuất khẩu, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng. Việc phát triển chuỗi cung ứng khép kín còn đòi hỏi sự tham gia của doanh nghiệp đầu chuỗi và các hợp tác xã, có khả năng ký kết hợp đồng bao tiêu, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng thương mại điện tử vào tiêu thụ nông sản.

Ba là, một trong những rào cản lớn nhất đối với tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp tại Vĩnh Long mới là mô hình sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và thiếu tính kết nối. Điều này làm giảm hiệu quả đầu tư công nghệ và hạn chế khả năng cơ giới hóa, tự động hóa trong canh tác.

Trong bối cảnh đó, cần thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai hợp lý, gắn với tổ chức lại sản xuất theo mô hình vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao. Các vùng dừa hữu cơ tại Bến Tre, trái cây VietGAP tại Vĩnh Long và vùng nuôi tôm tuần hoàn tại Trà Vinh cần được quy hoạch lại thành khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao liên tỉnh, có sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hệ thống tưới tiêu, giám sát môi trường và truy xuất dữ liệu canh tác.

Đây cũng là cơ hội để thu hút các tập đoàn lớn tham gia chuỗi giá trị, cung cấp đầu vào và bao tiêu đầu ra cho nông dân.

Bốn là, không gian sinh thái cù lao và vùng ven biển là lợi thế hiếm có trong phát triển nông nghiệp sinh thái, du lịch nông nghiệp, văn hóa địa phương. Tỉnh Vĩnh Long nên định hướng phát triển vùng nông nghiệp hữu cơ tại Cù lao An Bình, Cù lao Minh, kết hợp với mô hình du lịch cộng đồng, homestay, trải nghiệm canh tác… Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc trưng như dừa xiêm xanh, bưởi Năm Roi và tôm sú sinh thái sẽ góp phần nâng cao giá trị thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đối với khu vực Trà Vinh (cũ), bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Khmer gắn với phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch văn hóa là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển đa giá trị và khai thác bền vững nguồn lực văn hóa đặc sắc của địa phương.

KẾT LUẬN

Việc sắp xếp đơn vị hành chính đã mở ra không gian phát triển mới cho tỉnh Vĩnh Long với quy mô lớn hơn, nguồn lực đa dạng hơn và khả năng liên kết cao hơn. Sự kết hợp giữa vùng nguyên liệu dừa, vùng cây ăn trái, khu vực nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, hệ sinh thái cù lao, không gian kinh tế biển và hệ thống giao thông liên vùng tạo nền tảng quan trọng để tỉnh Vĩnh Long mới đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Tuy nhiên, để chuyển hóa các tiềm năng thành động lực phát triển thực chất, tỉnh cần sớm hoàn thiện cơ chế điều phối chung; tích hợp quy hoạch; tổ chức lại sản xuất theo vùng, ngành hàng và chuỗi giá trị; đầu tư đồng bộ cho công nghiệp chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời phát huy giá trị sinh thái, văn hóa của các cù lao và vùng ven biển. Việc thực hiện hiệu quả các định hướng này sẽ góp phần hình thành nền nông nghiệp xanh, hiện đại, đa giá trị; nâng cao thu nhập và vị thế của người nông dân; đồng thời xây dựng không gian nông thôn văn minh, bền vững và giàu bản sắc.

Tài liệu tham khảo:

1. Đông Hoàng (2025). Nếu sáp nhập 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, tỉnh mới sẽ có 130 km bờ biển, vô số cù lao. https://danviet.vn/neu-sap-nhap-3-tinh-vinh-long-tra-vinh-ben-tre-tinh-moi-se-co-hon-130km-bo-bien-vo-so-cu-lao-d1323387.html

2. Đức Huy (2025). Thị xã Duyên Hải: Thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường. https://txdh.travinh.gov.vn/tin-kinh-te/thi-xa-duyen-hai-thuc-day-phat-trien-nong-nghiep-ben-vung-va-bao-ve-moi-truong-737391

3. Lê Minh (2025). Sáp nhập Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long sẽ tạo nên “siêu vùng nguyên liệu dừa”. https://danviet.vn/sap-nhap-ben-tre-tra-vinh-va-vinh-long-se-tao-nen-sieu-vung-nguyen-lieu-dua-d1325171.html

4. Nhất Duy, & Kim Ngân (2025). Bến Tre vượt mục tiêu 4.000 ha nuôi tôm công nghệ cao. https://baodongkhoi.vn/ben-tre-vuot-muc-tieu-4-000ha-nuoi-tom-cong-nghe-cao-23062025-a148586.html

5. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Ngày nhận bài: 24/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/8/2026; Ngày duyệt đăng: 27/8/2026

Các tin khác

Quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp

Quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp

Quản trị tri thức giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn lực trí tuệ, thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng lực tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.
Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội

Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội

Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất có vai trò quan trọng trong bảo đảm quyền lợi người dân và tạo đồng thuận xã hội. Từ thực tiễn xã An Khánh, nghiên cứu đánh giá kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, ổn định đời sống và sinh kế sau thu hồi đất.
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Dù việc ứng dụng công nghệ ngày càng phổ biến nhờ giúp các doanh nghiệp logistics tối ưu hóa chuỗi cung ứng và đạt mục tiêu kinh doanh, song quá trình này vẫn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ nhiều yếu tố cấu thành.
Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng “trường học xanh”, việc lồng ghép các nguyên tắc bảo vệ môi trường vào công tác quản trị con người thông qua Thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh là vô cùng cấp thiết.
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Nhật Bản là một trong những quốc gia xây dựng được hệ thống phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, việc không thể trực tiếp kiểm tra sản phẩm khiến các đánh giá trực tuyến trở thành tín hiệu then chốt giúp thế hệ Z định hình cảm nhận thương hiệu và đưa ra quyết định mua sắm.
Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam đòi hỏi mức độ minh bạch ngày càng cao, giả định khả năng hoạt động liên tục là nguyên tắc nền tảng trong kế toán và kiểm toán, đông thời là tiền đề cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo các chuẩn mực hiện hành.
Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đang được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh doanh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ngành du lịch toàn cầu đóng góp 11,6 nghìn tỷ USD vào GDP thế giới năm 2025, tương đương 9,8% kinh tế toàn cầu, và tạo việc làm cho 366 triệu lao động.