Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế: Động lực duy trì tăng trưởng cao của tỉnh Quảng Ngãi
ThS. Nguyễn Đình Minh
Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi
Email: [email protected]
Tóm tắt
Năm 2025, tỉnh Quảng Ngãi đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 10,02%, đánh dấu bước chuyển từ mục tiêu sang kết quả tăng trưởng 2 con số. Tuy nhiên, duy trì tăng trưởng cao trong trung và dài hạn phụ thuộc không chỉ vào quy mô nguồn lực mà còn vào khả năng đưa các nguồn lực đó vào sử dụng hiệu quả. Nghiên cứu này phân tích vai trò của việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế đối với khả năng duy trì tăng trưởng cao của tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở kinh tế học thể chế, kết hợp nghiên cứu trường hợp, phân tích tài liệu và thống kê mô tả, nghiên cứu nhận diện 4 nhóm điểm nghẽn chủ yếu: Tiếp cận nguồn lực phát triển; Chi phí thể chế và phối hợp thực thi; Năng lực quản trị; Dữ liệu và hạ tầng thể chế số. Các điểm nghẽn này có thể làm gia tăng chi phí giao dịch, kéo dài thời gian triển khai dự án, hạn chế hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng nâng cao năng suất. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các ưu tiên cải cách nhằm củng cố nền tảng duy trì tăng trưởng cao của Quảng Ngãi.
Từ khóa: Điểm nghẽn thể chế, cải cách thể chế, tăng trưởng kinh tế, quản trị địa phương, Quảng Ngãi
Abstract
In 2025, Quang Ngai Province recorded gross regional domestic product (GRDP) growth of 10.02%, marking a transition from a target to actual double-digit economic growth. However, sustaining high growth over the medium and long term depends not only on the scale of available resources but also on the ability to use them efficiently. This study analyzes the role of removing institutional bottlenecks in sustaining high economic growth in Quang Ngai Province. Drawing on institutional economics and combining a case study, document analysis, and descriptive statistics, the study identifies four major groups of bottlenecks: access to development resources; institutional costs and implementation coordination; governance capacity; and data and digital institutional infrastructure. These bottlenecks may increase transaction costs, prolong project implementation, reduce the efficiency of resource allocation, and constrain productivity improvements. Accordingly, the study proposes reform priorities to strengthen the foundations for sustaining high economic growth in Quang Ngai.
Keywords: Institutional bottlenecks, institutional reform, economic growth, local governance, Quang Ngai
GIỚI THIỆU
Trong lý thuyết và thực tiễn phát triển kinh tế, thể chế ngày càng được xem là một trong những yếu tố nền tảng quyết định hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Nếu các lý thuyết tăng trưởng truyền thống nhấn mạnh vai trò của vốn, lao động và tiến bộ công nghệ, thì kinh tế học thể chế chỉ ra rằng hiệu quả của các yếu tố này còn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng các quy tắc, cơ chế thực thi và năng lực quản trị (North, 1990; Hall và Jones, 1999; Acemoglu và cộng sự, 2005).
Ở cấp địa phương, mối quan hệ này thể hiện khá trực tiếp. Lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên, kết cấu hạ tầng hay quy mô thị trường là những điều kiện quan trọng nhưng chưa đủ để chuyển hóa thành tăng trưởng nếu nguồn lực bị cản trở bởi những điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai, thủ tục đầu tư, phối hợp hành chính hoặc dữ liệu. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, chất lượng quản trị địa phương có liên hệ với chi phí giao dịch và kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Nguyen và cộng sự, 2018), với tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh (Thanh và Canh, 2020), năng suất doanh nghiệp (Ha và cộng sự, 2024) và mối quan hệ giữa FDI với năng suất (Hiep và cộng sự, 2022).
Trường hợp Quảng Ngãi đặt ra một vấn đề đáng chú ý. Với Khu kinh tế Dung Quất, hệ thống cảng biển, nền tảng công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim và chế biến cùng không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, Tỉnh có những điều kiện thuận lợi để hình thành các động lực tăng trưởng quy mô lớn. Năm 2025, GRDP của Quảng Ngãi tăng 10,02%, đưa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trở thành kết quả thực tế. Tuy nhiên, tăng trưởng cao trong 1 năm chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành năng lực duy trì tăng trưởng cao trong trung và dài hạn.
Trong khi đó, các chỉ số quản trị và môi trường kinh doanh cho thấy vẫn tồn tại dư địa cải thiện ở một số phương diện như minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp, năng lực kiến tạo, tiếp cận nguồn lực và quản trị số. Khi làm tăng thời gian chuẩn bị dự án, chi phí tiếp cận thông tin hoặc độ trễ trong đưa vốn và đất đai vào sử dụng, các hạn chế này có thể trở thành những điểm nghẽn ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng hình thành năng lực sản xuất mới.
Nghiên cứu tập trung trả lời 3 câu hỏi: (i) Những điểm nghẽn thể chế chủ yếu nào ảnh hưởng đến khả năng duy trì tăng trưởng cao của Quảng Ngãi; (ii) Các điểm nghẽn này tác động đến tăng trưởng thông qua những cơ chế nào; và (iii) Những ưu tiên cải cách nào cần được đặt ra để chuyển từ kết quả tăng trưởng 2 con số trong 1 năm sang củng cố năng lực duy trì tăng trưởng cao.
Đóng góp của nghiên cứu nằm ở việc chuyển cách tiếp cận các điểm nghẽn thể chế từ phạm vi cải cách hành chính sang góc nhìn kinh tế phát triển. Thay vì xem cải thiện các chỉ số quản trị là mục tiêu cuối cùng, nghiên cứu phân tích thể chế thông qua khả năng làm thay đổi thời gian, chi phí và hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành đầu tư, năng lực sản xuất và năng suất. Trên cơ sở trường hợp Quảng Ngãi, cách tiếp cận này góp phần làm rõ những ưu tiên cải cách có khả năng tạo thêm dư địa cho việc duy trì tăng trưởng cao.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thể chế, điểm nghẽn thể chế và tăng trưởng kinh tế địa phương
North (1990) xem thể chế là những “luật chơi” định hình tương tác giữa các chủ thể, bao gồm các quy tắc chính thức, phi chính thức và cơ chế bảo đảm thực thi. Một chức năng kinh tế quan trọng của thể chế là giảm mức độ bất định và chi phí giao dịch. Hall và Jones (1999) chỉ ra vai trò của “hạ tầng xã hội”, trong đó thể chế và chính sách ảnh hưởng đến tích lũy vốn, năng suất và chênh lệch thu nhập. Acemoglu và cộng sự (2005) tiếp tục đặt thể chế trong nhóm những nguyên nhân nền tảng của tăng trưởng dài hạn.
Ở cấp địa phương, chất lượng thể chế không chỉ phụ thuộc vào nội dung quy định, mà còn thể hiện ở quá trình tổ chức thực hiện. Một quy định phù hợp nhưng quy trình kéo dài, trách nhiệm giữa các cơ quan thiếu rõ ràng, dữ liệu chưa liên thông hoặc năng lực phối hợp hạn chế vẫn có thể làm phát sinh chi phí đối với doanh nghiệp và xã hội. Trong nghiên cứu này, điểm nghẽn thể chế được hiểu là những hạn chế trong quy định, tổ chức thực hiện hoặc năng lực quản trị làm cản trở quá trình tiếp cận, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển.
Từ cách tiếp cận đó, điểm nghẽn thể chế có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua 4 kênh chính: Chi phí giao dịch; Khả năng tiếp cận nguồn lực; Chất lượng thực thi; và Mức độ minh bạch, liên thông thông tin. Các kênh này tác động đến quyết định đầu tư, tốc độ đưa nguồn lực vào sản xuất và hiệu quả phân bổ nguồn lực, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng (Hình).
