Tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ điều chỉnh lợi nhuận theo giao dịch thực trên báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Hoàng Hà Anh
Phạm Thị Ngọc Thu
Email: [email protected]
Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Ngoại thương
Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu của 190 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội giai đoạn 2014-2024 để phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến điều chỉnh lợi nhuận theo giao dịch thực. Kết quả cho thấy, Mức độ tập trung quyền sở hữu có tác động thuận chiều đến Giao dịch thực, trong khi đó, Sở hữu tổ chức và Sở hữu của ban giám đốc có tác động ngược chiều. Nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động của Sở hữu nước ngoài đến hành vi này. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm cho việc đề xuất khuyến nghị đối với doanh nghiệp niêm yết, cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, góp phần nâng cao chất lượng thông tin tài chính và hỗ trợ quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ khoá: Cấu trúc sở hữu, điều chỉnh lợi nhuận, REM, HNX
Abstract
This study employs a quantitative approach using data from 190 firms listed on the Hanoi Stock Exchange (HNX) during the period 2014–2024 to examine the impact of ownership structure on real earnings management (REM). The results indicate that ownership concentration has a positive effect on REM practices, whereas institutional ownership and managerial ownership are negatively associated with such activities. However, no statistically significant evidence is found regarding the influence of foreign ownership on real earnings management. The findings provide empirical evidence for developing recommendations for listed companies, regulatory authorities, and investors, thereby contributing to improved financial reporting quality and supporting the upgrading of Viet Nam’s stock market.
Keywords: Ownership structure, earnings management, real earnings management (REM), HNX
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và sự phát triển của thị trường vốn, chất lượng thông tin tài chính ngày càng quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư và các bên liên quan. Tuy nhiên, ban giám đốc có xu hướng chuyển từ điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) qua kế toán dồn tích (AEM) sang ĐCLN theo giao dịch thực (REM) bằng cách tác động đến các quyết định hoạt động như: chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chính sách chiết khấu bán hàng (Roychowdhury, 2006). Được ngụy trang dưới dạng “quyết định kinh doanh”, REM không chỉ làm suy giảm chất lượng thông tin tài chính mà còn có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp.
Cấu trúc sở hữu (bao gồm sở hữu nhà nước, cổ đông lớn, tổ chức, ban giám đốc) là cơ chế quản trị doanh nghiệp quan trọng, có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của bangiám đốc. Theo Lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976), sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát làm gia tăng xung đột lợi ích, dẫn đến hành vi ĐCLN; ngược lại, cấu trúc sở hữu phù hợp có thể hạn chế hành vi này thông qua tăng cường giám sát và đồng bộ lợi ích.
Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán có đặc thù là tính minh bạch chưa cao và chịu sự chi phối đáng kể của sở hữu nhà nước hoặc cổ đông lớn. Điều này có thể khiến tác động của cấu trúc sở hữu đến REM khác biệt so với các thị trường phát triển. Do các nghiên cứu thực nghiệm trong nước còn hạn chế, nghiên cứu này phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến REM tại các doanh nghiệp niêm yết (DNNY) trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng thông tin kế toán.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Theo Healy và Wahlen (1999), ĐCLN xảy ra khi ban giám đốc sử dụng phán đoán trong báo cáo tài chính và/hoặc thay đổi cấu trúc các giao dịch, khiến cho người sử dụng hiểu nhầm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng phụ thuộc vào số liệu báo cáo tài chính. Như vậy, khi ban giám đốc sử dụng phán đoán trong việc lập báo cáo tài chính chính là ĐCLN theo AEM, còn khi thay đổi cấu trúc các giao dịch thì đây chính là hành vi ĐCLN theo giao dịch thực REM.
Hành vi ĐCLN của ban giám đốc và vai trò của cấu trúc sở hữu thường được giải thích bởi Lý thuyết đại diện. Do thông tin bất cân xứng, ban giám đốc có thể thực hiện ĐCLN nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân thay vì lợi ích của cổ đông. Trong bối cảnh này, cấu trúc sở hữu được xem là cơ chế giám sát quan trọng có thể hạn chế hoặc thúc đẩy ĐCLN. Sở hữu tập trung và sự hiện diện của cổ đông lớn, cổ đông tổ chức hoặc cổ đông nước ngoài thường tăng cường giám sát và làm giảm ĐCLN, trong khi sở hữu phân tán có thể làm suy yếu giám sát và tạo điều kiện cho ban giám đốc thao túng lợi nhuận. Ngoài ra, sở hữu của ban giám đốc có thể giúp đồng nhất lợi ích với cổ đông, nhưng khi vượt quá một mức nhất định có thể dẫn đến “cố kết quyền lực”, làm gia tăng ĐCLN.
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Cổ đông thiểu số thường có động lực giám sát ĐCLN hạn chế, trong khi cổ đông lớn hoặc cổ đông kiểm soát có động cơ mạnh hơn trong việc giám sát và gây ảnh hưởng đến ban giám đốc nhằm bảo vệ lợi ích đầu tư (Shleifer và Vishny, 1997). Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mức độ sở hữu tập trung có thể hạn chế REM, như kết quả của Almood và cộng sự (2024) tại các DNNY ở Jordan. Tuy nhiên, tại Việt Nam, Ngô Thị Khánh Linh (2023) chưa tìm thấy bằng chứng thống kê thuyết phục về mối quan hệ này. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H1: Mức độ tập trung quyền sở hữu có tác động đến REM tại các DNNY trên HNX.
Theo Lý thuyết đại diện, các nhà đầu tư tổ chức thường nắm giữ tỷ lệ sở hữu lớn và có xu hướng đầu tư dài hạn, từ đó có động lực mạnh hơn trong việc thu thập thông tin và giám sát hoạt động quản lý. Nhiều nghiên cứu ghi nhận tác động hạn chế của REM đến sở hữu tổ chức (Ngô Thị Khánh Linh, 2023; Al-Duais và cộng sự, 2022). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cổ đông tổ chức có thể làm suy yếu vai trò giám sát do thông đồng với nhà quản lý hoặc tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, qua đó khuyến khích REM. Nghiên cứu của Debnath và cộng sự (2021) cho thấy sở hữu tổ chức làm gia tăng REM. Do đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H2: Sở hữu tổ chức có tác động đến REM tại các DNNY trên HNX.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tác động ngược chiều đến REM (Guo và cộng sự, 2015; Shayan-Nia và cộng sự, 2017; Debnath và cộng sự, 2021; Ngô Thị Khánh Linh, 2023). Kết quả này phù hợp với Lý thuyết đại diện, theo đó nhà đầu tư nước ngoài - với vai trò là cổ đông bên ngoài và độc lập - có động cơ mạnh hơn trong việc giám sát ban giám đốc, qua đó hạn chế hành vi tư lợi và ĐCLN. Bên cạnh đó, kinh nghiệm quản trị, công nghệ và chuẩn mực quản trị quốc tế mà họ mang lại góp phần nâng cao tính minh bạch và chất lượng công bố thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H3: Sở hữu nước ngoài có tác động đến REM tại các DNNY trên HNX.
Theo Lý thuyết đại diện, khi tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc đạt mức tối ưu, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát được thu hẹp, từ đó làm giảm xung đột lợi ích và hạn chế động cơ thao túng lợi nhuận (Meckling và Jensen, 1976). Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm chưa thống nhất. Một số nghiên cứu tại Malaysia và Việt Nam không tìm thấy mối quan hệ giữa sở hữu của ban giám đốc và REM, do tỷ lệ sở hữu còn thấp và chưa đủ tạo động lực thay đổi hành vi (Shayan-Nia và cộng sự, 2017; Al-Duais và cộng sự, 2022; Ngô Thị Khánh Linh, 2023). Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H4: Sở hữu của ban giám đốc có tác động đến REM tại các DNNY trên HNX.
Mô hình nghiên cứu
Để kiểm định các giả thuyết đã đề xuất, mô hình hồi quy tuyến tính bội được thiết lập có dạng như sau:
REMit = α0 + β1COit + β2IOit + β3FOit + β4MOit + β5BIG4it + β6ASSETit + β7LEVit + β8ROAit + εit
Trong đó:
i: đại diện cho doanh nghiệp; t: đại diện cho năm quan sát;
α0: hệ số chặn; β1-8: hệ số tương quan; ε: phần dư.
Các biến độc lập và biến kiểm soát được mô tả cụ thể ở Bảng 1.
Bảng 1: Mô tả các biến trong mô hình
|
Biến nghiên cứu |
Ký hiệu |
Đo lường |
Nguồn tham khảo |
|---|---|---|---|
|
Biến độc lập |
|||
|
Tập trung quyền sở hữu |
CO |
Tổng tỷ lệ cổ phần của cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần trở lên. |
Ngô Thị Khánh Linh (2023), Almood và cộng sự (2024). |
|
Sở hữu tổ chức |
IO |
Tổng tỷ lệ cổ phần thuộc về cổ đông là các tổ chức. |
Debnath và cộng sự (2021), Al-Duais và cộng sự (2022), |
|
Sở hữu nước ngoài |
FO |
Tổng tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi cổ đông nước ngoài. |
Debnath và cộng sự (2021), Ngô Thị Khánh Linh (2023). |
|
Sở hữu của ban giám đốc |
MO |
Tổng tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi ban giám đốc. |
Al-Duais và cộng sự (2022), Ngô Thị Khánh Linh (2023). |
|
Biến kiểm soát |
|||
|
Chất lượng kiểm toán độc lập |
BIG4 |
Biến giả bằng 1 nếu kiểm toán độc lập là Big4 và ngược lại bằng 0. |
Ngô Thị Khánh Linh (2023), Almood và cộng sự (2024). |
|
Quy mô doanh nghiệp |
ASSET |
Ln của tổng tài sản. |
Ngô Thị Khánh Linh (2023), Almood và cộng sự (2024). |
|
Đòn bẩy tài chính |
LEV |
Nợ phải trả/Tổng tài sản. |
Ngô Thị Khánh Linh (2023), Almood và cộng sự (2024). |
|
Hiệu quả kinh doanh |
ROA |
Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản. |
Ngô Thị Khánh Linh (2023), Almood và cộng sự (2024). |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Biến phụ thuộc REM được đo lường thông qua mô hình của Roychowdhury (2006). Các thành phần của REM bao gồm: dòng tiền bất thường từ hoạt động kinh doanh (abOCF), chi phí sản xuất bất thường (abPROD) và chi phí tùy ý bất thường (abEXP). Giá trị bình thường của các khoản OCF, PROD và EXP được ước tính dựa trên doanh thu và mức thay đổi doanh thu thông qua các mô hình hồi quy sau:
OCF/Ai(t-1) = α0 + α1 / Ai(t-1) + β1 x REVit / Ai(t-1) + β2 x Δ REVit /Ai(t-1) + εit (1)
PRODit/Ai(t-1) = α0 + α1/Ai(t-1) + β1 REVit /Ai(t-1) + β2 ΔREVit /Ai(t-1) + β3 ΔREVi(t -1)/Ai(t-1) + εit (2)
EXPit/Ai(t-1) = α0 + α1/ Ai(t-1) + β1 REVi(t -1)/Ai(t-1) + εit (3)
Trong đó, OCFit là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp i tại năm t; PRODit là chi phí sản xuất của doanh nghiệp i trong năm t, được xác định bằng giá vốn hàng bán năm t cộng với mức thay đổi hàng tồn kho giữa năm t và năm t-1; EXPit là chi phí tùy ý, bao gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, phát sinh trong năm t của doanh nghiệp i. Ait-1: đại diện cho tổng tài sản của doanh nghiệp i tại năm t-1; REVit là tổng doanh thu của doanh nghiệp i trong năm t; ΔREVit phản ánh mức chênh lệch doanh thu giữa năm t và năm t-1; trong khi ΔREVi(t−1) thể hiện mức thay đổi doanh thu giữa năm t-1 và năm t-2; α0 là hệ số chặn; α1, β1, β2 và β3 là các tham số ước lượng; εit là sai số ngẫu nhiên của mô hình.
Các biến abOCF, abPROD và abEXP được xác định là phần dư thu được từ các mô hình hồi quy (1), (2) và (3) tương ứng. Mức độ ĐCLN thông qua hoạt động thực (REM) gia tăng khi chi phí sản xuất bất thường tăng lên, đồng thời dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bất thường và chi phí tùy ý bất thường giảm xuống. Do vậy, chỉ số REM được xác định như sau:
REM = abPROD - abOCF - abEXP
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính sau kiểm toán và báo cáo thường niên được công bố công khai của 190 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn 2014-2024. Tổng cỡ mẫu là 2.090 quan sát, đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện cao cho các kiểm định thống kê. Nghiên cứu thực hiện thống kê mô tả, kiểm định các khuyết tật mô hình và phân tích hồi quy bằng phần mềm STATA 15.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả và kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 2: Thống kê mô tả các biến quan sát
|
Biến |
Số quan sát |
Trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
VIF |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
REM |
2.090 |
0,004 |
0,484 |
-9,664 |
2,975 |
|
|
CO |
0,534 |
0,218 |
0 |
0,98 |
2,26 |
|
|
IO |
0,391 |
0,271 |
0 |
0,934 |
2,70 |
|
|
FO |
0,036 |
0,099 |
0 |
0,845 |
1,04 |
|
|
MO |
0,034 |
0,072 |
0 |
0,8 |
1,27 |
|
|
BIG4 |
0,144 |
0,351 |
0 |
1 |
1,22 |
|
|
ASSET |
26,537 |
1,383 |
23,321 |
30,917 |
1,52 |
|
|
LEV |
0,481 |
0,241 |
0,011 |
3,231 |
1,47 |
|
|
ROA |
0,052 |
0,074 |
-0,494 |
0,610 |
1,12 |
Nguồn: Kết quả từ STATA
Kết quả thống kê mô tả về dữ liệu nghiên cứu (Bảng 2) cho thấy, REM có giá trị trung bình là 0,004, phản ánh thực tế rằng các DNNY trên HNX có thực hiện hành vi ĐCLN theo REM mặc dù mức độ tương đối thấp.
Để kiểm định đa cộng tuyến, nghiên cứu sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF). Kết quả cho thấy VIF của tất cả các biến đều < 10, chứng tỏ mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến độc lập.
Phân tích ma trận hệ số tương quan
Bảng 3: Hệ số tương quan
|
|
REM |
CO |
IO |
FO |
MO |
BIG4 |
ASSET |
LEV |
ROA |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
REM |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
CO |
-0,006 |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
IO |
-0,045 |
0,714 |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
FO |
-0,006 |
0,139 |
0,161 |
1 |
|
|
|
|
|
|
MO |
-0,002 |
-0,072 |
-0,361 |
-0,051 |
1 |
|
|
|
|
|
BIG4 |
-0,011 |
0,137 |
0,222 |
0,019 |
-0,027 |
1 |
|
|
|
|
ASSET |
0,021 |
-0,016 |
0,101 |
-0,027 |
-0,043 |
0,372 |
1 |
|
|
|
LEV |
0,087 |
0,046 |
0,078 |
-0,085 |
0,058 |
0,151 |
0,482 |
1 |
|
|
ROA |
-0,214 |
0,047 |
0,063 |
-0,022 |
-0,028 |
-0,042 |
-0,09 |
-0,293 |
1 |
Nguồn: Kết quả từ STATA
Hệ số tương quan đo lường độ lớn của mối quan hệ giữa 2 biến số được biểu thị dưới dạng giá trị giữa +1 và -1, được thể hiện chi tiết tại Bảng 3. Hệ số tương quan nhận giá trị gần 0 là thể hiện mối tương quan tuyến tính thấp, phù hợp để đưa vào mô hình hồi quy đa biến.
Kết quả ước lượng mô hình
Sau khi hồi quy OLS, kiểm định Breusch-Pagan cho thấy mô hình tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi, trong khi kiểm định Wooldridge cho thấy không có tự tương quan. Tiếp theo, mô hình tác động cố định (FE) và tác động ngẫu nhiên (RE) được ước lượng để lựa chọn mô hình phù hợp. Kết quả F-test và kiểm định Hausman đều cho thấy mô hình FE phù hợp hơn OLS và RE. Tuy nhiên, kiểm định Modified Wald chỉ ra rằng mô hình FE vẫn tồn tại phương sai sai số thay đổi, vì vậy phương pháp hồi quy GLS được sử dụng để khắc phục vấn đề này.
Bảng 4: Kết quả OLS, RE, FE, GLS
|
|
OLS |
Fixed effect (FE) |
Random effect (RE) |
GLS |
||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Coef. |
P > |t| |
Coef. |
P > |t| |
Coef. |
P > |t| |
Coef. |
P > |t| |
|
|
CO |
0,152 |
0,032 |
-0,172 |
0,069 |
-0,029 |
0,721 |
0,089 |
0,003 |
|
IO |
-0,169 |
0,007 |
-0,040 |
0,693 |
-0,08 |
0,298 |
-0,145 |
0,000 |
|
FO |
-0,019 |
0,854 |
0,169 |
0,381 |
0,061 |
0,667 |
-0,055 |
0,291 |
|
MO |
-0,269 |
0,092 |
0,184 |
0,306 |
0,008 |
0,959 |
-0,200 |
0,002 |
|
BIG4 |
-0,021 |
0,502 |
-0,014 |
0,774 |
-0,016 |
0,679 |
-0,012 |
0,251 |
|
ASSET |
-0,000 |
0,988 |
0,029 |
0,181 |
0,004 |
0,761 |
0,003 |
0,282 |
|
LEV |
0,073 |
0,158 |
0,115 |
0,145 |
0,107 |
0,095 |
0,022 |
0,305 |
|
ROA |
-1,33 |
0,000 |
-0,880 |
0,000 |
-1,018 |
0,000 |
-1,022 |
0,000 |
|
Hằng số |
0,040 |
0,865 |
-0,687 |
0,232 |
-0,054 |
0,874 |
-0,027 |
0,746 |
|
Số quan sát |
2.090 |
2.090 |
2.090 |
2.090 |
||||
|
R2 hiệu chỉnh |
0,0473 |
|
|
|
||||
|
R2 tổng thể |
|
0,0272 |
0,0449 |
|
||||
|
Prob > F |
0,000 |
0,000 |
0,000 |
|
||||
|
Breusch-Pagan test |
Prob > chi2 = 0,0000 -> Có hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
|||||||
|
F test |
Prob > F = 0,0000 |
|||||||
|
Wooldridge test |
Prob > chi2 = 0,6812 -> Không có hiện tượng tự tương quan |
|||||||
|
Modified Wald test |
Prob > chi2 = 0,0000 -> Có hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
|||||||
|
Hausman test |
Prob > chi2 = 0,0052 -> Chọn mô hình Fixed effect |
|||||||
Nguồn: Kết quả từ STATA
Theo kết quả hồi quy GLS, các giả thuyết H1, H2 và H4 được chấp nhận khi có p-value < 5%. Cụ thể, Mức độ tập trung quyền sở hữu có tác động thuận chiều đến REM, trong khi đó, Sở hữu tổ chức và Sở hữu của ban giám đốc có tác động ngược chiều đến REM tại các DNNY trên HNX.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Nghiên cứu là một đóng góp quan trọng, bổ sung vào số lượng còn rất khiêm tốn các nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ ĐCLN theo REM của các DNNY trên HNX. Thông qua việc phân tích 2.090 quan sát trong giai đoạn 2014-2024, nghiên cứu rút ra một số kết luận cối lõi: (i) Mức độ tập trung quyền sở hữu có tác động thuận chiều đến REM, có nghĩa tập trung sở hữu không còn là cơ chế kỷ luật, mà trở thành nguồn quyền lực để thao túng hành vi của ban giám đốc doanh nghiệp; (ii) Sở hữu tổ chức có tác động ngược chiều đến REM tại các DNNY trên HNX; (iii) Không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa Sở hữu nước ngoài và REM; (iv) Sở hữu của ban giám đốc có tác động ngược chiều đến REM, qua đó ủng hộ giả thuyết hiệu ứng đồng thuận lợi ích.
Khuyến nghị
Từ kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đề xuất cho các bên liên quan như sau:
DNNY cần tăng cường cơ chế quản trị nội bộ để kiểm soát quyền lực của cổ đông kiểm soát, đồng thời thu hút nhà đầu tư tổ chức và thiết kế cơ chế gắn lợi ích của ban giám đốc với hiệu quả hoạt động dài hạn nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính.
Các cơ quan quản lý nhà nước, cần hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ cổ đông thiểu số và tăng cường giám sát đối với các doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu tập trung. Đối với nhà đầu tư, cấu trúc sở hữu nên được xem là tiêu chí quan trọng trong quyết định đầu tư, đặc biệt cần thận trọng với các doanh nghiệp có mức độ tập trung sở hữu cao và ưu tiên những doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu tổ chức và sở hữu của ban giám đốc ở mức hợp lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai
Mặc dù đạt được kết quả nhất định, song nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế. Mẫu nghiên cứu còn tương đối nhỏ với 190 DNNY trên HNX giai đoạn 2014-2024 và chỉ tập trung vào REM mà chưa xem xét đến AEM. Trong tương lai, các nghiên cứu có thể mở rộng phạm vi sang các doanh nghiệp trên HOSE hoặc toàn thị trường chứng khoán Việt Nam, kéo dài thời gian quan sát và xem xét đồng thời cả REM và AEM. Ngoài ra, việc đưa thêm các yếu tố như quản trị công ty hoặc mức độ bảo vệ nhà đầu tư vào mô hình có thể giúp cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về hành vi ĐCLN của doanh nghiệp.
Tài liệu tham khảo:
1. Al-Duais, S. D., Malek, M., Abdul Hamid, M. A., & Almasawa, A. M. (2022). Ownership structure and real earnings management: evidence from an emerging market. Journal of Accounting in Emerging Economies, 12(2), 380-404.
2. Alhmood, M., Shaari, H., Al-Dhamari, R., & Sani, A. U. A. (2024). Does ownership concentration matter for the relationship between CEO characteristics and real earnings management: evidence from Jordan. EuroMed Journal of Business, 19(4), 752-780.
3. Debnath, N. C., Chowdhury, S. P., & Khan, S. (2021). Ownership structure and real earnings management: An empirical study on emerging economy. Corporate Ownership and Control, 18(2), 74-89.
4. Guo, J., Huang, P., Zhang, Y., & Zhou, N. (2015). Foreign ownership and real earnings management: Evidence from Japan. Journal of International Accounting Research, 14(2), 185-213.
5. Healy, P. M., & Wahlen, J. M. (1999). A review of the earnings management literature and its implications for standard setting. Accounting Horizons, 13(4), 365-383.
6. Meckling, W. H., & Jensen, M. C. (1976). Theory of the Firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Springer.
7. Ngô Thị Khánh Linh (2023). Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân.
8. Roychowdhury, S. (2006). Earnings management through real activities manipulation", Journal of Accounting and Economics, 42(3), 335-370.
9. Shayan-Nia, M. et al. (2017). How efficient ownership structure monitors income manipulation? Evidence of real earnings management among Malaysian firms. Research in International Business and Finance, 41(C), 54-66.
10. Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). A survey of corporate governance. Journal of Political Economy, 94(3), 461-488.
| Ngày nhận bài: 7/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/5/2026; Ngày duyệt đăng: 9/6/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay