Tác động của việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tới di chuyển lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố

Nghiên cứu - Trao đổi 17:24 | 24/12/2025
Quá trình sắp xếp các tỉnh, thành phố không chỉ tái cấu trúc bộ máy hành chính mà còn kéo theo sự thay đổi toàn diện về hạ tầng, chính sách quản lý và môi trường xã hội. Những biến đổi này trực tiếp ảnh hưởng đến mô hình di chuyển và phân bổ lao động chất lượng cao giữa các địa phương.

TS. Nguyễn Tuấn Anh

Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải

Email: tuananh.ts@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh đến sự di chuyển lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố. Kết quả chỉ ra các nhân tố: Chính sách quản lý - cải cách hành chính sau sắp xếp, Điều kiện kinh tế tại địa phương sau sắp xếp, Môi trường xã hội - văn hóa và chất lượng cuộc sống có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê rõ rệt đến xu hướng di chuyển lao động chất lượng cao. Ngược lại, Mức độ phát triển và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật - xã hội và Tác động của các khó khăn, rào cản trong quá trình di chuyển chưa hiện rõ ảnh hưởng. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để phát triển chính sách thu hút, phân bổ hiệu quả nguồn nhân lực trình độ cao trong bối cảnh hiện nay, đồng thời đề xuất các hướng nghiên cứu mở rộng nhằm làm rõ vai trò của các nhân tố còn chưa được phản ánh đầy đủ.

Từ khóa: Sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, di chuyển lao động chất lượng cao, hạ tầng kỹ thuật - xã hội

Summary

This study evaluates the impact of provincial administrative unit restructuring on the mobility of high-skilled labor across provinces and cities. The results indicate that post-restructuring management policies and administrative reforms, local economic conditions after restructuring, and the socio-cultural environment and quality of life exert positive and statistically significant effects on high-quality labor mobility. In contrast, the level of development and upgrading of technical and social infrastructure, as well as the impacts of difficulties and barriers encountered during migration, have not yet demonstrated apparent effects. The study provides a scientific and practical foundation for developing policies to attract and effectively allocate high-quality human resources in the current context, and proposes directions for further research to clarify the roles of factors that have not yet been fully understood.

Keywords: Provincial administrative unit restructuring, high-quality labor mobility, technical and social infrastructure

GIỚI THIỆU

Quá trình sắp xếp các tỉnh, thành phố không chỉ tái cấu trúc bộ máy hành chính mà còn kéo theo sự thay đổi toàn diện về hạ tầng, chính sách quản lý và môi trường xã hội. Những biến đổi này trực tiếp ảnh hưởng đến mô hình di chuyển và phân bổ lao động chất lượng cao giữa các địa phương. Việc nghiên cứu sâu sắc tác động của sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh đến xu hướng dịch chuyển lao động chất lượng cao là cần thiết, không chỉ để làm rõ các khía cạnh lý luận liên quan đến quản lý nhà nước, kinh tế lao động và phát triển vùng mà còn góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chính sách, nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững trong các vùng kinh tế trọng điểm.

Nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi: Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh ảnh hưởng như thế nào đến mô hình dịch chuyển, cơ hội và khả năng thu hút lao động chất lượng cao giữa các địa phương? Nghiên cứu sẽ tập trung phân tích các nhân tố thúc đẩy và những rào cản đối với quá trình di chuyển của nhóm lao động này, đồng thời đưa ra một số hàm ý chính sách trong bối cảnh cấu trúc hành chính vùng thay đổi sau thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh.

TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tổng quan nghiên cứu

Theo Lê Hoa (2025), việc sắp xếp góp phần nâng cao quy mô và năng lực phát triển hành chính, đồng thời cải thiện điều kiện sống và hạ tầng xã hội, từ đó tạo đà thu hút lao động chất lượng cao. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra sự cần thiết trong việc khắc phục những điểm nghẽn liên kết vùng nhằm tăng hiệu quả phát triển đa vùng. Tuy nhiên, bài viết chưa phân tích sâu về ảnh hưởng trực tiếp của việc sắp xếp đến quá trình di chuyển và tái phân bổ lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố, cũng như chưa làm rõ các nhân tố như chính sách, môi trường sống và cơ hội nghề nghiệp tác động ra sao đến quyết định di chuyển của nhóm lao động này. Đồng thời, mức độ ảnh hưởng cụ thể của việc cải thiện liên kết vùng đến sự dịch chuyển lao động vẫn chưa được khai thác chi tiết.

Ngọc Thành (2025) đề cập đến vai trò quan trọng của việc đồng bộ hạ tầng và môi trường kinh doanh như những nhân tố then chốt tạo sức hút đối với lao động chất lượng cao. Các chuyên gia được phỏng vấn cũng đề xuất lộ trình thận trọng, hợp lý để đảm bảo hiệu quả quản lý hành chính và phát triển bền vững địa phương. Tuy vậy, tác giả chưa có các phân tích định lượng về mức độ tác động trực tiếp của việc sắp xếp tỉnh đến dòng chảy di chuyển và khả năng giữ chân lao động chất lượng cao giữa các đô thị trọng điểm. Các nhân tố chi tiết như sự thay đổi trong chính sách thu hút nhân lực, điều kiện sống mới, cơ hội nghề nghiệp, hay các thách thức trong hòa nhập môi trường kinh tế - xã hội sau sắp xếp chưa được bóc tách một cách kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng thiếu các đánh giá chuyên sâu về khía cạnh vi mô, tức là hành vi, kỳ vọng, và quyết định chuyển dịch của nhóm lao động chất lượng cao sau các chính sách và thay đổi địa giới hành chính mới. Đặc biệt, việc so sánh hiệu quả của các chính sách thu hút nhân lực giữa vùng trước và sau khi sắp xếp cũng chưa được triển khai đầy đủ.

Nghiên cứu Yang và cộng sự (2023) nhấn mạnh rằng, sự dịch chuyển lao động thúc đẩy đáng kể sự thịnh vượng chung, đặc biệt là ở các khu vực có chi phí dịch chuyển thấp hơn và nền kinh tế phát triển hơn. Nghiên cứu cho thấy, việc phá bỏ rào cản đối với sự dịch chuyển lao động và thiết lập các cơ chế hợp tác khu vực có thể tăng cường sự dịch chuyển lao động, điều này có thể gián tiếp liên quan đến sự hội nhập giữa các thành phố và tỉnh trong việc thúc đẩy sự dịch chuyển lao động chất lượng cao.

Theo Lý thuyết di chuyển lao động, các nhân tố gồm: kinh tế và phi kinh tế như dịch vụ xã hội, môi trường sống và các điều kiện xã hội khác, đặc biệt quan trọng với nhóm lao động chất lượng cao vốn có yêu cầu cao về môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp (Lee, 1966).

Lý thuyết phát triển kinh tế vùng, nền tảng được đặt ra bởi Perroux (1950) với lý thuyết “cực tăng trưởng”, đã làm rõ vai trò của các vùng hành chính lớn hơn, hạ tầng đồng bộ và thị trường lao động mở rộng trong việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lao động chất lượng cao, đồng thời cân nhắc những thách thức về phân bổ nguồn lực trong vùng mới được tổ chức lại.

Như vậy, việc sắp xếp các đơn vị cấp tỉnh là một hình thức tái cơ cấu đơn vị hành chính nhằm mở rộng quy mô và nâng cao năng lực phát triển vùng, tạo ra những biến động về môi trường kinh tế - xã hội và chính sách quản lý. Từ các quan điểm lý thuyết di chuyển lao động và phát triển kinh tế vùng này, người ta có thể phân tích các tác động của quá trình sắp xếp lên động lực, xu hướng di chuyển cũng như cơ hội và thách thức đối với nhóm lao động có trình độ cao giữa các tỉnh, thành phố.

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các nghiên cứu và lý thuyết có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.

Hinh 1: Mô hình nghiên cứu

Tác động của việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tới di chuyển lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố

Nguồn: Tác giả đề xuất

Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:

H1: Chính sách quản lý và cải cách hành chính sau sắp xếp có tác động đến Mức độ di chuyển của lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố.

H2: Mức độ phát triển và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật - xã hội có tác động đến Mức độ di chuyển của lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố.

H3: Điều kiện kinh tế tại địa phương sau sắp xếp có tác động đến Mức độ di chuyển của lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố.

H4: Môi trường xã hội - văn hóa và chất cuộc sống lượng cuộc sống có tác động đến Mức độ di chuyển của lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố.

H5: Tác động của các khó khăn, rào cản trong quá trình di chuyển có tác động đến Mức độ di chuyển của lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua khảo sát 150 người có vị trí công tác khác nhau, độ tuổi khác nhau nằm trong đối tượng sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh phải di chuyển vị trí làm việc. Sau bước xử lý và loại bỏ dữ liệu không hợp lệ, tổng cộng 146 bảng khảo sát hợp lệ đã được sử dụng cho quá trình phân tích. Dữ liệu khảo sát được nhập và phân tích bằng phần mềm SmartPLS.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đánh giá mô hình đo lường

Độ tin cậy và tính hợp lệ

Bảng 1: Kết quả phân tích độ tin cậy và tính hợp lệ

Cronbach's Alpha

rho_A

Độ tin cậy

AVE

X1

0,904

0,904

0,954

0,912

X2

0,822

0,869

0,917

0,847

X3

0,853

0,869

0,931

0,871

X4

0,915

1,052

0,944

0,849

X5

0,714

0,722

0,829

0,617

Y

0,909

0,923

0,934

0,739

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả đánh giá độ tin cậy nội bộ (Bảng 1) cho thấy, các giá trị Cronbach's Alpha của các biến nghiên cứu đều vượt ngưỡng tối thiểu là 0,7, nghĩa là thước đo có tính nhất quán và độ ổn định phù hợp. Cụ thể, biến X1 đạt mức 0,904; X2 là 0,822; X3 ghi nhận 0,853; và X4 có con số cao nhất là 0,915. Trong khi đó, biến X5 vẫn đảm bảo tiêu chuẩn khi đạt 0,714. Đối với biến phụ thuộc Y, Cronbach’s Alpha = 0,909, minh chứng cho độ tin cậy cao của bộ công cụ đánh giá biến kết quả. Chỉ số rho A phản ánh mức độ tin cậy tương tự, dao động trên mức 0,7 cho hầu hết các biến, tuy nhiên biến X4 có giá trị vượt quá 1, cho thấy cần xem xét và rà soát lại để đảm bảo tính chính xác của phép đo.

Xét về độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability), tất cả các biến đều tạo ra mức độ đồng thuận nội bộ tốt với các giá trị đều > 0,8. Trong đó, biến X1 có chỉ số cao nhất với 0,954 và biến X5 vẫn ở mức chấp nhận được 0,829. Điều này khẳng định các mục trong từng biến đo lường có sự liên kết chặt chẽ và khả năng đo chính xác đặc tính tiềm ẩn mà biến đại diện.

Về khả năng hợp lệ hội tụ, các biến đều có tỷ lệ phương sai được giải thích (AVE) vượt ngưỡng tối thiểu 0,5, đảm bảo chất lượng của các thang đo. Biến X1 sở hữu AVE cao nhất là 0,912 tiếp đến là X3 (0,871), X2 (0,847), X4 (0,849) và cuối cùng biến X5 vẫn đạt 0,617 thuộc vùng hợp lệ. Biến Y với AVE 0,739 cũng cho thấy thang đo có khả năng đại diện tốt cho đặc trưng nghiên cứu.

Các kết quả trên cho thấy, hệ thống thước đo được áp dụng trong nghiên cứu có tính ổn định và phù hợp cao, từ đó thiết lập nền tảng chắc chắn cho việc phân tích mô hình cấu trúc và kiểm định giả thuyết nghiên cứu kế tiếp.

Tính hợp lệ phân biệt

Bảng 2: Kết quả đo lường theo Fornell-Larcker

X1

X2

X3

X4

X5

Y

X1

0,955

X2

0,464

0,920

X3

0,075

0,071

0,933

X4

0,230

0,534

0,137

0,922

X5

0,704

0,534

0,161

0,345

0,786

Y

0,800

0,535

0,233

0,412

0,661

0,860

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả phân tích (Bảng 2) cho thấy, mọi biến trong nghiên cứu đều có giá trị SQRT(AVE) cao vượt trội so với các mức hệ số tương quan tương ứng, nghĩa là thang đo của từng biến có khả năng phân biệt rõ rệt và không bị lẫn lộn với nhau. Cụ thể, biến X1 đạt giá trị SQRT(AVE) là 0,955 vượt xa các hệ số tương quan với X2 (0,464), X3 (0,075), X4 (0,230), X5 (0,704) cùng biến phụ thuộc Y (0,800). Các biến còn lại gồm X2 (0,920), X3 (0,933), X4 (0,922), X5 (0,786) và Y (0,860) cũng đều có giá trị này cao hơn mọi hệ số tương quan với các nhân tố khác. Nhờ vậy, tính hợp lệ phân biệt của bộ đo được bảo đảm, khẳng định mỗi biến tiềm ẩn thể hiện đặc trưng riêng, không bị trùng lặp về mặt đo lường. Vì vậy, mô hình có đủ cơ sở khoa học để tiếp tục đánh giá tác động của các nhân tố đến xu hướng di chuyển lao động có trình độ cao giữa các địa phương trong bối cảnh sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Bảng 3: Kết quả đo lường theo tỷ lệ HTMT

X1

X2

X3

X4

X5

Y

X1

X2

0,529

X3

0,084

0,082

X4

0,226

0,620

0,173

X5

0,745

0,652

0,355

0,419

Y

0,882

0,606

0,311

0,419

0,743

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả đo lường (Bảng 3) cho thấy, phần lớn các cặp biến đều có tỷ lệ HTMT thấp hơn ngưỡng chuẩn phổ biến 0,85, nghĩa là mô hình đảm bảo sự phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm. Cụ thể, các cặp biến: X1 với X2 (0,529), X1 với X3 (0,084), X2 với X3 (0,082) hay X4 với X3 (0,173) đều có chỉ số HTMT ở mức thấp, phản ánh sự độc lập tốt về mặt đo lường. Tuy nhiên, một số cặp biến có giá trị HTMT tương đối cao hơn nhưng vẫn chưa vượt quá giới hạn cảnh báo, chẳng hạn như cặp X4 - X2 (0,620), X5 - X1 (0,745), X5 - X2 (0,652), và Y - X1 (0,882); trong đó, chỉ số HTMT giữa biến phụ thuộc Y với biến X1 ghi nhận giá trị cao nhất, gần ngưỡng 0,9. Dù vậy, các mức này vẫn được coi là ở mức có thể chấp nhận được, cho thấy các biến vẫn giữ được tính phân biệt tương đối rõ ràng, không gây nhầm lẫn trong việc đo lường các khái niệm riêng biệt.

Tỷ lệ HTMT trong mô hình góp phần đảm bảo tính chính xác và tin cậy của các thang đo trong việc phản ánh các khía cạnh khác nhau tác động đến sự di chuyển lao động chất lượng cao giữa các địa phương. Qua đó, nghiên cứu có cơ sở vững chắc để tiếp tục triển khai phân tích mô hình cấu trúc, kiểm tra các quan hệ nhân quả và đề xuất các giải pháp phù hợp dựa trên kết quả thu thập được.

Đánh giá mô hình cấu trúc

Bảng 4: Kết quả giá trị VIF

Chỉ báo

Tên biến

VIF

X12

Các thủ tục hành chính liên quan đến việc tuyển dụng, di chuyển nhân lực được đơn giản hóa và thuận tiện hơn

3,115

X13

Sự ổn định về thể chế hành chính tại tỉnh/thành phố sắp xếp tạo điều kiện thuận lợi cho lao động chất lượng cao yên tâm công tác

3,115

X21

Hệ thống giao thông công cộng tại địa phương được nâng cấp, giúp việc di chuyển của người lao động dễ dàng hơn

1,952

X24

Các tiện ích xã hội (như nhà trẻ, bệnh viện, khu vui chơi) được xây dựng hoặc nâng cấp để phục vụ lực lượng lao động

1,952

X33

Cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho lao động chất lượng cao được cải thiện rõ rệt sau sắp xếp

2,240

X34

Tăng trưởng kinh tế của tỉnh/thành phố sau sắp xếp đã mở rộng nhiều cơ hội việc làm chất lượng cao

2,240

X42

Người lao động cảm thấy dễ dàng hòa nhập vào môi trường xã hội mới sau sắp xếp

3,950

X43

Môi trường làm việc có tính thân thiện, cởi mở và hỗ trợ hợp tác giữa người lao động với nhau

3,245

X44

Môi trường sống tại các địa phương trực thuộc tỉnh được sắp xếp có sự cải thiện về an ninh, trật tự

2,843

X53

Những lo ngại về sự không chắc chắn của chính sách và tương lai công việc làm tôi do dự khi di chuyển

3,585

X54

Gia đình là một nhân tố quan trọng khiến tôi phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định di chuyển công tác

3,748

X55

Các dịch vụ hỗ trợ chuyển đổi việc làm hoặc ổn định cuộc sống chưa đủ để giảm nhẹ khó khăn khi chuyển tới nơi mới

1,103

Y01

Việc di chuyển lao động chất lượng cao giữa các đơn vị hành chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển sự nghiệp cá nhân

2,446

Y02

Mức độ di chuyển lao động chất lượng cao giữa các đơn vị hành chính trong khu vực anh/chị sinh sống đã tăng lên sau sắp xếp tỉnh

4,792

Y03

Dễ dàng tiếp cận các cơ hội việc làm mới ở các tỉnh, thành phố sau khi các tỉnh, thành phố sắp xếp

4,289

Y04

Anh/chị có xu hướng lựa chọn các thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện kinh tế và môi trường sống được cải thiện để làm việc sau sắp xếp

4,015

Y05

Việc sắp xếp tỉnh đã làm tăng khả năng và mong muốn của anh/chị trong việc chuyển đổi nơi làm việc giữa các tỉnh, thành phố

2,015

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả (Bảng 4) cho thấy, phần lớn các biến có chỉ số VIF nằm trong khoảng từ 1,103 đến 3,950, cho thấy mối liên hệ giữa các biến vẫn ở mức an toàn và chưa ảnh hưởng tiêu cực đến phân tích. Một số biến thuộc khía cạnh xã hội và cá nhân có giá trị VIF cao hơn, nhưng vẫn nằm trong giới hạn an toàn, chẳng hạn như sự hòa nhập xã hội và nhân tố gia đình, với các giá trị lần lượt là 3,950 và 3,748. Trong khi đó, một số quan sát như Các dịch vụ hỗ trợ chuyển đổi việc làm hoặc ổn định cuộc sống chưa đủ để giảm nhẹ khó khăn khi chuyển tới nơi mới có giá trị VIF thấp, thể hiện tính độc lập rõ rệt.

Ở nhóm biến kết quả, các chỉ số VIF ghi nhận cao hơn một chút nhưng vẫn không vượt quá ngưỡng 5, chứng tỏ mô hình kiểm soát hiệu quả mức độ tương quan nội tại giữa các biến ảnh hưởng lớn đến kết quả.

Kết quả ước lượng hệ số xác định R² cho biến phụ thuộc Y đạt giá trị 0,725, trong khi R² điều chỉnh = 0,716. Điều này cho thấy, khoảng 72,5% sự biến đổi của biến phụ thuộc được các biến giải thích trong mô hình bao phủ. Với mức độ giải thích ở ngưỡng này, mô hình cho thấy khả năng dự báo tương đối chính xác và phản ánh hiệu quả sự ảnh hưởng của các nhân tố độc lập tới biến mục tiêu nghiên cứu.

Kiểm định giả thuyết

Bảng 5: Kết quả kiểm định giả thuyết

Original Sample (O)

Sample Mean (M)

Standard Deviation (STDEV)

T Statistics (|O/STDEV|)

P Values

Kết luận

X1 -> Y

0,663

0,671

0,084

7,939

0,000

Chấp nhận H1

X2 -> Y

0,094

0,092

0,060

1,561

0,119

Không chấp nhận H2

X3 -> Y

0,144

0,141

0,036

3,984

0,000

Chấp nhận H3

X4 -> Y

0,168

0,167

0,074

2,257

0,024

Chấp nhận H4

X5 -> Y

0,063

0,059

0,079

0,790

0,430

Không chấp nhận H5

Nguồn: Tính toán của tác giả

Hình 2: Kết quả đo lường mô hình nghiên cứu

Tác động của việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tới di chuyển lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả kiểm định các giả thuyết (Bảng 5, Hình 2) cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Y. Cụ thể: Giả thuyết H1, H3 và H4 được chấp nhận; trong khi đó giả thuyết H2và H5 không được chấp nhận. Như vậy, các nhân tố đại diện cho biến X1, X3 và X4 là những nhân tố chủ chốt ảnh hưởng tới sự di chuyển của lao động chất lượng cao, trong khi các biến X2 và X5 chưa đóng vai trò rõ rệt trong quá trình giải thích biến phụ thuộc trên mẫu quan sát hiện tại.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu đã xác định rõ ràng các nhân tố chủ chốt như: Chính sách quản lý và cải cách hành chính sau sắp xếp (X1), Điều kiện kinh tế tại địa phương sau sắp xếp (X3) và Môi trường xã hội - văn hóa và chất lượng cuộc sống (X4) ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê rõ nét đến Mức độ di chuyển lao động chất lượng cao giữa các tỉnh, thành phố. Điều này khẳng định ý nghĩa thực tiễn của các nhân tố về thể chế, kinh tế và môi trường xã hội trong việc tạo động lực thu hút và phân phối hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nhân tố: Mức độ phát triển và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật - xã hội (X2) và Tác động của các khó khăn, rào cản trong quá trình di chuyển (X5) chưa thể hiện rõ ảnh hưởng trong nghiên cứu. Kết quả này cho thấy, cần có những phân tích sâu hơn và mở rộng phạm vi nghiên cứu để làm rõ hơn vai trò của hạ tầng kỹ thuật cùng các rào cản xã hội, tâm lý tác động đến quá trình di chuyển lao động chất lượng cao, đặc biệt trong các giai đoạn đầu tiên sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Tài liệu tham khảo:

1. Lê Hoa (2025). Sáp nhập tỉnh: Tập trung nguồn lực, mở rộng không gian phát triển. https://plo.vn/sap-nhap-tinh-tap-trung-nguon-luc-mo-rong-khong-gian-phat-trien-post837172.html.

2. Lee, E. S. (1966). A theory of migration. Demography, 3(1), 47-57. https://doi.org/10.2307/2060063.

3. Ngọc Thành (2025). Nghiên cứu sáp nhập tỉnh để thúc đẩy phát triển. https://tuoitre.vn/nghien-cuu-sap-nhap-tinh-de-thuc-day-phat-trien-20250222082604908.htm.

4. Perroux, F (1950). Economic space: Theory and applications. Quarterly Journal of Economics, 64(1), 89-104. https://doi.org/10.2307/1881960.

5. Yang, X., Li, Q., Luo, S., and Li, Q (2023). How does labor mobility affect common prosperity?-An empirical study based on a panel of Chinese cities. Sustainability, 15(8), 6893. https://doi.org/10.3390/su15086893.

6. Yang, G., Chen, H., and Meng, X. (2019). Regional competition, labor force mobility, and the fiscal behaviour of local governments in China. Sustainability, 11(6), 1776. https://doi.org/10.3390/su11061776.

Ngày nhận bài: 9/11/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/12/2025; Ngày duyệt đăng: 24/12/2025

Các tin khác

Quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp

Quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp

Quản trị tri thức giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn lực trí tuệ, thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng lực tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.
Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội

Hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại xã An Khánh, TP. Hà Nội

Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất có vai trò quan trọng trong bảo đảm quyền lợi người dân và tạo đồng thuận xã hội. Từ thực tiễn xã An Khánh, nghiên cứu đánh giá kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, ổn định đời sống và sinh kế sau thu hồi đất.
Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam

Dù việc ứng dụng công nghệ ngày càng phổ biến nhờ giúp các doanh nghiệp logistics tối ưu hóa chuỗi cung ứng và đạt mục tiêu kinh doanh, song quá trình này vẫn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ nhiều yếu tố cấu thành.
Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng phương pháp AHP trong đánh giá thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng “trường học xanh”, việc lồng ghép các nguyên tắc bảo vệ môi trường vào công tác quản trị con người thông qua Thực hành quản trị nguồn nhân lực xanh là vô cùng cấp thiết.
Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Nhật Bản là một trong những quốc gia xây dựng được hệ thống phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của đánh giá trực tuyến đến quyết định mua sản phẩm thời trang: Vai trò trung gian cảm nhận thương hiệu của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, việc không thể trực tiếp kiểm tra sản phẩm khiến các đánh giá trực tuyến trở thành tín hiệu then chốt giúp thế hệ Z định hình cảm nhận thương hiệu và đưa ra quyết định mua sắm.
Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp

Liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam đòi hỏi mức độ minh bạch ngày càng cao, giả định khả năng hoạt động liên tục là nguyên tắc nền tảng trong kế toán và kiểm toán, đông thời là tiền đề cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo các chuẩn mực hiện hành.
Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam

Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đang được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh doanh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Ngành du lịch toàn cầu đóng góp 11,6 nghìn tỷ USD vào GDP thế giới năm 2025, tương đương 9,8% kinh tế toàn cầu, và tạo việc làm cho 366 triệu lao động.