Hình: Khung phân tích tác động của điểm nghẽn thể chế đến khả năng duy trì tăng trưởng cao
![]() |
Nguồn: Đề xuất của tác giả trên cơ sở tổng hợp North (1990), Hall và Jones (1999), Acemoglu và cộng sự (2005) và các nghiên cứu liên quan
Tổng quan và khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam cung cấp bằng chứng về các kênh tác động của thể chế địa phương. Nguyen và cộng sự (2018), từ cách tiếp cận chi phí giao dịch, cho thấy quản trị địa phương có quan hệ với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Thanh và Canh (2020) chỉ ra vai trò của quản trị công địa phương trong mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh. Ha và cộng sự (2024), sử dụng dữ liệu doanh nghiệp kết hợp với Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2010-2020, ghi nhận mối liên hệ tích cực giữa chất lượng thể chế cấp tỉnh và năng suất nhân tố tổng hợp; trong đó chi phí thời gian, tiếp cận đất đai và tính năng động của chính quyền là những khía cạnh đáng chú ý. Hiep và cộng sự (2022), sử dụng dữ liệu bảng cấp tỉnh giai đoạn 2010-2019, ghi nhận tác động tích cực của FDI đến năng suất; đồng thời cho thấy vai trò của chất lượng thể chế trong mối quan hệ FDI - năng suất có tính phức tạp và không diễn ra theo một chiều tuyến tính.
Những nghiên cứu trên tạo cơ sở để tiếp cận chất lượng thể chế địa phương không chỉ như vấn đề của hoạt động hành chính, mà còn như một yếu tố liên quan đến chi phí giao dịch, đầu tư, phân bổ nguồn lực và năng suất. Tuy nhiên, phần lớn sử dụng dữ liệu nhiều địa phương để nhận diện mối quan hệ chung. Ít nghiên cứu tập trung làm rõ cách các điểm nghẽn cụ thể kết nối với khả năng duy trì tăng trưởng cao trong trường hợp một địa phương công nghiệp.
Khoảng trống này đáng chú ý đối với Quảng Ngãi sau khi đạt tăng trưởng GRDP 2 con số năm 2025. Câu hỏi không chỉ là những yếu tố nào giúp địa phương đạt mức tăng trưởng cao, mà là những điều kiện thể chế nào cần được cải thiện để nguồn lực hiện có và nguồn lực mới được chuyển hóa hiệu quả thành năng lực sản xuất trong các năm tiếp theo.
Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp đối với tỉnh Quảng Ngãi, kết hợp phân tích tài liệu, thống kê mô tả và so sánh. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ số liệu thống kê kinh tế - xã hội của Tỉnh; báo cáo của UBND Tỉnh (2026) và các cơ quan chuyên môn; báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); PAPI, PAR INDEX, SIPAS và các nguồn dữ liệu quản trị có liên quan.
Quá trình phân tích gồm 3 bước. Thứ nhất, mô tả kết quả và cấu trúc tăng trưởng nhằm xác định nền tảng của mức tăng trưởng 2 con số. Thứ hai, sử dụng các chỉ số quản trị, môi trường đầu tư và bằng chứng từ thực tiễn điều hành để nhận diện, phân nhóm điểm nghẽn thể chế. Thứ ba, đối chiếu các điểm nghẽn với khung lý thuyết để phân tích các kênh tác động đến chi phí giao dịch, đầu tư, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng suất.
Đối với các chỉ tiêu có thay đổi phạm vi thống kê do sắp xếp đơn vị hành chính, nghiên cứu không thực hiện so sánh cơ học giữa các năm mà chú thích rõ phạm vi dữ liệu. Đồng thời, biến động của PCI, PAPI, PAR INDEX hay SIPAS không được sử dụng để khẳng định quan hệ nhân quả với tăng trưởng GRDP; các chỉ số này chỉ được dùng như bằng chứng hỗ trợ nhận diện các chiều cạnh của chất lượng quản trị.
TĂNG TRƯỞNG 2 CON SỐ VÀ NHỮNG ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI
Từ kết quả tăng trưởng 2 con số đến yêu cầu duy trì động lực tăng trưởng
Năm 2025 đánh dấu bước chuyển đáng chú ý của kinh tế Quảng Ngãi khi GRDP tăng 10,02%, thuộc nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng cao của cả nước. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 14,85%, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng của Tỉnh. Quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt 191.612,3 tỷ đồng (Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2026).
Số liệu năm 2025 phản ánh Quảng Ngãi theo đơn vị hành chính mới, trong khi số liệu giai đoạn 2022-2024 phản ánh phạm vi trước sắp xếp. Vì vậy, quy mô GRDP giữa năm 2024 và 2025 không được sử dụng để tính mức tăng liên tục; tốc độ tăng GRDP 10,02% do cơ quan Thống kê công bố là chỉ tiêu phù hợp hơn để phản ánh kết quả tăng trưởng năm 2025 (Bảng 1).
Bảng 1: Một số chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi
| Chỉ tiêu | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 |
|---|---|---|---|---|
| Tốc độ tăng GRDP (%) | 8,08 | 2,24 | 4,07 | 10,02 |
| Quy mô GRDP theo giá hiện hành (tỷ đồng) | 121.668,2 | 126.934,0 | 132.581,0 | 191.612,3 |
| Phạm vi số liệu | Trước sắp xếp | Trước sắp xếp | Trước sắp xếp | Đơn vị hành chính mới |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Mức tăng trưởng năm 2025 đồng thời gắn với sự gia tăng sản xuất của một số dự án công nghiệp quy mô lớn, trong đó Nhà máy lọc dầu Dung Quất hoạt động trở lại sau kỳ bảo dưỡng tổng thể năm 2024 và dự án Hòa Phát Dung Quất 2 bắt đầu tạo sản phẩm. Vì vậy, mức tăng GRDP 10,02% không được nghiên cứu diễn giải như hệ quả trực tiếp của cải cách thể chế; trọng tâm là phân tích vai trò của thể chế đối với khả năng duy trì tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo.
Kết quả tăng trưởng cao đặt ra một yêu cầu mới. Vấn đề không còn chỉ là huy động thêm vốn và mở rộng quy mô sản xuất, mà là khả năng liên tục đưa đất đai, vốn, kết cấu hạ tầng và lao động vào những hoạt động tạo giá trị gia tăng. Đối với một địa phương có tỷ trọng công nghiệp - xây dựng lớn, việc duy trì tăng trưởng cao còn đòi hỏi mở rộng nền tảng doanh nghiệp và giảm mức độ phụ thuộc vào biến động của một số ngành, dự án quy mô lớn.
Chất lượng thể chế nhìn từ môi trường đầu tư và các chỉ số quản trị
Kết quả PCI năm 2025 (VCCI, 2026a) cho thấy một vấn đề đáng chú ý khi đặt cạnh tăng trưởng kinh tế: Quảng Ngãi đạt GRDP tăng 10,02% nhưng PCI đạt 55,63 điểm. Hai kết quả này không mâu thuẫn, bởi tăng trưởng của 1 năm chịu tác động của nhiều yếu tố, trong khi PCI phản ánh những chiều cạnh của môi trường kinh doanh và chất lượng điều hành. Sự khác biệt đặt ra yêu cầu phân biệt kết quả tăng trưởng hiện tại với những điều kiện thể chế hỗ trợ duy trì tăng trưởng trong tương lai.
PCI năm 2025 cũng cần được diễn giải thận trọng trong bối cảnh thay đổi phương pháp đánh giá và phạm vi so sánh. Vì vậy, nghiên cứu không sử dụng mức thay đổi điểm PCI giữa năm 2024 và 2025 như bằng chứng trực tiếp về sự cải thiện hay suy giảm tương ứng của chất lượng điều hành, mà tập trung vào cấu trúc các chỉ số thành phần (Bảng 2).
Bảng 2: Một số chỉ số thành phần PCI của Quảng Ngãi năm 2025
| Chỉ số thành phần | Điểm | Xếp hạng/34 | Nhận diện |
|---|---|---|---|
| Gia nhập thị trường | 6,31 | 30 | Còn dư địa cải thiện |
| Tiếp cận nguồn lực | 5,86 | 20 | Cần tiếp tục cải thiện |
| Tính minh bạch | 5,30 | 34 | Điểm nghẽn đáng chú ý |
| Chi phí tuân thủ TTHC | 7,38 | 15 | Tương đối tích cực |
| Chi phí không chính thức | 6,12 | 33 | Điểm nghẽn đáng chú ý |
| Cạnh tranh bình đẳng | 6,13 | 12 | Tương đối tích cực |
| Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp | 4,54 | 31 | Điểm nghẽn đáng chú ý |
| Thiết chế pháp lý | 7,70 | 8 | Kết quả tích cực |
| Chính quyền kiến tạo | 3,02 | 33 | Điểm nghẽn đáng chú ý |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Kết quả cho thấy môi trường thể chế của Tỉnh có sự phân hóa. Thiết chế pháp lý, cạnh tranh bình đẳng và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính có kết quả tương đối tích cực, trong khi tính minh bạch, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, chi phí không chính thức và chính quyền kiến tạo còn ở thứ hạng thấp. Vì vậy, vấn đề không nên được giản lược thành đánh giá chung rằng chất lượng điều hành “tốt” hay “chưa tốt”, mà cần xác định những khâu có khả năng tạo chi phí hoặc độ trễ cho hoạt động đầu tư.
Theo kết quả Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI) năm 2025 do VCCI công bố, Quảng Ngãi đạt 4,73 điểm, xếp thứ 8/34 tỉnh, thành phố (VCCI, 2026b). Kết quả này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân của tỉnh có những yếu tố tích cực về phát triển và đổi mới sáng tạo. Khi đặt kết quả BPI cạnh một số chỉ số thành phần PCI còn thấp, có thể nhận diện dư địa cải thiện môi trường thể chế nhằm hỗ trợ tốt hơn quá trình chuyển hóa tiềm năng của khu vực tư nhân thành đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất.
Các chỉ số từ phía người dân cung cấp thông tin bổ sung. PAPI năm 2024 cho thấy một số chiều cạnh như thủ tục hành chính công và cung ứng dịch vụ công có kết quả cao hơn so với quản trị môi trường và quản trị điện tử; SIPAS năm 2024 đặt Quảng Ngãi trong nhóm địa phương có mức độ hài lòng còn thấp. Do khác nhau về đối tượng và phương pháp đo lường, các chỉ số này không được cộng gộp hoặc sử dụng thay thế cho PCI mà được xem như bằng chứng bổ trợ.
Nhận diện 4 nhóm điểm nghẽn thể chế
Thứ nhất, tiếp cận và đưa nguồn lực phát triển vào sử dụng. Đất đai, mặt bằng và quy hoạch là đầu vào trực tiếp của nhiều dự án công nghiệp, đô thị và kết cấu hạ tầng. Vấn đề không chỉ là địa phương có bao nhiêu đất hay bao nhiêu vốn đăng ký mà còn là nguồn lực đó mất bao lâu để có thể được đưa vào sản xuất. Những chậm trễ trong bố trí quỹ đất, giải phóng mặt bằng hoặc đồng bộ quy hoạch có thể kéo dài thời gian hình thành năng lực sản xuất mới. Cơ sở nhận diện nhóm này là chỉ số “Tiếp cận nguồn lực” đạt 5,86 điểm, xếp thứ 20/34 trong PCI 2025 (VCCI, 2026a). Chỉ số này gợi ý dư địa cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực, nhưng tự nó chưa chứng minh mức độ chậm trễ ở từng dự án.
Thứ hai, chi phí thể chế và phối hợp thực thi. Ngoài chi phí trực tiếp, doanh nghiệp còn chịu chi phí thời gian, tiếp cận thông tin và phối hợp với nhiều cơ quan. Bảng 2 cho thấy “Tính minh bạch” đạt 5,30 điểm (34/34), “Chi phí không chính thức” đạt 6,12 điểm (33/34), trong khi “Chi phí tuân thủ TTHC” đạt 7,38 điểm (15/34). Sự khác biệt này gợi ý cần xem xét chi phí thông tin và thực thi bên cạnh thời gian giải quyết thủ tục.
Thứ ba, năng lực quản trị và tổ chức thực thi. Chất lượng thể chế địa phương phụ thuộc đáng kể vào khả năng chuyển quy hoạch, chính sách và nguồn vốn thành dự án, công trình và năng lực sản xuất. Trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh hơn, khả năng phối hợp và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh càng trở thành một thành tố quan trọng của năng lực quản trị phát triển. Về bằng chứng nhận diện, chỉ số “Chính quyền kiến tạo” đạt 3,02 điểm, xếp 33/34; “Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp” đạt 4,54 điểm, xếp 31/34 (Bảng 2). Đây là những tín hiệu về dư địa cải thiện năng lực điều hành và hỗ trợ doanh nghiệp, chưa phải phép đo trực tiếp hiệu quả phối hợp liên cơ quan.
Thứ tư, dữ liệu và hạ tầng thể chế số. Giá trị của chuyển đổi số không chỉ nằm ở dịch vụ công trực tuyến mà còn ở khả năng chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu và giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, liên thông dữ liệu đất đai, quy hoạch, đầu tư, doanh nghiệp và thủ tục hành chính có thể góp phần giảm chi phí phối hợp và thời gian xử lý. Việc nhận diện nhóm này chủ yếu dựa trên yêu cầu liên thông dữ liệu trong quá trình thực thi và thông tin bổ trợ từ các chiều cạnh quản trị điện tử của PAPI 2024 đã nêu ở mục trước.
Bảng 3: Nhóm điểm nghẽn thể chế và kênh tác động kinh tế
| Nhóm điểm nghẽn | Biểu hiện chủ yếu | Kênh tác động |
|---|---|---|
| Tiếp cận nguồn lực | Đất đai, mặt bằng, quy hoạch | Chậm đưa nguồn lực vào sản xuất |
| Chi phí thể chế | Thời gian, thông tin, phối hợp thủ tục | Tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội |
| Năng lực quản trị | Phối hợp, thực thi, tính chủ động | Tăng độ trễ chuyển chính sách thành kết quả |
| Hạ tầng thể chế số | Chia sẻ và liên thông dữ liệu | Tăng chi phí thông tin và xử lý |
Nguồn: Đề xuất của tác giả từ kết quả phân tích
Bốn nhóm điểm nghẽn có quan hệ với nhau (Bảng 3). Một dự án chậm triển khai có thể đồng thời liên quan đến đất đai, dữ liệu và phối hợp giữa các cơ quan. Vì vậy, xử lý từng thủ tục riêng biệt mà không cải thiện chuỗi thực thi có thể hạn chế tác động của cải cách đối với tăng trưởng.
CƠ CHẾ THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ TẠO DƯ ĐỊA DUY TRÌ TĂNG TRƯỞNG CAO
Giảm chi phí giao dịch và rút ngắn thời gian đưa nguồn lực vào sản xuất
Theo cách tiếp cận chi phí giao dịch, doanh nghiệp không chỉ chịu chi phí sản xuất mà còn phải dành nguồn lực để tìm kiếm thông tin, thực hiện thủ tục và xử lý bất định. Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam cho thấy chất lượng quản trị địa phương có quan hệ với chi phí giao dịch và kết quả hoạt động của doanh nghiệp (North, 1990; Nguyen và cộng sự, 2018).
Đối với các dự án có quy mô vốn lớn, ý nghĩa của cải cách không chỉ nằm ở việc giảm số ngày xử lý một thủ tục. Quan trọng hơn là rút ngắn tổng thời gian từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi dự án có thể tạo ra năng lực sản xuất. Khi khoảng thời gian này giảm, chi phí cơ hội và chi phí vốn có thể giảm, trong khi đất đai và vốn được đưa vào sử dụng sớm hơn.
Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực
Nguồn lực phát triển luôn có giới hạn. Nếu đất đai chưa được đưa vào sử dụng, dự án chờ mặt bằng hoặc vốn đầu tư bị trì hoãn bởi các khâu thực thi, nguồn lực tồn tại nhưng chưa tạo ra sản lượng. Ngược lại, thông tin minh bạch, quy trình rõ ràng và trách nhiệm xử lý cụ thể tạo điều kiện để nguồn lực dịch chuyển nhanh hơn đến các hoạt động có khả năng tạo giá trị gia tăng.
Vì vậy, cải cách thể chế không nhằm thay thế cơ chế phân bổ của thị trường, mà cần tạo điều kiện để thị trường vận hành với chi phí thấp hơn và khả năng dự báo cao hơn. Đây là một kênh quan trọng để cải thiện hiệu quả sử dụng đất đai, vốn và kết cấu hạ tầng.
Khơi thông đầu tư và mở rộng nền tảng doanh nghiệp
Kết quả BPI năm 2025, với Quảng Ngãi đạt 4,73 điểm và xếp thứ 8/34 địa phương, cho thấy những tín hiệu tích cực về sự phát triển và đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân. Trong khi đó, một số chỉ số thành phần PCI về minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp và chính quyền kiến tạo còn ở thứ hạng thấp. Sự tương phản này gợi mở dư địa cải cách thể chế để hỗ trợ khu vực tư nhân chuyển hóa tốt hơn năng lực phát triển thành đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất.
Cải thiện thể chế có thể tác động thông qua giảm bất định trong quyết định đầu tư. Thông tin rõ hơn về quy hoạch, đất đai và quy trình thực hiện giúp doanh nghiệp đánh giá rủi ro; phối hợp hiệu quả giúp giảm thời gian chờ; hỗ trợ doanh nghiệp thực chất giúp xử lý vướng mắc trong quá trình triển khai. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy chất lượng thể chế cấp tỉnh có liên hệ với năng suất doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư (Hiep và cộng sự, 2022; Ha và cộng sự, 2024).
Đối với Quảng Ngãi, mở rộng nền tảng doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt, bởi khả năng duy trì tăng trưởng cao khó dựa lâu dài vào một số dự án công nghiệp quy mô lớn.
Nâng cao hiệu quả đầu tư công và năng suất
Đầu tư công tạo kết cấu hạ tầng và có khả năng dẫn dắt nguồn vốn xã hội, nhưng tác động đến tăng trưởng phụ thuộc vào tốc độ giải ngân, tiến độ hoàn thành và khả năng kết nối với các hoạt động sản xuất. Vì vậy, cần nhìn hiệu quả thể chế trong đầu tư công từ góc độ tốc độ chuyển vốn ngân sách thành tài sản công có khả năng phục vụ phát triển.
Trong dài hạn, cải cách thể chế còn có ý nghĩa đối với năng suất. Thể chế minh bạch và có khả năng dự báo tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào công nghệ và nguồn nhân lực; quản trị số giảm chi phí thông tin; môi trường cạnh tranh tạo động lực nâng cao hiệu quả. Bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam cho thấy, một số chiều cạnh của chất lượng thể chế cấp tỉnh có quan hệ tích cực với năng suất nhân tố tổng hợp của doanh nghiệp (Ha và cộng sự, 2024).
Bảng 4: Cơ chế tháo gỡ điểm nghẽn thể chế tạo dư địa tăng trưởng
| Cải cách | Kết quả trực tiếp | Kênh truyền dẫn | Tác động kỳ vọng |
|---|---|---|---|
| Rút ngắn chuỗi thủ tục | Giảm thời gian dự án | Giảm chi phí giao dịch | Nguồn lực sớm vào sản xuất |
| Minh bạch quy hoạch, đất đai | Giảm bất định | Cải thiện quyết định đầu tư | Khơi thông đầu tư |
| Nâng cao phối hợp | Giảm độ trễ | Tăng hiệu quả nguồn lực | Đẩy nhanh dự án |
| Liên thông dữ liệu | Giảm xử lý lặp lại | Giảm chi phí thông tin | Nâng hiệu quả quản trị |
| Cải thiện môi trường kinh doanh | Tăng khả năng dự báo | Khuyến khích đầu tư dài hạn | Mở rộng nền tảng doanh nghiệp |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Như vậy, quan hệ giữa thể chế và tăng trưởng không nên được diễn giải đơn giản theo hướng điểm số quản trị tăng thì GRDP sẽ tăng tương ứng. Cơ chế quan trọng hơn nằm ở việc cải cách làm thay đổi thời gian, chi phí và hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành đầu tư, năng lực sản xuất và năng suất.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO TỈNH QUẢNG NGÃI
Năm 2025, GRDP Quảng Ngãi tăng 10,02%, đánh dấu bước chuyển quan trọng từ mục tiêu sang kết quả tăng trưởng 2 con số. Tuy nhiên, tăng trưởng cao trong 1 năm chưa đủ để khẳng định khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng tương tự trong trung và dài hạn.
Nghiên cứu nhận diện 4 nhóm điểm nghẽn gồm: tiếp cận nguồn lực; chi phí thể chế và phối hợp thực thi; năng lực quản trị; dữ liệu và hạ tầng thể chế số. Các điểm nghẽn này có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua việc làm tăng chi phí giao dịch, kéo dài thời gian triển khai dự án, hạn chế hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng nâng cao năng suất.
Đóng góp của cải cách thể chế đối với tăng trưởng không nằm đơn thuần ở việc nâng thứ hạng các chỉ số quản trị, mà ở khả năng rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả chuyển hóa nguồn lực thành đầu tư và năng lực sản xuất. Đối với Quảng Ngãi, cải cách chuỗi thực hiện dự án, tháo gỡ điểm nghẽn đất đai - quy hoạch, nâng cao năng lực thực thi và liên thông dữ liệu là những ưu tiên có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa.
Cụ thể, các hàm ý chính sách được gợi ý với tỉnh Quảng Ngãi như sau:
Thứ nhất, chuyển từ cải cách từng thủ tục sang cải cách toàn bộ chuỗi thực hiện dự án. Bên cạnh thời hạn của từng thủ tục, cần theo dõi tổng thời gian từ tiếp cận thông tin, quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng đến khi dự án đủ điều kiện triển khai. Những khâu tạo thời gian chờ lớn cần được nhận diện và xác định rõ trách nhiệm xử lý.
Thứ hai, ưu tiên tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, mặt bằng và quy hoạch đối với dự án tạo năng lực sản xuất mới. Trọng tâm là tăng tính đồng bộ, minh bạch và khả năng dự báo; đồng thời gắn số hóa dữ liệu quy hoạch, đất đai với cơ chế phối hợp thực chất giữa các cơ quan.
Thứ ba, lấy chất lượng thực thi và kết quả phát triển làm thước đo quản trị. Ngoài tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, cần quan tâm đến các chỉ tiêu như thời gian đưa dự án vào hoạt động, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với đăng ký và mức độ hài lòng của doanh nghiệp. PCI, PAPI, PAR INDEX và SIPAS nên được sử dụng để nhận diện vấn đề và cải thiện thực chất thay vì trở thành mục tiêu xếp hạng tự thân.
Thứ tư, phát triển hạ tầng dữ liệu phục vụ quản trị trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cần tăng khả năng kết nối và khai thác dữ liệu quy hoạch, đất đai, đầu tư, doanh nghiệp và thủ tục hành chính; hạn chế yêu cầu người dân và doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống. Dữ liệu đồng thời cần hỗ trợ theo dõi các dự án bị kéo dài và phục vụ điều phối xử lý điểm nghẽn.
Điểm chung của các ưu tiên trên là chuyển từ “cải cách để nâng chỉ số” sang “cải cách để giải phóng nguồn lực”. Với một địa phương đã đạt tăng trưởng 2 con số, thách thức của giai đoạn tiếp theo không chỉ là tìm thêm nguồn lực mà còn phải nâng cao tốc độ và hiệu quả chuyển hóa những nguồn lực hiện có thành đầu tư, năng lực sản xuất và năng suất.
Tài liệu tham khảo:
1. Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2005). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. In P. Aghion & S. N. Durlauf (Eds.), Handbook of Economic Growth (Vol. 1A, pp. 385-472). Elsevier. https://doi.org/10.1016/S1574-0684(05)01006-3
2. Bộ Nội vụ (2025). Kết quả Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2024.
3. Ha, V., Andre, J., Kim, A. T., & Nguyen Thi Thu, H. (2024). Total factor productivity and institutional quality in Vietnam: Which institutions matter most? Asia-Pacific Journal of Regional Science, 8, 705-736. https://doi.org/10.1007/s41685-024-00343-9
4. Hall, R. E., & Jones, C. I. (1999). Why do some countries produce so much more output per worker than others? The Quarterly Journal of Economics, 114(1), 83-116. https://doi.org/10.1162/003355399555954
5. Hiep, T. D., Trung, B. H., & Van Chien, L. (2022). Quantifying productivity gains from foreign direct investment: The mediating role of provincial institutional quality. Finance Research Letters, 49, 103174. https://doi.org/10.1016/j.frl.2022.103174
6. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI (2026a). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2025.
7. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI (2026b). Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.
8. Nguyen, B., Mickiewicz, T., & Du, J. (2018). Local governance and business performance in Vietnam: The transaction costs’ perspective. Regional Studies, 52(4), 542-557. https://doi.org/10.1080/00343404.2017.1341625
9. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/CBO9780511808678
10. Thanh, S. D., & Canh, N. P. (2020). Fiscal decentralization and economic growth of Vietnamese provinces: The role of local public governance. Annals of Public and Cooperative Economics, 91(1), 119-149. https://doi.org/10.1111/apce.12255
11. Thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2026). Thông cáo và số liệu tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi năm 2025.
12. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2026). Báo cáo phân tích kết quả Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 của tỉnh Quảng Ngãi.
13. UNDP, CECODES, & RTA (2025). Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2024.
| Ngày nhận bài: 3/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/10/2026; Ngày duyệt đăng: 30/10/2026 |
Các tin khác
Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam
